PDA

View Full Version : Học thuyết của Lão Tử



tranphong
08/11/2007, 05:54 AM
Học thuyết của Lão Tử
Mộng Bình Sơn

Theo Sử Ký thì Lão Tử quê ở huyện Khổ, nước Sở, họ Lý tên Nhi tự là Bá Dương, húy là Đam làm chức thủ-tàng thất cho nhà Châu.
_Sách của Lão Tử quyển Đạo Đức Kinh, có lẽ viết ra lúc Khổng Tử còn sống. Sách của Trang Tử có thuật lại việc hỏi lễ của Khổng Tử và trong sách Lễ Ký ở thiên Trang Tử. Sách Sử Ký của Tư Mã Thiên cũng đều có bàn qua việc gặp gỡ của hai nhà.
Cùng trong nhiều sách viết ra trước hoặc sau ngày chết của Khổng Tử như sách Lễ Ký, Trang Tử, Lã Thị Xuân Thu, Chiến Quốc Sách, Hàn Phi Tử, Hàn Phi Tử Ngoại Truyện, Hoài Nam Tử, Sử Ký...trong sách Đạo Đức Kinh (cả thảy gồm trên 1745 lời). Và như vậy, ta có thể cho rằng quyển Đạo Đức Kinh viết ra vào khoảng cuối thế kỷ thứ V, trước Công-nguyên.



Học thuyết của Lão Tử đặt căn bản vào một chữ Đạo, một danh từ cưỡng dụng để ám chỉ cái nguyên lý Tuyệt đối không sinh, không diệt, không tăng , không giảm và có từ thuở chưa khai thiên lập địa.
Đạo là một nguyên lý huyền diệu siêu hình, bất khả tư nghì. Không thể dùng danh từ để chỉ định, vì chỉ định được tức là Đạo đã bị hạn định. Trong Đạo Đức Kinh ngay ở chương đầu đã viết:"Đạo khả Đạo phi thường Đạo. Danh khả danh, phi thường Danh" (Đạo mà nói ra được không còn là Đạo thường nữa. Danh mà gọi ra được, không còn là Danh thường nữa). Bởi vậy, ông mới nói:"Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri" (biết thì không nói, nói là không biết). Ông quan niệm trong giới sắc tướng tất cả đều vô-thường, chuyển biến cồn cồn như thác nước, không thể dừng. Sự vật mau hoặc chậm đều biến chuyển không ngừng, như bóng câu qua cửa sổ, như ánh chớp ngang trời rồi tối mịt...Bởi vậy,Lão Tử chống lại thuyêt "chánh danh" của Khổng Tử và đề xướng thuyết "vô danh". Không có một danh từ nào, không có một ý tưởng nào, không có một phán đoán nào có thể gọi là bất di bất dịch mà tất cả đều là tạm bợ thôi.

Bàn về luật Thường:
Đạo: tức là lẽ thường, và đồng nghĩa với lẽ thường là bất biến. Là luật vận hành của trời đất luôn luôn có mặt trong mọi biến hóacủa vũ trụ. Theo Lão Tử thì Đạo xử thế trong đời phải biết căn cứ vào cái "lẽ thường" ấy, tức là dùng Đạo mà đối phó với muôn việc xảy đến trong đời (dĩ bất biến, ứng vạn biến). Trong các quy luật chính chi phối tất cả mọi sự việc trên đời thì luật thường có lẽ là luật căn bản trong học thuyết của Lão Tử :Luật Phản Phục.

Phản Phục là gì ?
Là sự vật biến chuyển theo một phương hướng nào đó khi tới mức cùng tột không thể tiến triển được nữa thì biến, nhưng biến bằng cách trở lại theo chiều hướng ngược lại của nó, và cứ như thế mãi không thôi (giống như quả lắc). Ông nói: "Đạo lớn là đi, đi là đi xa, đi xa là quay trở lại" (Đạo viết thệ, thệ viết viễn, viễn viết phản) Vật gì mà phát triển đến cực độ thì phải quay đầu trở lại (vật cực tắc phản). Nếu chưa cực thịnh thì chưa suy vong. Mà chưa suy vong thì chưa có thể phục sinh được. Đó là sự sinh hoạt diễn biến của Đạo: "Phản giả Đạo chi động".
_"Đạo thường vô vi, nhi vô bất vi". Đạo thường thì (thấy dường như) không làm gì cả, mà không có cái gì là không làm.
_Đạo "thường" này ai biết thì hành động sẽ hợp với Đạo và không đau khổ nữa. "Tri thường viết minh, bất tri thường vọng tác hung". Hễ biết đạo thường là sáng suốt, không biết rõ Đạo thường mà làm càn, bướng thì sẽ gặp việc chẳng lành).

