PDA

View Full Version : Vai trò của cộng đồng Mỹ gốc Việt



Khách Viếng Thăm
08/21/2007, 08:12 PM
Xin giới thiệu bài viết của Giáo Sư Lê Xuân Khoa về "Vai trò của cộng đồng Mỹ gốc Việt" trong giai đoạn hiện tại.

Tiến Sĩ Lê Xuân Khoa, Nguyên Phó Viện Trưởng Viện Đại Học Sài Gòn, Nguyên Giáo Sư Triết Đông Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Ông rời VN tháng 4 nam 75, định cư tại Mỹ và giảng dạy tại Đại Học Johns Hopkins, Hoa Kỳ.

[Le Xuan Khoa is an adjunct professor and visiting scholar at the school of Advanced International Studies, Johns Hopkins University, Washington, DC.]



Lê Xuân Khoa
Vai trò của cộng đồng Mỹ gốc Việt

Chuyến công du Hoa Kỳ hồi tháng Sáu vừa qua của Chủ tịch CHXHCNVN Nguyễn Minh Triết đã gây dư luận cực kỳ sôi nổi trong cộng đồng người Việt hải ngoại, đặc biệt là người Việt ở Hoa Kỳ. Gần một tháng đã trôi qua, những phản ứng do cảm xúc ban đầu đang lắng dịu và chúng ta đã có thể bình tâm nhận định về các khía cạnh của chuyến đi và dự liệu những việc thực tế cần phải làm trong thời gian sắp tới.

Bài này chỉ đề cập đến một trong những sự kiện đáng chú ý nhất trong chuyến công du Hoa Kỳ lần đầu tiên của Chủ tịch CHXHCNVN. Đó là việc cả hai chính phủ Việt Nam và Hoa Kỳ chính thức nhìn nhận vai trò quan trọng của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong quan hệ hợp tác lâu dài giữa hai nước. Oái oăm thay, sự nhìn nhận này đã được phát biểu từ hai quan điểm trái ngược nhau, trong khi chính đối tượng đựợc nhìn nhận cũng chưa xác định được vai trò thích hợp của mình, nhất là về thành phần đại diện.

Quyết định của Tổng thống Bush mời bốn nhà tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền vào toà Bạch Ốc để tham khảo cùng ban tham mưu nòng cốt của ông là một hành động đáng ca ngợi, chứng tỏ những nhà làm chính sách muốn lắng nghe tiếng nói của công dân Mỹ gốc Việt về chính sách của Mỹ đối với Việt Nam. Tuy nhiên, quyết định này (gồm cả việc mời hai nhân vật vận động dân chủ từ trong nước) rõ ràng đã chỉ được Bạch Ốc lấy một cách vội vã vào giờ phút chót, trước khi chính thức gửi thư mời Chủ tịch Nhà nước Việt Nam. Cuộc tham khảo bất ngờ bốn nhà lãnh đạo chính trị cộng đồng cũng như lá thư mời Chủ tịch Nguyễn Minh Triết được gửi đi trễ một cách bất thường cho thấy rằng:

Washington đã bắt buộc phải phản ứng quyết liệt trước một loạt hành động đàn áp của Hà Nội đối với những người bất đồng chính kiến và trước sự cố ngoại giao làm mất thể diện nước Mỹ khi nhân viên công an trực tiếp ngăn chặn đại sứ và một dân biểu Mỹ gặp gỡ thân nhân của hai người bị cầm tù ngay trước tư dinh của đại sứ. Tất cả những hành động thô bạo này đã diễn ra sau những cử chỉ biệt đãi liên tiếp của Hoa Kỳ: rút tên Việt Nam ra khỏi danh sách CPC, chấp thuận cho Việt Nam hưởng qui chế PNTR và đồng ý cho Việt Nam gia nhập WTO. Cá nhân Tổng thống Bush cũng bị xúc phạm sau khi ông đã hết lời ca ngợi Việt Nam trong khi tham dự hội nghị APEC ở Hà Nội cuối năm ngoái và trông đợi những biện pháp cởi mở của Nhà nước Việt Nam về tôn giáo và nhân quyền. Việc Tổng thống Bush giảm cấp các nghi thức đón tiếp Chủ tịch Triết, hội kiến với những nhà tranh đấu cho nhân quyền (trong đó có đại diện của hai tổ chức bị nhà cầm quyền trong nước kết án là tổ chức khủng bố) chính là những hành động trả đũa, một thông điệp đe doạ nặng nề gửi cho giới lãnh đạo ở Hà Nội.


