PDA

View Full Version : Bến Tre-Quảng Ngãi



anmota
07/10/2007, 11:50 PM
11.7.2007
Thanh Thảo
Lão nhà văn Trang Thế Hy - Đêm nghe dừa rụng ngày nhìn chuột rơi


“Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng
về sông ăn cá về đồng ăn cua”


Về nhà văn Trang Thế Hy, Từ điển văn học (bộ mới) viết: “Trang Thế Hy chuyên viết truyện ngắn và ký. Những tập truyện ký đã xuất bản: Nắng đẹp miền quê ngoại (1964), Mưa ấm (1981), Người yêu và mùa thu (1981), Vết thương thứ mười ba (1989), Tiếng khóc và tiếng hát (1993). Tác phẩm mới nhất, có thể coi như một tuyển tập của ông: Nợ nước mắt và những truyện ngắn khác (2001)”. Và Từ điển trích một câu trong một truyện ngắn của Trang Thế Hy để nói về quan niệm nghệ thuật của chính tác giả: “Tôi nghe đó (từ câu chuyện của chị bán thuốc lá) là lời răn dạy rất nghiêm có giá trị thức tỉnh cao của một hiện thực đau buồn nhắc nhở người cầm bút đừng bao giờ đánh mất cái điểm tựa đáng tin cậy của mình là nỗi đau khổ lớn của số đông thầm lặng”.

Sinh năm 1924, Trang Thế Hy đã tham gia trọn vẹn hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Hiện sống tại quê nhà, huyện Châu Thành, thị xã Bến Tre.


<center>*</center>

Có thể nói cả đời Trang Thế Hy thuận theo những con “gió đưa gió đẩy”. Gọi những con gió ấy là số phận cũng được, mà gọi là sự tình cờ vô thường cũng xong! Nghe nói, hồi ở chiến khu miền Đông Nam Bộ, Trang Thế Hy luôn thủ sẵn vài trăm… lưỡi câu để sẵn sàng giăng câu kiếm cá, hay ông có biệt tài bắt… nhái băm chả, câu rắn mối, biến những điều không thể thành có thể, viết chầm chậm những câu văn trong khi chờ mấy gã chuột sa bẫy trong những đêm rừng lạnh. Ngày đó, tôi ở bên binh vận cùng Lưu Kiểng Xuân, một nhà văn đặc Nam Bộ quê Cần Giuộc Long An. Tư Xuân vốn là trung úy lái trực thăng của quân đội Sài Gòn, nhưng là cơ sở cách mạng ở nội thành, là cộng tác viên của nhóm Tin văn, tên một tờ tạp chí văn nghệ thiên tả, có liên hệ với cách mạng. Tư Xuân sau đó đã lên chiến khu, viết truyện và bút ký có nhân vật là lính Sài Gòn, nên được đưa về ban tuyên truyền binh vận. Còn tôi chỉ là anh sinh viên mới tốt nghiệp ở Hà Nội, vào bộ đội chưa lâu, cũng làm tuyên truyền binh vận cho đài phát thanh, rồi đi B2, rồi về ban binh vận, rồi… Chúng tôi chơi với nhau do có chút máu văn chương, và mỗi lần, khi chuyện trò về văn học, bao giờ Tư Xuân cũng léo vào cái tên Trang Thế Hy dưới biệt danh thân mật là “Tư Sâm”: “Tui khoái cha Tư Sâm này, văn chả kỹ mà sâu, lại đúng giọng Nam Bộ!” Dù chưa gặp Trang Thế Hy, cũng chưa có may mắn đọc văn ông - trong rừng mấy thứ văn chương còn hiếm hơn cả chuột hay rắn mối - nhưng tôi tự nhiên có cảm tình với Trang Thế Hy từ đó. Qua Tư Xuân, tôi còn biết Tư Sâm là người có “hoàn cảnh”, có tâm trạng và nhiều lúc rất buồn, cô đơn nữa. Như thế lại giống Tư Xuân và tôi.