Sách Đạo Đức Kinh (chương 42) có viết:
_"Đạo sinh Nhất, Nhất sinh Nhị, Nhị sinh Tam, Tam sinh vạn vật...vạn vật phụ âm nhi bảo dương: xung khí dĩ vi hòa".
(Vật nào mà không cõng Âm và bồng Dương, hoặc cõng Dương mà bồng Âm. Nhân chổ xung nhau mà hòa nhau). Nhất là bản thể của Đạo, Nhị là trở về Âm Dương (tức là hai nguyên lý mâu thuẩn đồng có trong mọi vật) giữa sự xô xát, xung đột của hai nguyên lý ấy có một cái gì nắm riềng mối và làm cho chúng không tiêu diệt lẫn nhau, mà phải dung hòa. Đó là nguyên lý thứ ba tức là cái "Dung" của Đạo (nói theo nhà Phật) chổ mà Lão Tử bảo:"xung khí dĩ vi hòa" chính nhờ cái xung đó mà có hòa. Nếu không có sự xung khắc nhau, đùn đẩy nhau của Âm Dương thì không có sự động biến, và sự có mặt của cái thứ ba kia (mà Lão Tử gọi là xung khí dĩ vi hòa) thì không có một sự vật nào thành tựu được, dù là thành tựu tạm thời. Cho nên mới nói: Tam sinh vạn vật.

Có người bảo rằng cái học của Lão Tử thoát thai nơi Kinh Dịch. Lời nói ấy không phải không có lý do chính đáng, là vì sách của Lão Tử có sau Kinh Dịch, mà xét rõ cái lý của Kinh Dịch, nhất là ở quẻ Phục thì lại thấy rõ ràng có nhiều chổ tương đồng.

Theo Kinh Dịch thì Âm và Dương là hai nguyên lý mâu thuẩn, có đặc tính riêng biệt khác hẳn nhau...như: cương nhu, sáng tối, nóng lạnh...Tuy nghịch nhau nhưng nghịch mà để bổ túc cho nhau, chứ không phải triệt tiêu lẫn nhau. Hễ Âm cực thì Dương sinh, Dương cực thì Âm sinh "vật cùng tắc biến, vật cực tắc phản". Nhưng khi biến thì lại trở thành đối đích của nó: lạnh biến ra nóng_nóng biến ra lạnh, tối biến ra sáng_sáng biến ra tối. Trong Âm có ẩn phần Dương, trong Dương có ẩn phần Âm. Trong mỗi nguyên lý Âm Dương đã có sẳn một phần của cái kia tiềm tàng, nó là một tiềm lực đang chờ đợi sự luyện tập mà trưởng thành.
Nghiên cứu tường tận quẻ Phục ở Kinh Dịch, ta có thể nhận thấy rõ lẽ trời:"Phục kỳ kiến thiên địa chi tâm hồi". Rất có thể Lão tử nhân đó mà nghĩ ra học thuyết vô-vi của ông. Lấy chữ "vô" tức là lấy cái "Âm cực" làm căn bản để phát huy và nuôi dưỡng cái khí Dương (tiên thiên): Sự cương cường của hào Dương ở quẻ Chấn là nguồn gốc sinh ra vận vật "vạn vật xuất hổ Chấn"(Quái truyện). Lấy đó mà suy ra, ta thấy dụng ý của Lão Tử toàn dùng phép tiêu cực (vô vi, bất tranh...)là cốt để gây được nguồn "động" cường tráng nhất. Tuy Tịnh mà thật sự là Động, chứ đâu phải vô-vi, bất tranh...là im lìm, bất động, hèn nhát...như một số người xưa nay hiểu lầm.

Quẻ Phục: trên là Khôn dưới là Chấn, gọi là Địa Lôi Phục (nghĩa là sấm trong lòng đất) khí Dương mới sinh ở dưới (hào sơ nhất) tuy còn yếu (Thiếu Dương) nên cần phải yên lặng mà nuôi dưỡng cái khí tiên thiên ấy. Bởi vậy, Lão tử mới chủ trương "thanh tịnh vô vi"là điều kiện cần thiết phục hồi khí Dương để phát huy Dương lực, chứ không phải ẩn dật mà tìm thú thanh nhàn, dật lạc trong sự biếng lười ích kỹ...Trong trời đất, bất cứ một cuộc biến động lớn lao nào đều đi sau một sự cực kỳ yên lặng. Các bậc vĩ nhân trước khi khởi công làm một kỳ công đại sự nào, luôn luôn cũng phải lẩn trốn một thời gian cô tịch. Đó là phép nuôi dưỡng khí Dương.