Nhiều nhà phân tích chính trị, kể cả nhiều nhân vật ở trong nước, đã giải thích nguyên do của những hành động thô bạo trên đây là do phe bảo thủ thân Trung Quốc muốn duy trì độc tài xã hội chủ nghĩa nhằm phá hoại phe cấp tiến muốn hợp tác với Mỹ về nhiều mặt. Chính quyền Nguyễn Minh Triết/Nguyễn Tấn Dũng được coi là thuộc khuynh hướng cấp tiến, nhưng vẫn phải hành xử theo các nghị quyết của trung tâm quyền lực là Bộ Chính trị và Trung ương Đảng mà nội bộ đang có sự tranh chấp gay go giữa hai phe. Mặc dù có sự bất đồng về những phương cách đổi mới và hội nhập vào cộng đồng thế giới, cả hai phe đều có sự đồng thuận căn bản là bảo vệ quyền lực của Đảng Cộng sản. Bởi vậy, trong khi lãnh đạo Đảng đang lúng túng tìm những bước đi thích hợp, chính quyền Triết/Dũng chỉ có hi vọng thuyết phục đựợc những thành phần do dự bằng những bước cải tổ và cởi mở cần thiết (vì đây là xu thế toàn cầu không thể đảo ngược) mà vẫn đảm bảo được sự tồn tại của Đảng (vì cải tổ sẽ được nhân dân tín nhiệm). Vì lợi ích kinh tế và chiến lược trong khu vực, Hoa Kỳ đã chấp nhận tình trạng này nên sau khi đã trả đũa Hà Nội về ngoại giao, Washington đã chính thức gửi thư mời Chủ tịch Nguyễn Minh Triết. Do nhu cầu phát triển và củng cố vị thế của Việt Nam trong khu vực và cộng đồng thế giới nên dù bị trả đòn khá nặng, Chủ tịch Triết vẫn phải nhẫn nhục thực hiện chuyến công du Hoa Kỳ.


Lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ và cộng đồng người Mỹ gốc Việt

Trở lại vấn đề vai trò của cộng đồng người Mỹ gốc Việt thì thật sự đã từ lâu chính phủ Mỹ, dù là cộng hoà hay dân chủ, không những chỉ muốn nghe ý kiến mà còn trông đợi sự ủng hộ và hợp tác của những người công dân Mỹ gốc Việt trong các quan hệ giữa hai nước. Tháng 5 năm 1990, dưới thời Tổng thống George H. Bush, do sự thu xếp của Trung tâm Tác vụ Đông Nam Á (SEARAC), Hội đồng An ninh Quốc gia đã mời 20 công dân Mỹ gốc Việt vào Bạch Ốc để thăm dò ý kiến về triển vọng thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Tháng 10 năm 2000, một tháng trước chuyến đi Việt Nam của Tổng thống Bill Clinton, Văn phòng Bạch Ốc đã mời mấy chục đại diện các giới trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt tham dự một phiên họp tham khảo với các đại diện cơ quan hành pháp. Trước đó, trong một văn thư gửi cho Tổng thống Clinton kèm theo một bản nhận định về quan hệ Mỹ-Việt và triển vọng thực hiện tự do dân chủ tại Việt Nam, tôi đã nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của người Mỹ gốc Việt và yêu cầu Tổng thống Clinton chuyển thông điệp này tới các nhà lãnh đạo Việt Nam. Trong hầu hết các diễn văn và trả lời phỏng vấn của ông ở Việt Nam, Tổng thống Clinton đã nhiều lần nhắc đến sự thành công và đóng góp quan trọng của người Mỹ gốc Việt cho Hoa Kỳ và triển vọng đóng góp cho sự phát triển của Việt Nam.