Có một lần, Tư Xuân rủ tôi đi sang cứ của ban văn nghệ R chơi, thăm Tư Sâm. Tiếc thay, lần đó khi chúng tôi mất nửa ngày trời băng qua những trảng cỏ voi và rừng dầu đến với Tư Sâm, thì ông lại đi công tác chiến trường, không có ở cứ. Hai chúng tôi được Anh Đức tiếp tại nhà, đãi một bữa cơm có thịt hẳn một con gà, điều quá hiếm ở rừng hồi ấy. Thôi thì ông anh Tư Sâm cũng xá cho, tôi với Tư Xuân chẳng qua cũng “gió đưa gió đẩy về cứ ăn… gà” chứ chúng tôi không cố ý. Hôm đó, trở về qua trảng cỏ voi, và tôi viết được bài thơ “Những dấu chân qua trảng cỏ”. Âu cũng là cái duyên với Trang Thế Hy, dẫu chưa gặp được ông, nhưng nhờ chuyến thăm hụt ông mà lận lưng được bài thơ không đến nỗi nào, vậy là ấm bụng! Cách đây mấy năm, khi gửi tặng tôi tuyển tập truyện ngắn Nợ nước mắt và những truyện ngắn khác, lão nhà văn Trang Thế Hy đề tặng: “Tặng Thanh Thảo, người trở về vùng Tháp Chàm còn để lại ở rừng già phương Nam những ‘dấu chân trên trảng cỏ’”. Một lời đề tặng vừa tình cảm vừa “kỹ”, đúng văn chất Trang Thế Hy.

<table style="float: left; margin-right: 10px; margin-bottom: 5px;" border="0" cellpadding="3" cellspacing="0"> <tbody><tr> <td width="170">http://www.talawas.org/talaDB/pics/vhvn110707.jpg</td> </tr> <tr> <td width="170">Nhà văn Trang Thế Hy</td> </tr> </tbody></table> Hoá ra ở đời vẫn có những tương hợp tình cờ như thế, “gió đưa gió đẩy” chúng tôi qua những cánh rừng miền Đông, những bưng biền Đồng Tháp để cuối cùng, dù người về Bến Tre “đứng như bóng dừa”, kẻ trở lại quê nhà miền Trung nương bóng Tháp Chàm, ăn don và cả ăn đòn, chúng tôi lại gặp nhau… ăn cua. Vâng, ăn cua cốm. Ngay tại thị xã Bến Tre, sát mé sông Hàm Luông hẳn hoi. Tôi, nhà thơ Chim Trắng và nhà giáo dạy văn Nguyễn Tấn Huy từ Sài Gòn về Bến Tre thăm lão trượng Trang Thế Hy. Chim Trắng đã ngót 70 mà tay lái còn “lụa” lắm! Nghe nói ở quê tôi có ông chủ tịch ít tuổi hơn Chim Trắng nhưng mới về hưu, nhớ tiếc một thời vàng son oanh liệt nên “Buổi sáng ông mặc áo đi giày ra đứng ngoài đường”… chờ xe, kết luận theo thơ Trần Vàng Sao thì ông là “một người yêu nước mình”. Đứng chờ xe, dẫu xe không đến, là còn muốn làm việc, là còn “yêu nước mình”, chứ sao! Chim Trắng cười ngất, nói là anh sẵn sàng ra Trung lái xe hầu “một người yêu nước mình” ấy. Anh vốn hâm mộ những người yêu nước. Chúng tôi ăn cua cốm, thứ cua hai da vừa lột chưa lâu, có gạch béo và mềm, hạp với răng cỏ lão nhà văn. Lỗ Tấn có biệt tài là viết nhấn, mỗi câu văn là một con sóng, con sau cao hơn, mạnh hơn con trước. Chekhov thú nhận là mình không thật đam mê trong bất cứ việc gì, cả làm thuốc và viết văn. Tôi nói với Nguyễn Quang Sáng, anh viết về tôi đúng cả, chỉ có cái này là sai: Trang Thế Hy quyết sống chết với văn chương. Không có đâu! Tôi chỉ dám là “người tình thoáng chốc” của văn chương thôi. Tôi không ăn thua đủ về bất cứ cái gì. Đó là cái dở nhất của tôi. Kể cả giải thưởng mà người ta định trao cho ông rồi… thôi? Ừ, cả giải thưởng. Nhưng tôi phải thú nhận là tôi có sốc nhẹ, vì khi nghe thông báo cứ như đã “được rồi”, tôi lỡ dại khoe với mấy người bà con nghèo, là Tư Sâm sắp khá, có món tiền to, sẽ biếu mấy anh em chút đỉnh tiêu chơi. Nào ngờ. Coi như tôi nói dối họ. Không nói dối đâu, anh Tư, nhưng là nói chưa thành sự thật. Quán ăn Trương Ký, lão nhà văn khẽ khàng gắp miếng cá chẽm kho ngót (kho ngọt) có để chanh, chiêu ngụm rượu vang trắng Alsace chánh hiệu mà Chim Trắng mang từ Sài Gòn xuống. Lỗ Tấn nói “nhà văn như con bò ăn cỏ khô rơm khô nhưng phải cho đời sữa tươi”. Tôi đế: cá chẽm với vang Pháp cũng là cỏ khô sao anh Tư? Lão nhà văn cười mỉm mỉm. Ở đời, như Gorki phân loại, thì có hai kiểu chết: một là cháy bùng lên, hai là mục rã. Tôi thuộc loại thứ hai. Nhưng cố gắng làm sao mục rã coi cho được. Kể cả bùng cháy, cũng đừng bùng cháy khó coi, phải hôn anh Tư? Lại cười mỉm mỉm. Cua cốm này ăn đậm, cua cũng phải tới kỳ, ăn mới ngon, nữa là văn chương.

