PDA

View Full Version : Ai biết chăng Ai?



anmota
01/19/2008, 09:36 PM
Buồn trưa

Trưa nghe văng vẳng tiếng mày ...
Buồn quá Ty ơi !
Mày đang ở cảnh giới nào ?

Tao dời nhà về cạnh bìa rừng đã năm năm
(Chợ búa ầm ĩ, bụi bặm quá !)
Nhà rộng vẫn hoang phế
Thực sự tao đã quên mày.

Tao đem mày về từ lề đường trên tay một cô gái trẻ
Lúc ấy mắt mày chưa biết mở
Tết Canh Tý tao đi tìm buồn ở biển
Mày đau nằm liệt một góc nhà
Tao vuốt đầu mày, đuôi mày vẫy nhẹ
Tao nói : rán nghe Ty !
Nước mắt mày chảy

Mở cửa !
Không nghe tiếng mày sủa mừng
Ngỡ mày xé rào đi đâu đó
(Hai mươi năm rồi mày đã được đi đâu !
Hai mươi năm không gặp con chó cái nào để tỏ tình để làm tình !)

Mùng 1 Tết tao đi - nước mắt mày chảy
Mùng 6 Tết tao về, nước mắt tao chảy !
Tết này tao lại muốn đi ra biển
Trong xanh sẽ nghe rõ tiếng mày hơn
Buồn trưa tao gọi Ty ơi !
===================================

Tết này tao lại muốn đi ra biển
Trong xanh sẽ nghe rõ tiếng mày hơn.
Bài thơ...mà có hai câu này - được NNT trích lại trong một Tạp bút - là của ai?

Google co tôi thấy nguyên bài, nhưng không cho biết tác giả.
Ai biết chăng Ai?
AMT

anmota
01/22/2008, 05:51 PM
Cái tên miền .org.vn/ này, với tôi nó quen thuộc. Vì vậy mỗi khi xa quê hương nhớ mẹ hiền, thì tôi nhớ ra ngay quangngai.gov.vn...
Vào đó để coi tin tức. Để coi chừng thử ở quê mình bây giờ có khác chi hơn là...mấy tháng trước, ba mươi năm trước.
Thường mở ra thì thấy ngay các phòng họp có bông hoa , có hai lá cờ...Có ông nào đó đọc diễn từ, nghị quyết...

Rồi thì 'ban... ' qua mấy chỗ "Tạp chí Cẩm Thành, Sông Trà" ( thiếu Núi Ấn)...để đọc văn đọc thơ...đọc truyện quê nhà...
Buồn cả ngày...
X
X X X
Vừa rồi, đọc bài thơ "Buồn trưa...", không biết tác giả là ai, nên cứ thắc mắc hoài.
Biết đâu, may ra nhà thơ đó...là người từng dọn nhà ra mé rừng, từng nuôi con chó, và từng đi về phía biển buồn...Từng đi khi con chó khóc , từng khóc khi về thấy...con chó...mất tiêu.Nó ở cảnh giới nào. Thằng chả khác gì mình...

NNT, nói đến ông Lê Chi Sắc, ông Lê Chí...trong cái tạp văn nọ.Tôi đoán
già: Ông Lê Chi, Ông Lê Chí, Ông Lê Chi Sắc, nhà thơ miền Nam...
Tôi tìm ra Tên tuổi , hình ảnh nhà thơ Lê Chí ở đây:
http://www.vannghesongcuulong.org.vn/

Đọc suốt nhưng bài thơ, những Tạp bút của ông Lê Chí, tôi phục quá.
http://www.vannghesongcuulong.org.vn/modules.php?name=News&op=viewst&sid=2
Không thấy nói đến bài " Buồn trưa "...Nhưng tôi chắc tác giả bài ấy, không phải của ông Lê Chí thì cũng là của ông Lê Chi Sắc...

Tôi báo cái tin đó cho ông bạn già cố cựu quê mình:
-- Anh vô chỗ này mà coi, để biết...một điều chắc chắn đúng:"............" mà tôi từng than vãn với anh.