Tổng thống George W. Bush không tham khảo ý kiến công dân Mỹ gốc Việt trước chuyến đi Hà Nội tham dự phiên họp APEC năm 2006. Điều đó có thể hiểu được vì đây không phải là cuộc viếng thăm chính thức. Nhưng quả là một sơ sót lớn khi Bạch Ốc đã không làm việc này trong quá trình chuẩn bị đón tiếp Chủ tịch CHXHCNVN. Chỉ đến khi bị Hà Nội làm mất mặt và cần phải trả đũa thì Bạch Ốc mới vội vàng vào giờ chót mời một số nhà tranh đấu cho nhân quyền. Cũng vì vội vàng nên ban tham mưu Bạch Ốc đã quên mời một nhân vật cũng đã có thành tích, để rồi mấy ngày sau đó Phó Tổng thống Dick Cheney phải mời vị này tới gặp riêng. Cũng chỉ vài ngày tiếp theo cuộc tiếp kiến bốn nhân vật trong cộng đồng, Bạch Ốc đã gửi thư chính thức mời Chủ tịch Nhà nước Việt Nam vì không thể để trễ hơn được nữa. Những sự kiện này khiến người ta không khỏi ngờ vực chính quyền George W. Bush đã coi cộng đồng người Mỹ gốc Việt như một quân cờ được sử dụng vào những mục tiêu nhất định, tạm thời và trong những trường hợp cần thiết.

Có một thực tế không thể phủ nhận hay bác bỏ được là lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ. Thực tế lịch sử cũng cho thấy rằng Hoa Kỳ chỉ có đồng minh mà không có bạn, và các nhà lãnh đạo chính quyền chỉ nghe những tiếng nói mà họ nghĩ là phù hợp với lợi ích của quốc gia. Như vậy, câu hỏi cần đặt ra là việc Tổng thống Bush và ban tham mưu của ông gặp gỡ những nhà tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền trước khi mời Chủ tịch Nhà nước Việt Nam có phải là Hoa Kỳ thật tình ủng hộ những lực lượng chống đối chính quyền trong nước hay không? Hay đây chỉ là hành động tự xoa dịu và xoa dịu dư luận chỉ trích từ phía quốc hội và những tổ chức bảo vệ nhân quyền? Cộng đồng người Mỹ gốc Việt không thể quên rằng chỉ vài ba năm sau khi chiến tranh chấm dứt, Hoa Kỳ đã muốn bình thường hoá quan hệ với Việt Nam và chuyển hoá một nước cựu thù thành một đồng minh chiến lược. Do những tính toán sai lầm về đối ngoại, mãi đến gần cuối thập kỷ 1980 Việt Nam mới nhận ra sự cần thiết phải tiếp cận với Hoa Kỳ, nhưng phải mất thêm gần mười năm nữa quan hệ bình thường giữa hai nước mới trở thành hiện thực. Kể từ đây, mặc dù các quan hệ song phương có nhiều lúc thăng trầm, Hoa Kỳ đã gia tăng nỗ lực hợp tác nhiều mặt với Việt Nam mà cao điểm là những quyết định thuận lợi cho Việt Nam vào cuối năm 2006 cùng với cuộc gặp gỡ đầy tình thân hữu giữa Tổng thống Bush và các nhà lãnh đạo Việt Nam trong dịp tham dự hội nghị APEC thứ 14 tại Hà Nội.

Vì lợi ích quốc gia, Hoa Kỳ đã giảm bớt sức ép về dân chủ và nhân quyền đối với Việt Nam với kỳ vọng là chính quyền Hà Nội sẽ có những đáp ứng thuận lợi, cho đến khi xảy ra liên tiếp những vụ đàn áp thô bạo những người bất đồng chính kiến và sự cố ngoại giao đối với đại sứ Marine và dân biểu Sanchez. Dù sao, Chủ tịch Triết vẫn được mời và qua những lời trao đổi chính thức giữa hai vị nguyên thủ quốc gia tại toà Bạch Ốc, đôi bên đã đồng ý là “sẽ gia tăng đối thoại về những vấn đề tôn giáo và nhân quyền và nhất quyết không để cho những điểm dị biệt làm tổn hại cho lợi ích toàn bộ, rộng lớn hơn của hai nước.” Kết quả của chuyến viếng thăm Mỹ quốc của Chủ tịch Triết là những hợp đồng kinh tế thương mại với tư bản Mỹ có trị giá gấp hai lần dự liệu, còn vấn đề tôn giáo và nhân quyền thì theo như lối nói của người Mỹ là “We agree to disagree” (Chúng tôi đồng ý là chúng tôi không đồng ý với nhau).