Tóm lại, biết rõ luật Phản Phục ấy, thì không ai lại mong mỏi đi làm cái việc triệt để cho một cái "Phải" nào để trừ tuyệt cái"Quấy" tương đương với nó, mà phải để ý coi chừng đến cái luật Quân Bình của Đạo, nó sẽ không tha thứ một cái gì thái quá, huống chi là mong mỏi một cách ngây thơ "thủ tiêu" cả phần đối nghịch, của các cặp mâu thuẩn. Muốn cho tát cả trên đời đều "Đẹp" mà không có gì "Xấu" thì Đẹp phải dựa vào đâu mà Đẹp ?Muốn cho tất cả trên đời đều "sáng" cả mà không có "tối" thì sáng sẽ dựa vào đâu mà sáng nữa ! Bởi vậy< bậc trị nước mà không rõ hoặc không đếm xỉa gì đến luật"thường" (Phản Phục) thường phải gặt hái những kết quả tai hại và trái với lòng mong ước của mình "bất tri Thường, vọng tác Hung". Đừng mong đem cái Âm mà trừ tuyệt cái Dương, hoặc đem cái Dương mà trừ tuyệt cái Âm dồn sự vật vào tình trạng "âm cô dương tuyệt", hay "dương cô âm tuyệt" mà gây tai họa cho người. Nếu khinh thường luật Phản Phục tức là luật "thường" là Quân Bình, thì không khéo lại vô tình cố mà đè nến một việc gì lại làm cho viếc ấy trổi dậy mạnh hơn, cố mà làm cho việc gì yếu đi lại vô tình khiến nó hưng thịnh thêm lên.

Phép xử thể của Lão Tử gồm có 3 điểm chính mà ông gọi là Tam Bửu "Ngã hữu tam bửu, tri nhi bảo chi: Nhất viết Từ, Từ cố năng Dũng, Kiệm cố năng quang, bất cảm vị thiên hạ tiên, cố năng thanh khí trường" (Ta có ba vật báu, hằng năm giữ và ôm ấp: một là Từ, hai là Kiệm, ba là không dám đứng trước thiên hạ. Từ mới có Dũng. Kiệm mới có Rộng. Không dám đứng trước thiên hạ thì mới được ngôi cao).

_ Tóm lại, người mà thực hiện được chữ Từ là người chí thiện chí tín. Chí thiện nên không thiên kiến với một ai, dù là người thiện hay bất thiện. Chí tín hay không thành tín với riêng ai, dù là với người thành tín hay không thành tín với mình. Thực hiện chữ Từ ấy phải là người đại dũng. "Kim xá Từ khả Dũng...tử hi" (Nay bỏ Từ để được Dũng là chết vậy) bởi "Cương lương giả, bất đắc kỳ tử".
_Của báu thứ hai của Lão Tử là Kiệm. Kiệm tức là biết ức chế lòng thích xa hoa, sống xa xỉ và thỏa mãn thú tính của nhục thân. Lão Tử thường khuyên ta hãy "khứ thậm, khứ xa, khứ thái". Kiệm tức là biết đủ, sống không bị nô lệ theo dục vọng, không nô lệ ngoại giới, không nô lệ bất cứ một thế lực nào. Trái lại, kẻ sống trong xa hoa sớm muộn gì cũng phải chịu nô lệ dưới mọi hình thức. Người có đức Kiệm là người sống trong đơn giản, không chạy theo cái phụ mà quên cái chánh của đời người. Cho nên, ngưiơì Kiệm mới có thể có lòng rộng rãi, thứ tha, tự do mà làm được đại sự "Kiệm cố năng quảng".
_Của báu thứ ba "không dám đứng trước thiên hạ"
Lão Tử cho rằng: Mỗi người, mỗi vật đều mang nơi mình một cái lý độc nhất vô nhị (tức là Tuyệt đối). Lý ấy đồng với Đạo "Phản giả Đạo chi động"(trở lại với cái nguồn gốc của mình là Đạo).
Nếu muốn ngồi trên dân chúng, hãy tự mình khiêm cung nhún nhặn, và muốn cầm đầu nhân dân phải đứng đằng sau lưng họ. Đây là nguyên tắc xử thế điển hình của Lão tử thường được nhắc lại nhiều lần trong quyển Đạo Đức Kinh."Hậu kỳ thân, nhi thân tiền"(để thân ra sau mà thân được đứng trước)bởi vậy, các bậc hậu vương ngày xưa luôn luôn tự xưng là "quả nhân", "đức con côi", "đầy tớ"..."Quý dĩ tiện vi bổn, cao dĩ hạ vi cơ. Thị dĩ hầu vương tự vị cô giả bất cốc. Thử kỳ dĩ tiện vi bổn gia ? Phi hồ?" Quý lấy tiện làm gốc, cao lấy thấp làm nền, nên chi Hầu vương xứng là "con côi", "ít đức", "không lành"...Đó là lấy tiện làm gốc, không phải vậy sao ?

Mộng Bình Sơn
(Trich "Ảnh hưởng KINH DỊCH trong văn học& cuộc sống". nxbVănHọc 20.6.96)

tranphong
08/11/2007, 05:59 AM
Ngày nay, người ta đã ứng dụng học thuyết này một cách ráo riết, đến mức phổ biến rộng rãi trong đời sống...Những kết quả của nó đã mang lại thành công bất ngờ không mong đợi, và có đôi khi quá lố bịch !