PDA

View Full Version : cái bẫy cuối cùng



Khách Viếng Thăm
11/02/2007, 09:22 AM
Hòa Thượng Quảng Độ: “Xin được hoạt động là rơi vào chiếc bẫy cuối cùng”
Thursday, November 01, 2007










“Cho đến bây giờ, chưa có một văn thư nào chính thức giải tán GHPGVNTN.”







SÀI GÒN – Bản tin của đài phát thanh RFA, phát ngày 1 tháng 11, 2007, do thông tín viên Ỷ Lan thực hiện, cho biết, một Phái đoàn của Uỷ hội Hoa Kỳ về tự do tôn giáo quốc tế đã đến Thanh Minh Thiền Viện, Sài Gòn, thăm và vấn an Đại lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ hôm thứ Sáu, 26 tháng Mười, 2007.


Trong buổi gặp gỡ này, Hòa Thượng Quảng Độ nói rằng đăng ký xin phép để Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) được hoạt động chính là cái bẫy cuối cùng mà chính quyền Việt Nam giăng ra.


Phái đoàn Ủy Hội gồm các vị Michael Cromatie, Chủ tịch Ủy hội Hoa Kỳ, ông David B. Dettoni, Phó Giám đốc Liên hệ Đối ngoại, bà Felice D. Gaer, Ủy ban Do Thái giáo Hoa Kỳ, ông Scott Flipse, Chuyên gia phân tích cao cấp của Ủy hội Hoa Kỳ, ông Tad Stankhe, thành viên Ủy hội Hoa Kỳ, và bà Katia Bennet, Tham tán Chính trị tòa Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn.


Ngay sau cuộc thăm viếng, RFA đã thực hiện một cuộc phỏng vấn với Hòa Thượng Quảng Độ, liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau. Hòa Thượng Quảng Độ nói với RFA rằng, trong buổi tiếp xúc Uỷ hội Hoa Kỳ về tự do tôn giáo quốc tế, nhiều vấn đề được đặt ra nhưng Hòa Thượng “không tiện nói ra hết (với RFA).” Tuy nhiên, Hòa Thượng đã thổ lộ một vấn đề mà ngài cho rằng “quan trọng mà hình như dư luận cũng đã biết qua,” đó là “hình như tân đại sứ Hoa Kỳ, trong một cuộc họp báo, có nói rằng GHPGVNTN nên đăng ký để hoạt động.”


Liên quan đến vấn đề này, Hòa Thượng Quảng Độ phân tích rằng, đăng ký để được hoạt động, dưới danh nghĩa của Mặt Trận Tổ Quốc, có nghĩa là GHPGVNTN là một hiệp hội (như phụ nữ, thanh niên, bô lão chẳng hạn) chứ không phải một Giáo Hội. Đồng thời, việc đăng ký hoạt động là rất nguy hiểm, tương tự như rơi vào bẫy.


Hòa Thượng Quảng Độ nói rằng GHPGVNTN có đầy đủ tư cách pháp lý để hoạt động như một Giáo Hội, vì Giáo Hội này được thành lập từ năm 1964, và chưa hề bị giải tán sau năm 1975.


Sau 1975, Giáo Hội “đã làm tất cả các loại tài liệu tư liệu... Khi ra ngoài chính phủ trung ương Hà Nội, gởi cho phủ thủ tướng lúc đó là ông Phạm Văn Đồng, tất cả đều im lặng, không trả lời nhận hay không nhận.”


Điều này có nghĩa, “cho đến bây giờ, chưa có một văn thư nào chính thức giải tán GHPGVNTN.” Hiểu theo tinh thần này, vì chưa bị giải tán, GHPGVNTN có toàn quyền pháp lý để hoạt động mà không phải đăng ký lại.


Hòa Thượng Quảng Độ nói rằng “đăng ký” hoạt động là “cái bẫy cuối cùng mà họ (chính quyền Việt Nam) muốn lừa chúng tôi.” Ngài nói, nếu đăng ký “mà họ không cho, chưa trả lời thì không được hoạt động, không được sinh hoạt... Bởi vì sinh hoạt như vậy là trái phép... Nhà nước có quyền như thế, đã xin phép nhà nước thì chờ nhà nước cho mới được làm, không cho là không được làm.”


Ngoài ra, Hòa Thượng cũng phân tích sự “lắt léo” của luật Việt Nam. Ngài nói: “Các nước Âu, Mỹ, tưởng rằng Việt Nam có luật tương tự quốc tế. Không thế đâu. Nó rất lắt léo.”


Hòa Thượng minh chứng rằng, luật Việt Nam qui định “công dân có quyền tự do đi lại và cư trú trong nước, có quyền đi ra nước ngoài và trở về nước...” nhưng trên thực tế, khi đi từ Thanh Minh Thiền Viện ra Vũng Tàu, Hòa Thượng phải xin phép tạm vắng (Sài Gòn) và tạm trú (Vũng Tàu). “Đó là luật riêng của họ đấy.”


Về quá trình thành lập GHPGVNTN, Hòa Thượng Quảng Độ cho biết như sau:


Phật giáo được truyền vào Việt Nam vào thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch. Đến thời đại nhà Đinh cuối thế kỷ thứ IX, đầu thế kỷ thứ X, Phật Giáo đã có giáo hội chính thống. Thời đó đã có các vị quốc sư. Đến thời Lý, bắt đầu từ năm 1010, Phật Giáo Việt Nam đã thật sự có nền tảng vững chắc cho đến hôm nay.


Từ khi người Pháp đô hộ Việt Nam năm 1883, cho đến thời Đệ Nhất Cộng Hòa, Phật Giáo bị xem là một hiệp hội chứ không phải giáo hội, theo đạo dụ số 10.


Đến thời Đệ Nhị Cộng Hòa, đạo dụ số 10 bị hủy bỏ. Chính quyền công nhận Phật Giáo không còn là một hiệp hội nữa. Từ đó trở đi thì giáo hội có tư cách là một giáo hội cho đến năm 1964. Sau đó vài năm thì mới thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất này.