Lợi ích quốc gia của Việt Nam và khúc ruột ngàn dặm

Từ nhiều năm trước, Nhà nước Việt Nam đã ý thức rõ được “nguồn nội lực” quan trọng về tài chánh và trí tuệ của cộng đồng người Việt Nam tại nước ngoài, do đó đã có nhiều nỗ lực kêu gọi những người tị nạn xoá bỏ hận thù để cùng xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.” Hiển nhiên là cộng đồng người Mỹ gốc Việt được chú ý đến nhiều nhất.

Trước nhu cầu cấp bách về công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, sự đóng góp trí tuệ của người Việt hải ngoại và gia tăng đào tạo nhân tài trong nước là những ưu tiên của chính phủ ngang hàng với nhu cầu phát triển kinh tế. Tuy nhiên, ngoài số tiền viện trợ quan trọng vô điều kiện của cộng đồng hải ngoại gửi về qua thân nhân hay những tổ chức từ thiện phi chính phủ, sự đóng góp chất xám của trí thức và chuyên gia hải ngoại cho đến nay vẫn hết sức nhỏ bé trong phạm vi cá nhân hay những chương trình lẻ tẻ bất thường, không thấm thía gì trước nhu cầu phát triển to lớn của xứ sở. Số người và số lượt người trở về quê hương mỗi ngày một nhiều hơn, nhưng hầu hết chỉ là những chuyến đi ngắn hạn để thăm thân nhân, du lịch hay vì những mục đích khác hơn là chuyển giao trí thức và công nghệ. Trở ngại lớn nhất cho công cuộc đóng góp chất xám không phải là do lòng thù hận của những nạn nhân của chế độ (dù có lý do chính đáng) mà vì hai nguyên do chính:

Thái độ đối xử của Nhà nước đối với cộng đồng người Việt hải ngoại vẫn còn là thái độ tự tôn của kẻ thắng đối với người thua, chưa chịu nhìn nhận lòng yêu nước của những người không cộng sản, chưa chịu sửa chữa những sai lầm trầm trọng trong quá khứ. Những biện pháp dễ dãi cho người Việt hải ngoại khi về nước vẫn còn bị hạn chế và có tính chất ban ơn hơn là đối xử bình đẳng, những lời kêu gọi hoà giải hoà hợp của nhà cầm quyền vẫn chỉ có ý nghĩa chiêu hồi, một chiều. Thái độ đối xử bình đẳng và sự nhìn nhận sai lầm quá khứ không nhất thiết phải được bày tỏ bằng những lời tuyên bố chính thức nhưng nhất định phải được thể hiện bằng những chính sách và hành động cụ thể. Cần phải có những cuộc đối thoại thẳng thắn và xây dựng giữa các nhà làm chính sách và những người Việt hải ngoại có khả năng và thiện chí về những vấn đề phát triển bền vững và tương lai của Việt Nam trong cộng đồng thế giới.


Chế độ độc tài toàn trị của Đảng và chính phủ đối với nhân dân trong nước. Chính sách “đổi mới nhưng không đổi màu” vẫn còn đang được thi hành. Mặc dầu có nhiều tiến bộ về kinh tế, khoảng cách giữa Việt Nam và các con cọp, con rồng Á châu vẫn còn rất xa và chưa chắc gì trong vài chục năm tới Việt Nam đã bắt kịp được Đài Loan, Singapore hay Hàn Quốc. Về chính trị thì cơ chế và chính sách độc tài toàn trị của Đảng Cộng sản đã gây nên “quốc nạn” tham nhũng và bất công xã hội trầm trọng. Mặc dù tình trạng ổn định chính trị vẫn còn được duy trì, tâm trạng bất mãn trong quần chúng đang gia tăng và những mầm mống rối loạn đã xuất hiện. Đã từ lâu, cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã lên tiếng thúc giục cải cách hệ thống chính trị và gần đây lại nêu vấn đề cần phải nới lỏng tự do báo chí và có “những cuộc đối thoại sòng phẳng” với những người bất đồng chính kiến. Cựu Thủ tướng Phan Văn Khải, trong một bài đăng trên tờ Washington Times nhân chuyến đi Mỹ năm 2002, cũng đã khẳng định “Đổi mới kinh tế có thể đã tiến trước một bước, nhưng nó phải được gắn liền với đổi mới chính trị.” Cộng đồng hải ngoại đang chờ xem ê-kíp Triết - Dũng trong những tháng sắp tới liệu có khả năng thực hiện những cải cách cần thiết để thanh lọc bộ máy hành chánh và nới lỏng sự hạn chế những quyền tự do căn bản của người dân hay không. Sự đóng góp chất xám của trí thức và chuyên gia hải ngoại sẽ tuỳ thuộc ở những biện pháp cải cách này.