Trang Thế Hy đeo bên thắt lưng một điện thoại loại xịn nhất, dường như có kết nối toàn cầu, màu bạc sáng loáng. Thỉnh thoảng ông lại móc điện thoại, mở nắp, chiêu một ngụm. Một ngụm thông tin toàn cầu? Rượu này tôi đặt riêng, nấu bằng nếp, uống thử coi, ngon hơn rượu Tây đó! Chúng tôi cứ trò chuyện lai rai không đâu vào đâu. Bóng tối len nhẹ vào quán trên những bước chân mèo, và trong ánh chập chờn, mắt ông lão nhà văn lấp láy. Người như thế có khi biết mà không nói, có khi nói nửa câu những gì mình nghiền ngẫm trọn đời. Nửa câu còn lại, để gió sông Hàm Luông giải quyết. Hồi trưa, lúc ngồi với Trang Thế Hy trong vườn dừa nhà ông, tôi để ý vườn dừa nhà bên có những miếng thiếc trơn bề rộng độ 3 tấc bao quanh thân dừa. Ngạc nhiên tôi hỏi, lão nhà văn cho biết, đó là cách ngăn chuột ăn dừa. Chuột dừa ở xứ cù lao này răng sắc và chịu khó lao động. Chúng phải gặm xuyên qua vỏ dừa, xuyên cả gáo dừa mới ăn được cơm dừa. Ăn cơm dừa nhưng không uống nước dừa, mà chỉ uống nước mương. Nên chúng phải trèo lên leo xuống. Những miếng thiếc kia khác nào những “cột mỡ” đối với chúng. Xuống cũng té “bịch”, mà lên cũng té “bịch”. Nhưng tôi không có tiền bao thiếc quanh thân dừa nhà mình, mỗi miếng thiếc tới 30 nghìn đồng lận. Nghĩa là vì nghèo mà ông có tình thử đạo? Tôi chọc. Tôi bây giờ “đêm nghe dừa rụng ngày nhìn chuột rơi”, kể cả dừa và chuột hàng xóm. Những tiếng rơi ấy, nghe buồn lắm. Tôi nhìn dáng ông lão lầm lũi đi con đường đất lầy lội dọc bờ mương về nhà mình, lúc chúng tôi chia tay nhau. Biết đâu au revoir (tạm biệt) chẳng là adieu (vĩnh biệt). Ông nói, giọng ngùi ngùi. Lần đầu tiên sau 24 giờ gặp nhau, tôi nghe một thoáng hẫng như đã từng đọc “những ổ gà không khí” có rất nhiều trong văn ông. Những cú hẫng những ổ gà những khoảng lặng như thế trong văn Trang Thế Hy bao giờ nghe lại đọc lại cũng khiến tôi ngùi ngùi. Ông đã 83 tuổi, cầu Rạch Miễu làm chưa xong, còn đoạn đường vô nhà ông vẫn sình lầy. Bao giờ? Vâng, bao giờ chúng tôi gặp lại nhau?