Ông bạn tôi bảo cho biết:
-- Mầy...đúng là một người Quảng nghĩa...
-- Ông cứ coi... vannghesongcuulong nó khác nuiansongtra ra sao...Tui người quảng nghĩa...Mược!

anmota
01/22/2008, 07:02 PM
Đi giữa đôi bờ
Nguyễn Ngọc Tư
Có lần, ngồi uống trà ở một ngôi nhà nằm trong con hẻm nhỏ ở thành phố Cần Thơ, tôi nói gièm, cháu viết gì đó về chú nghen, ông Lê Chí lắc đầu nguầy nguậy, thôi Tư ơi, chú thì có gì mà viết. Tôi nản lòng hết biết, một phần vì câu nói của người mà tôi nghĩ là thân thiết, một phần vì sự thật tôi biết quá ít về ông: thơ, quãng đời mà ông có khi tôi chưa sinh ra, thậm chí, tôi sẽ phải ngơ ngác, chú ơi chú sinh năm nào?
Tôi đi lòng vòng ra sân, nhìn mấy con rùa nắp chạy rượt trong hồ nước, bỗng phát hiện mình biết cái người ở kế bên ông Lê Chí nhiều hơn. Người này ngộ lắm, cũng làm thơ, nghe chừng nổi tiếng… tương đương ông Lê Chí. Tên cũng hao hao, Lê Chi Sắc. Bạn cùng thời với ông uống vài ba ly vô nói vui, “thơ Chi Sắc hả, ừa, không thường đâu, trường phái “câu mâu” mà”. Tôi là lớp hậu sinh, đọc thơ ông rải rác in trên báo, thấy đúng là khó kiếm một câu chép lại để… dỗ dành người yêu.