Vai trò của Cộng đồng người Mỹ gốc Việt

Thượng nghị sĩ Jim Webb mới đây có bày tỏ ý muốn đóng vai trò trung gian trong những mối quan hệ tương lai giữa Việt Nam và cộng đồng người Việt ở Mỹ. Ý kiến này đã được Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm tán thành. Chính phủ Hoa Kỳ chắc chắn cũng sẽ ủng hộ. Nhưng trước khi nói đến sự cần thiết của vai trò trung gian giữa cộng đồng người Mỹ gốc Việt và Việt Nam, cần phải tìm hiểu xem cộng đồng này có thể giữ được vai trò gì giữa hai nước và ai sẽ là đại diện của cộng đồng này.

Nếu ta hình dung một hình tam giác cân với hai cạnh lớn là hai quốc gia Việt Nam và Hoa Kỳ thì sẽ thấy rõ vai trò làm cầu nối của cạnh đáy là cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Trong khung cảnh toàn cầu hoá hay “thế giới phẳng” (mượn từ ngữ của Thomas L. Friedman) ngày nay, không thể có lý do gì để chiến tranh Việt-Mỹ có thể xảy ra một lần nữa. Bởi vậy vai trò cầu nối của cộng đồng người Mỹ gốc Việt, nếu đóng cho đúng, sẽ hết sức quan trọng cho lợi ích của cả hai quốc gia, do sự hiểu biết về ngôn ngữ, văn hoá, kiến thức chuyên môn và lề lối làm việc của cả hai bên. Ngược lại cộng đồng này cũng sẽ được hưởng nhiều lợi ích lâu dài do cả hai quốc gia đem lại.

Tuy nhiên, vì người Mỹ gốc Việt vốn dĩ là những người tị nạn cộng sản, cộng đồng này chỉ có thể đóng được vai trò cầu nối nếu được sự tin cậy của cả hai bên. Đối với chính phủ Mỹ, chưa có gì đảm bảo là cộng đồng người Mỹ gốc Việt tán thành các quan hệ hợp tác với chính quyền độc tài cộng sản. Đối với Đảng và Nhà nước Việt Nam, cộng đồng người Mỹ gốc Việt vẫn bị nghi ngờ như một mối đe doạ về chính trị. Như vậy trong hiện tình, sự tin cậy này chưa thể có được. Muốn đạt được kết quả này, trước hết cần phải có những cuộc đối thoại giữa các đại diện cộng đồng với các đại diện chính phủ Mỹ cũng như với các đại diện chính phủ Việt Nam. Điều này không dễ dàng thực hiện vì trước khi đối thoại với chính phủ Mỹ và Việt Nam các lãnh đạo cộng đồng cũng cần phải đối thoại với nhau để đạt được đồng thuận về quan điểm chính trị và vai trò trung gian giữa hai chính phủ.