Bến Tre-Quảng Ngãi

© 2007 talawas

anmota
07/12/2007, 06:37 PM
http://search.yahoo.com/search?fr=ytff1-&p=Trang%20Th%E1%BA%BF%20Hy%20-%20%22%20%C4%91i%20ch%E1%BB%97%20kh%C3%A1c%20ch%C6 %A1i%22&ei=UTF-8
<table align="center" border="0" cellpadding="0" cellspacing="2" width="98%"><tbody><tr><td align="left"><table border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" width="100%"><tbody><tr><td>
Nhà văn Trang Thế Hy: Tôi chung thủy nhưng hờ hững...
</td> </tr></tbody> </table> </td> </tr> <tr><td class="main_subtitle">
</td></tr> <tr><td class="sidebar" align="left">Cập nhật ngày 13 tháng 3 năm 2007 lúc 2:51 am (GMT+7) </td></tr> <tr> <td>
<table align="left" border="0" cellpadding="3" cellspacing="0" width="1"> <tbody> <tr> <td align="left">http://www.thotre.com/pic_upload/1173768690%7ETrangTheHy.jpg</td> </tr> </tbody> </table> Năm 1992, đột ngột rời bỏ chốn đông vui ngay giữa trung tâm quận 3, TP.HCM, ông bảo “đi chỗ khác chơi”. Vậy rồi ông đi, tưởng là đi chơi ít lâu rồi lại về. Chẳng dè ông đi lâu thật lâu, đi từ tuổi 66 đi sang tuổi 81 mới lại thấy ông trở về thăm chốn cũ. Ngày đầu tiên, ông đến Củ Chi.