Tôi gặp ông khá nhiều lần, nhưng trong ngăn ký ức tôi ngoài cái tên ông, thì trống trơn, không có hình ảnh cái của áo ông, hay nét mặt, giọng nói, nụ cười… Giữa những lần chào nhau, ông thường hỏi thăm ba tôi có khỏe không, và tự câu hỏi đó đã làm tôi đi tụt lại giữ một khoảng cách, vì ý nghĩ ông Chi Sắc này là bạn của ba mình, một người lớn.
Nhưng bỗng một ngày tôi nhận ra ông cũng có thể là bạn mình. Ông trẻ quá, nhìn cái kiểu ông hớn hở cầm hai giò lan dại mua ở bên đường, tôi nhớ mình hồi nhỏ gì đâu, nhớ nỗi vui má đi chợ về, mua cho mấy cái bánh ú, củ khoai mì. Cái cảm giác thấy được ông khiến tôi ngây ngất.
Và trong chuyến đi Tây Bắc dài thăm thẳm, ngày nào tôi cũng lặng lẽ lượm lặt chi tiết, hình ảnh ông rồi lục đục cất giữ vào cái ngăn mang tên Lê Chi Sắc. Là ông dắt tay cô gái Mường nhảy sạp trong một tối mưa mịt mùng bản Lác, những bước nhảy hồn nhiên, một chút bối rối, một chút ngượng nghịu, một chút thích thú. Tôi nhớ, ở điệu nhảy cuối cùng, ông đã kéo tôi ra khỏi cái góc nhà, và nỗi vui ông đầy tới mức tràn cả sang tôi. Hay cái cách ông giận dỗi vợ chồng chủ quán ăn dọc đường đã cư xử thô lỗ, sau khi lua chén cơm qua quýt, ông bỏ ra xe ngồi một mình. Vẻ mặt rạng rỡ, mắt lấp lánh ánh cười trong một khuya rượu núi Simacai. Một trưa nắng cháy trên những dãy núi héo hắt, ông bước lên xe, trên tay là cây sim dại vừa nhổ bên đường, rễ cây còn ôm theo một chùm đất, ông cười, “về trồng bậy làm kỷ niệm chơi”.
Trên xe, cái góc ông cất đồ không lẫn được với ai, những phong lan, sim dại, tượng gỗ, vật dụng đan bằng mây, tre, cái ếp đơm xôi, tù và sừng trâu. Và đá. Có lần đi giữa đảo đá Jeju, nhà thơ Chim Trắng bỗng dưng nhắc, “trời ơi, phải có thằng cha Lê Chi Sắc ở đây, chả mê phải biết”. Mê đá, chuyến ta bà nào ông nhà thơ này cũng nhặt đá đem về, viết giấy dán lên, Lũng Cú, Hạ Long, Phú Quốc, Côn Sơn… Một bữa sửa nhà giấy rời ra, đá lổn nhổn cục nào như cục nấy, lượt đá ông nhặt sau “tai nạn” đó, ông viết chữ lên luôn cho… chắc.
Trong ngôi nhà quá rộng với một người nhưng quá chật với hàng hàng lớp lớp những mặt nạ gỗ, mặt nạ gốm, tượng nhỏ tượng to, cồng chiêng, trái bầu khô, chuông gió… ông luôn sống trong ký ức của những chuyến đi, của những vùng đất mà mình từng đến, của những người bạn, người thân. Những ký ức xanh tươi rất lâu. Bạn bè cũng nhớ ông lâu, nhớ hoài, vì đi qua một hòn đá lạ, một giò lan, một lọ gốm đất nung, một con… rùa, hay chỉ tiếng những thanh tre khô chạm vào nhau đinh đong… cũng nghĩ, ờ, Lê Chi Sắc thích mấy cái này lắm, hay chuông gió kia nhà Chi Sắc cũng có.
Nên trong lòng bè bạn, ông cũng tươi mới như những ngày đầu. Cái ngăn ký ức của tôi dành cho ông chẳng lâu sau đã chật. Nói về cái sự mê đi… chợ của ông thôi, tôi phải giữ trong mấy ngăn mới đủ. Tôi hình dung, nếu muốn bắt bí ông, hỏi câu “chú đã đi bao nhiêu cái chợ rồi ?”, ông sẽ ngẩn ngơ cười, “hỏi kỳ, sao nhớ hết?!”. Đến một chỗ nào, ông nhà thơ luôn để ý coi cái chợ nằm đâu, và mình có bao nhiêu thời gian để ra… chợ. Chợ với ông không đơn thuần là chỗ mua bán, mà là chỗ chơi. Câu chữ ông dùng chính xác là vầy: “đi chợ chơi”. Có lần, xe mới dừng lại, ông đã xăm xăm đi, đám trẻ tong tả bám theo. Ông lội lòng vòng, quay xuống rồi ngược lên, đám trẻ mỏi chân, hỏi nhau, “Ủa, anh Chi Sắc đi đâu vậy?”. “Đâu có biết, thấy đi kiểu hăng vậy là “có vấn đề” nên lội theo”. Đằng trước ông đã ngoặt vào một cửa hàng, ở đó người ta bán toàn tượng gỗ, mặt nạ gỗ, được chạm khắc bằng các đường nét thô sơ, nhưng sống động, huyền bí như vừa mới lấy ra từ những khu nhà mồ. Đám trẻ nhìn ông chống nạnh vừa thở vừa nghiêng ngó, mắt sướng rỡ, tự hỏi, ông làm sao biết được cái chỗ ngộ vầy trời.
Tôi có lần ghé nhà, đúng lúc ông vừa về sau khi đi một vòng qua Hà Tiên, Rạch Giá. Ông hí hửng khoe mấy con chuột đồng và bó hẹ nước mua ở chợ Vị Thanh, “trời ơi, mười mấy năm mới gặp lại hẹ nước”. Tôi mắc cười, như thể bó hẹ nước xanh nhuốt kia là cô Hường cô Huệ nào đó mà hơn mười năm trước ông từng yêu thương hò hẹn. Nhìn ông, rồi nhìn bó hẹ, tôi tự hỏi ông sẽ làm gì với nó, nấu canh, hay xào, hay ông cứ ngồi ngắm nghía, mà nhớ đồng bãi Cà Mau.