Thật ra, sự đồng thuận này đã ngấm ngầm có sẵn trong khuynh hướng chung của đa số thầm lặng trong cộng đồng, gồm cả nhiều nhà tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền. Khuynh hướng này một khi được phát biểu như một sự đồng thuận của các lãnh tụ cộng đồng, sẽ khiến cho các nhà làm chính sách của Hoa kỳ cảm thấy thoải mái hơn và sẵn sàng lắng nghe những ý kiến và đề nghị của các đại diện cộng đồng. Trong khung cảnh toàn cầu hoá ngày nay, vấn đề hợp tác và cạnh tranh hoà bình phải là mục tiêu chung của các quốc gia. Đế quốc cộng sản đã sụp đổ, chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, và bốn thành trì cuối cùng cũng đang phải chuyển hoá để có thể tồn tại. Việt Nam ở vào một tình thế đặc biệt, không những phải nỗ lực theo kịp các quốc gia phát triển mà còn phải đối phó với sự đe doạ ngấm ngầm nhưng thường trực của ông láng giềng khổng lồ phương Bắc. Thực tế là Việt Nam đã được cả thế giới công nhận, và chính quyền độc tài toàn trị cũng đang phải tự chuyển hoá để thích ứng với những điều kiện hợp tác của cộng đồng thế giới. Những lãnh đạo mới có đầu óc tiến bộ đã nắm giữ được những vị trí then chốt trong bộ máy chính quyền và có thể sẽ “tăng tốc” cải cách kể cả những bước đổi mới về chính trị. Đa số trong cộng đồng người Việt hải ngoại đã chấp nhận thực tế ấy, và triển vọng của những cuộc “đối thoại sòng phẳng” như lời đề nghị của cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt rất có thể trở thành hiện thực.

Dù sao, đây là những nỗ lực đòi hỏi sự dũng cảm chính trị của những người có trách nhiệm ở trong và ngoài nước. Sẽ phải mất nhiều thời gian chuẩn bị từ nay cho đến khi khuynh hướng ôn hoà này trở thành công khai, khi cộng đồng người Mỹ gốc Việt có những đại diện uy tín và những cuộc đối thoại thẳng thắn và xây dựng bắt đầu được tiến hành. Trước những đòi hỏi cấp bách của tình thế, khuynh hướng này có thể được phát biểu và thực hiện bởi những đại diện không chính thức của cộng đồng, tức là những trí thức và chuyên gia mọi ngành, qua những công cuộc nghiên cứu và đề nghị thực tể, những chương trình đào tạo, chuyển giao công nghệ và phát triển bền vững cho đất nước. Ngoài ra, các tổ chức phi chính phủ của người Việt hải ngoại cũng có thể mở rộng các hoạt động cải thiện đời sống của dân nghèo tới các vùng sâu và xa hơn nữa.

Thượng nghị sĩ Jim Webb muốn đóng vai trò trung gian cho những cuộc tiếp xúc đối thoại giữa cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ và các đại diện chính quyền ở Việt Nam. Với tư cách của một nhà lập pháp có quá khứ tham chiến ở Việt Nam và hiện kết hôn với một trí thức người Mỹ gốc Việt, Thượng nghị sĩ Webb sẽ có thể giúp ích rất nhiều cho sự phát triển các quan hệ hợp tác giữa hai nước. Ông cũng sẽ có tiếng nói thuyết phục khi tiếp xúc với các nhân vật cộng đồng và lãnh đạo chính quyền trong nước. Thiện chí của ông cần được trân trọng ghi nhận. Tuy nhiên, về những cuộc đối thoại giữa hai bên Việt Nam vì lợi ích tối thượng của đất nước, trách nhiệm trước hết phải là ở người Việt Nam, nhất là giới lãnh đạo trong nước. Cách đây 17 năm, cố Phó Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch đã mở đầu những cuộc đối thoại này tại New York trong dịp tiếp xúc với nhóm đại diện Trung tâm SEARAC về chương trình định cư cựu tù nhân chính trị tại Hoa Kỳ. Tiếc rằng chỉ mấy tháng sau ông Thạch đã phải rời bỏ chức vụ vì áp lực của Trung Quốc và thành phần bảo thủ trong Bộ Chính trị, vì vậy những cuộc đối thoại này đã phải chậm lại cho đến năm 2000 mới được tiếp tục nhưng thiếu sự chỉ đạo của một chính khách có tầm nhìn như Nguyễn Cơ Thạch.

Hi vọng rằng những nhà lãnh đạo mới của Việt Nam sẽ không bỏ lỡ cơ hội làm cho đất nước được cường thịnh và nhân dân được tự do, hạnh phúc. Cũng hi vọng rằng cộng đồng người Mỹ gốc Việt không bỏ lỡ cơ hội phục hồi danh dự và góp phần quan trọng cho lợi ích chung của cả hai nước, đặc biệt cho tương lai rạng rỡ của Việt Nam.

12 tháng Bảy, 2007

© 2007 talawas

Nguồn:

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=10421&rb=0401

tranmoduc