1. Chiếc áo ông mặc rộng rinh, vẫn còn nguyên nếp gấp như thể đã gấp từ lâu lắm. Gầy ốm hơn, sạm đen hơn, nhưng không thấy ông già đi bao nhiêu. Hay là bởi ông vẫn minh mẫn, sắc sảo và hóm hỉnh quá.
“Hơn 40 năm tôi mới trở lại Củ Chi. Tất cả những gì đáng nhớ trong cuộc đời tôi đều xảy ra ở đây. Nhiều tác phẩm của tôi được viết từ đây. Nhân cách của tôi cũng được tinh luyện ở đây, từ những trải nghiệm trong cuộc chiến tranh ở một nơi khốc liệt, dữ dội và con người bị thử thách cũng mỗi ngày...” - nhà văn Trang Thế Hy giải thích về ngày đầu tiên của mình.
Cả mấy lớp hậu sinh (từ tuổi 60 đến tuổi 30) ngồi nghe ông kể chuyện xưa chuyện nay, chuyện đọc văn dùng chữ mà cứ ngỡ mình như tuổi học trò. Đang kể chuyện, bất ngờ ông nhìn sang mấy người viết báo, nói thủng thẳng: “Có người viết nói tôi thông thạo tiếng Pháp. Nói trật. Họ thấy tôi nghe tiếng Pháp thì nghĩ tôi thông thạo, nhưng tôi nghe là để luyện kỹ năng nghe, còn đọc sách là để nắm thêm ngữ pháp. Họ thương mình thì khen tặng mình vậy thôi”. Mấy kẻ hậu sinh chưa hết phân vân nhìn lại mình thì, lại bất ngờ ông bảo, “thơ tình không ai qua được Tagore”.
Ông say sưa đọc những bài thơ của thi hào Ấn Độ do ông dịch, mắt lấp lánh ánh nhìn tinh quái. Nhưng giọng ông nhỏ lắm, phải thật tĩnh lặng mới nghe được tiếng thơ nhỏ nhẹ ấy:
Ở nơi nào mà mọi con đường được vạch sẵn
Tôi đi lạc
Hãy nhìn trời xanh và biển khơi
Đâu có lằn vạch nào
Tôi hỏi trái tim tôi
Có phải máu của mi có huyền năng làm cho đôi mắt nhìn thấy được lối đi ẩn khuất…
<table style="border-collapse: separate;" bordercolordark="#456ae1" bordercolorlight="#4792d9" align="right" border="0" bordercolor="#ecf2fe" cellpadding="4" cellspacing="5" height="100" width="200"> <tbody> <tr> <td bgcolor="#cfe6f9" valign="center"> Ông lặng lẽ sống, lặng lẽ viết và cho ra đời những truyện ngắn đầy bất ngờ đối với khán giả cũng như làng văn cả nước: Quê hương thứ hai của người du kích, Bên miệng hố bom đìa, Chuyện nhỏ trên đường dây... trở thành những món đặc sản của văn chương kháng chiến.
Cũng là chuyện về những người chiến sĩ bình thường đó thôi, nhưng những truyện ngắn của ông vừa lãng mạn vừa thâm trầm. Cứ thế, văn chương của ông phát triển lặng lẽ, sâu thẳm và lắng đọng trầm tích tạo thành sự nghiệp sống với thời ngay từ lúc nào không biết, từ Nắng đẹp miền quê ngoại cho tới Mưa ấm, từ Anh Thơm râu rồng cho đến Tiếng khóc và tiếng hát và điểm ngưng đọng là tập “Nợ nước mắt” và những truyện ngắn khác.
Ông viết không nhiều về số lượng, không viết cho thị hiếu, thời thượng, chỉ viết cho người đọc tự giác nhất và cho chính mình, bất kể qui luật cung cầu của thị trường chữ nghĩa. Trong đời sống thường ngày cũng thế, ông không có cuộc sống nào khác ngoài sống với văn chương và nhân thế, viết và sống đối với ông bao giờ cũng chỉ là một, chỉ có một.
NGUYỄN HỒ
</td></tr></tbody></table>2. * Nhiều người vẫn còn thắc mắc về câu nói “đi chỗ khác chơi” của ông…
- Chùm chữ này tôi có được từ lời khuyên của một nghệ sĩ già, ông bảo, “khi nào con viết hết được rồi thì nên biết đi chỗ khác chơi, đừng có bẹo hình bẹo dạng trong chốn trường văn trận bút, nhất là đừng để cho những người yêu mến mình phải đọc những câu lếu láo của mình...”.
“Chỗ khác” ở đây, với tôi, chỉ là một nơi nào đó, không phải là môi trường văn chương Sài Gòn. Sau này, có người lại diễn giải là tôi muốn đi ở ẩn. Điều đó không đúng, trong thế giới này làm sao tìm được một nơi ở ẩn. Cọp còn không tìm được chỗ ở ẩn trong rừng sâu, cá còn không tìm được chỗ ở ẩn ngoài biển khơi, thì tôi làm sao tìm được chỗ ở ẩn trong cái cõi “lắm người nhiều ma” như cách nói của nhà văn Nguyễn Khắc Trường.
* 15 năm, ông có “chơi” được gì nhiều ở “chỗ khác” ấy không ông?