Về xứ lần nào ông cũng đi thẳng về quê, khi trở lại thành phố mới là khoảng thời gian cho bạn bè. Và đi chợ, không phải cái chợ lạ bán những món hàng lạ, mà là cái chợ quê xứ bày bán cá rô cá lóc, rau đồng, bông súng, bông so đũa, rắn rùa, tôm lụi… Quen thuộc, nhưng ông vẫn “đi chợ chơi”, để biết đâu, gặp rắn bông súng hay trái bình bát chín, ông sẽ “mua chơi”. Dường như ký ức về cái thời trẻ vụng của ông được lưu giữ trong những cái chợ như thế này, nên ông đi để nhớ đất xưa, nhà xưa, quê xưa. Còn tôi đi chợ là để mua gì đó cho bữa cơm trưa, nhưng có bữa đi qua cô bé ngồi với rổ năn bộp, tôi nhớ ông. Nhớ cái hình ảnh ông rảo lòng vòng trên những cái lối đi xem xép nước và bùn để đi kiếm chúng.
Bằng cách đó, ông sống trong tôi. Những ký ức về ông đôi khi cánh cửa không giữ được, chúng ào tới, xôn xao. Mấy đứa con gái theo hỏi ông làm sao mà trẻ lâu, bắt chước cái kiểu “ăn uống giản dị”, như lời ông nói. Mỗi sáng uống một cốc mật ong pha loảng, trưa ăn bữa chính, chiều mấy củ khoai luộc hay ít trái chuối xiêm. Mỗi tuần vài ba lượt ăn lá nha đam (gọt vỏ), xay chung với ít mật, ít trái dâu tây. Cũng không đơn giản lắm đâu, nhưng thích trẻ lâu nên bấm bụng làm theo. Rồi một bữa nhận ra, cái tâm hồn đã già từ thuở thiếu nhi của mình, già hoài không trẻ, thì níu kiểu gì cũng không có được vẻ mặt nhẹ nhỏm của ông, hay cái kiểu lè lưỡi, rụt vai cười hồn hậu.
Giữa hai bờ già – trẻ, ông qua lại tỉnh bơ. Mới hồn nhiên đó, bỗng dưng nghe ông cằn nhằn mấy người trong đoàn sao rề rà chậm chạp, tôi thấy ông đã ở bên bờ của ba tôi. Hay có lần ông rầy tôi viết cái entry hơi gay gắt trên blog, tôi buồn quá xách xe về, cảm giác ông không phải bạn-tuổi-ba-mươi thô vụng của mình, ông là người lớn, ông cách tôi một con sông. Buổi tối gặp lại, nghe ông rủ, sáng mai đi kiếm cái giỏ bàng đi… chợ chơi, tôi bỗng chênh chao, ông này đúng là bạn mình mà. Nghĩ kỹ thì ông khó tính, khó nổi bật lên trong những người khó mà tôi quen. Không phải là nhiều hay ít, mà là cái kiểu khác nhau. Cái kiểu của ông Lê Chi Sắc này, tôi ngán, vì đúng lúc cảm nhận của mình bị dẫn dắt vào cái trẻ trung, hồn nhiên, bỗng dưng ông sang bờ quay quắt làm mình đứng lại chơ vơ.
Mà ông nhanh lắm, sông rộng vậy nhưng ông bước qua bờ gọn hơ, bất ngờ. Hoặc là trong ông không hề có một dòng ngăn cách nào. Làm “mất lửa” nhiều người với kiểu câu “thôi nhỏ ơi, chú thì có gì đâu mà viết” nhưng ông lại ấm áp trước gánh hàng rong, người bán vé số, con chim sẻ, người chạy xe lôi. Coi cái cách ông dịu dàng với ký ức, với kỷ niệm, ai cũng nghĩ ông là người cũ, ở bên bờ cũ nhưng ông hiện đại không ngờ. Ông về xứ lần nào cũng có vài ba người bị ông rầy vì không sắm điện thoại di động, không chịu làm quen với máy tính, không vô mạng…Một chị cười ngất, nói chắc ông quảng cáo cho hảng máy tính nào đây. Ông cũng cười xòa, rồi nghiêm giọng, nói vậy chớ cái máy vi tính hay lắm, không tưởng tượng được đâu em ơi. Ông luôn tạo một con đường vòng, cứ nói vài câu là ông quay về ngay cái chủ đề đó. Với tôi, ông nhà thơ đã chớm bảy mươi này, chưa biết chat trong gmail, chưa biết nén file hình ảnh nhỏ lại để gửi kèm thư cho mau… mới là biểu tượng cho… IT. Tiếp nhận muộn màng, tự mày mò, tự khám phá công nghệ mới một cách kiên nhẫn và hào hứng, như thể ông đang tìm một giò lan đẹp, đến một vùng đất đẹp… Buông bó hẹ nước chuột đồng qua một bên, ông ngồi trước máy tính đọc và trả lời mấy cái thư, xử lý tin, bài cho website văn học đồng bằng rồi quay lại với hẹ nước chuột đồng, hình ảnh ấy sao mà ngộ.
Nhưng với ông nhà thơ này, đâu có gì ngộ. Bình thường thôi. Và cũng rất bình thường khi bạn bè một bữa ngồi làm việc trên máy tính bỗng nhớ ông, như đã từng nhớ ông khi gặp bờ rào đá, hoa cỏ.

anmota
01/22/2008, 07:25 PM
Những mùa trăng ướt

Truyện ngắn

Nguyễn Ngọc Tư


Sanh cùng tuổi Nhêm, xuống tóc thọ giới cùng một ngày, lúc loay hoay vận y cà sa, Sanh bất ngờ thò tay vào sờ soạng giữa hai đùi Nhêm rồi cười tí tởn, “Nhỏ xíu. Vậy tui làm anh nghen”.

Nhêm đỏ mặt, gật đầu, vì Sanh khôn ngoan, dữ dằn và già dặn hơn. Những đứa trẻ như Sanh luôn già trước tuổi. Cha hứng nước thốt nốt rơi từ ngọn cây xuống đất gãy cổ, mẹ nó đi cõng hàng lậu thuê qua biên giới, chết đuối giữa dòng nước lũ, chỉ một năm sau. Sanh tựa cửa nhìn những người thân mình bước đi vào sớm mai và cũng trong những buổi sớm mai ứa nắng trên đồng, họ về bằng chiếc cáng với hơi thở đã tắt. Sanh sống với chú. Nhà chú cũng nghèo, thím chia thức ăn cho con mình trước, tới Sanh chỉ còn miếng cơm cháy với chút nước cá kho. Sanh vào chùa để “kiếm ăn”, như lời nó nói, là chọn lựa giữa đói triền miên và đói nửa buổi.

Tui còn cha mẹ đâu mà tu báo hiếu, Sanh nói thẳng. Vào những buổi chiều đói rã rời, long đầu óc, đã có lúc Nhêm rủ Sanh lén lút ăn cái gì đó, Sanh lắc đầu, tui phải giữ giới để trả ơn buổi sáng và trưa Phật cho tui ăn no. Và Sanh để mặc Nhêm lăn lộn với cái bụng trống rỗng cồn cào, nó ngáy pho pho. Đói cũng là một thói quen của Sanh, từ tuổi lên mười.

Nhêm thì nghĩ mình không bao giờ có thể quen được những cơn đói buổi chiều tà. Khi nhà hàng bên kia đường bắt đầu có khách. Gió từ mé biển cứ đòng đưa mùi thức ăn trên đầu, làm nó nghẹt thở như thể đó là dây thòng lọng. Cái vòng rào loang lổ nước sơn và cánh cổng rơi vài mảng gạch không thể chặn lại mùi dầu cháy tỏi trong chảo. Sanh nhìn Nhêm suốt buổi tối cứ thều thào nhỏ dãi, nó giễu cợt, “Nhắm có ở chùa được tới năm sau không, ê?”.

Nhưng Nhêm đã ở chùa ba năm. Thời gian đủ để nó bình tâm, thôi quay quắt trước những ngọn gió trần tục ban chiều. Ba năm cũng đủ cho những nhà hàng, quán ăn phục vụ khách du lịch kịp quây kín, như bóp nghẹt ngôi chùa. Hành trình khất thực có chút thay đổi, Sanh và Nhêm không còn đi trên lộ nhựa, dọc bờ cát ven biển, dưới những hàng cây thốt nốt im lìm. Phum sóc đã dạt xa lên đồng, co cụm gần chân núi Cóc. Và những thức ăn mà bà con dâng thường không có những mùi thơm của những quán xá bên đường.