- Những chỗ khác mà tôi gặp sau khi rời Sài Gòn không nhiều. Xét về mặt trải nghiệm, tôi cũng thu lượm được nhiều chất liệu để làm văn chương nhưng tôi không viết được gì thêm nhiều. Một phần do sức khỏe giảm sút. Mặt khác, bẩm sinh tuy có được tạo hóa nhểu cho vài giọt nhỏ năng khiếu nhưng bản thân tôi không phải là người có ý chí mạnh.
Còn đối với nghề văn, tôi thiếu sự đam mê, nên giai đoạn sau này cũng không viết được gì. Mới gần đây, trong một cuộc trò chuyện, có người khen tôi là người xả thân với văn chương, tôi phải đính chính liền. Tôi bảo, nếu ví văn chương là một người đẹp thì tôi là người tình chung thủy nhưng hờ hững, thiếu đam mê.
* Nhưng, đọc văn ông, người đọc thấy ông là người nghiêm cẩn với nghề...
- Không, tôi thiếu sự đam mê. Nhưng tôi có cố gắng để giữ những gì mình viết luôn chân thật. Cũng có người hỏi , khi ngồi trước trang giấy ông tự dặn dò mình điều gì. Tôi chỉ có một câu trả lời thôi: Những điều mình chưa yêu mến, hoặc chưa kịp yêu mến thì đừng giả bộ yêu mến nó.
* Những cây bút thế hệ sau mình, ông có đọc họ không?
- Có chứ, tôi còn ráng đọc nhiều, không dám lười. Trước đây tôi rất thích truyện ngắn của Phạm Thị Minh Thư. Có một đêm như thế là một trong không nhiều truyện ngắn hay tôi đọc trong đời tôi. Nhưng sau đó thì không thấy gì nữa, tôi buồn ghê lắm, không biết cô ấy có buồn không. Sau này tôi có đọc Nguyễn Ngọc Tư. Tư đã đi được những bước đáng kể lắm rồi. Tôi đang rất hi vọng.
* Rời khỏi một thành phố nơi nhiều người đã biết đến tên tuổi và tầm vóc của nhà văn Trang Thế Hy, để đến một nơi hẻo lánh, nghèo khó, chưa chắc đã có nhiều người đọc văn mình, có khi nào ông băn khoăn hay nuối tiếc vì quyết định của mình?
- Hoàn toàn không. Tôi nhớ tới một câu nói của Lỗ Tấn, “biết rằng có vài ba người đọc mình cũng đủ đem đến cho tôi một niềm vui lớn rồi”. Còn một nhà văn Nga thì nói: “Chỉ cần biết có một người chịu khó đọc mình cũng đủ thấy rằng công lao của mình bỏ ra khi ngồi trước trang giấy đã được đền đáp tốt”. Tôi thích những câu nói đó.
* Vậy thì nhà văn Trang Thế Hy quả thật đã được đền đáp rất tốt. Nhưng mới đây, nhân việc trao Giải thưởng nhà nước, nhà văn Đỗ Kim Cuông, vụ trưởng Vụ Văn nghệ - Ban Tư tưởng-văn hóa trung ương, trả lời phỏng vấn báo chí, có bảo rằng tiếc cho Trang Thế Hy chưa có tên trong đợt này. Cùng với một vài tên tuổi khác, tên ông lại vắng mặt, làm người đọc ông lâu nay cũng tiếc, thấy tiếc cho một giải thưởng. Còn ông?
- Tôi không muốn trả lời câu hỏi này, nhưng không phải không có ý kiến gì cả trước vấn đề này.
* Ông có thể nói về ý kiến của ông được không?
- Tôi cũng không muốn nói lúc này.
3. Nhà văn già lão tỏ ý muốn đứng dậy. Mệt mỏi và rụt rè, ông xua tay, bảo đừng chụp hình nữa, “không nên để người đọc nhìn thấy vẻ ốm yếu của mình”. Sức nặng của thời gian như vừa đổ ập lên đôi vai ông mảnh khảnh. Chắc ông ngại tuổi già làm thất vọng bạn đọc của mình - những người đọc đã trót nặng lòng với cái ngạo nghễ và u buồn, vừa lịch lãm, uyên thâm, lại vừa nồng nàn dân dã trong những truyện ngắn Trang Thế Hy.
Người hiền của văn chương Nam bộ, nhà văn Nguyên Ngọc đã gọi ông như thế.
Người hiền ấy độc đáo và quí hiếm, ông chẳng muốn bàn luận nữa về chuyện được mất hơn thua. Nhưng những ai đã đọc ông, biết ông thì áy náy lắm. Sẽ còn có rất nhiều lý do về sự vắng mặt của người này người khác, nhưng một giải thưởng xứng đáng phải tìm được những người xứng đáng để trao gửi. Đó không chỉ là quyền lợi của người được nhận mà còn là quyền lợi của chính giải thưởng...
Trang Thế Hy lững thững bước đi. Bất ngờ ông quay lại, giọng rất nhỏ:“Tôi chợt nhớ tới cách nói của một nhà văn Pháp. Người ta thường nói chậm như rùa, chậm như ốc sên, còn ông ấy, ông Anatole France ấy lại nói “chậm như công lý”. Rồi ông cười hóm hỉnh, lại đi lững thững. Ông đi về nhà mình, căn nhà cũ liêu xiêu ở xã Hữu Định, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre...

Theo Tuổi Trẻ


</td></tr></tbody></table>
AMT