Nên thỉnh thoảng, khất thực xong, bọn Sanh vòng về con đường bắt đầu ướp nắng để thưởng thức sự vương vất của những món ăn xa lạ. Các cô gái với những bộ trang phục buông tuồng trễ nải tụm lại ngó hai nhà sư trẻ cười cợt, “Lục ơi, tu chi cho khổ vậy, về nhà ôm em sướng hơn nhiều…”. Nhêm cúi đầu bước đi, chân líu ríu. Sanh ung dung đằng sau, mắt lại đầy giễu cợt, “Thấy chịu không nổi thì về nhà đi, Nhêm”.

Lần về thăm nhà gần nhất, mẹ Nhêm cũng nói vậy, sau khi chắp tay vái nó ngoài sân, “sư về nhà luôn đi, ba năm rồi còn gì…”. Giọng bà mỏng, ríu dần lại khi cha nó bước ra, cha muốn nó tu đạt tới tỳ kheo, muốn nó được cả sóc kính nể và trọng vọng, điều mà cho dù có nhiều đất ruộng và trâu, cha Nhêm cũng không có được. Ông đành đặt hy vọng vào Nhêm.

- Na Thi vẫn chưa về đâu - Cha nói.

Cha biết cách để Nhêm tự nguyện ở lại chùa, học kinh kệ. Na Thi chưa về. Cô nhận lời phụ bán quần áo cho thím A Phò khi Nhêm vào chùa được hơn năm. Trưa cuối gặp nhau bên hè, đá chân vào đám cỏ mần trầu, cô bần thần vuốt mãi mớ tóc xoăn tít, Nhêm đi rồi em ở lại đây buồn lắm, ngang qua nhà Nhêm em nhớ quá. Em đi vài năm em về, lúc đó Nhêm cũng hoàn tục rồi. Ngoéo tay, ngón tay cũng run, nóng bỏng. Rồi Nhêm lại khăn gói tới chùa xa, không gặp Na Thi lần nào, về nhà thấy mẹ Na Thi buông nón chắp tay lạy đằng xa, bà nói ngay, Na Thi có về, nó hỏi thăm sư có khỏe.

Trong lúc Nhêm trông Na Thi về thì biết đâu Na Thi cũng chờ đợi nó, ý nghĩ đó làm những câu kinh Phạn cứ vuột khỏi môi, trôi tuột. Lục Cả hơi buồn. Vài đệ tử nhập thế, chùa chỉ còn Lục Cả, Nhêm và Sanh. Hai sa di cứ loay hoay với những bài tụng sơ đẳng nhất, nên Lục Cả cô đơn với những kiến thức Phật pháp sâu sắc, bao la, cô đơn với những pho kinh thư đồ sộ. Ông hầu như không kỳ vọng vào đám trẻ, một vô thần, níu Phật để trốn chạy cái đói, cái ghẻ lạnh, một ngóng mãi phía cổng chùa.

Khuôn viên chùa rộng mênh mông, người ít, mà lá cây rụng vô kể, cỏ cũng nhiều. Suốt ba tháng nhập hạ, sư trẻ dường như chỉ tụng niệm và làm cỏ. Cỏ lớn nhanh, mãnh liệt đến nỗi họ phạt cỏ đằng trước thì sau lưng đã lún phún mầm xanh. Tưởng tượng, chỉ một tháng họ không cầm dao làm lụng, cỏ sẽ vươn tận thềm chính điện, lút đầu người. Vậy nên lúc cắm đầu thổi lửa vào đống cỏ khô, Sanh nhằn, sao mà tui ghét trời mưa quá.

Nhêm cũng ghét. Giữa lễ nhập hạ cho tới xuất hạ, chỉ là những cơn mưa dài, lướt thướt. Hai đứa quẩn quanh trong chùa, cắm mặt vô những trang kinh, mắc chán. Sanh học lóm được nghề làm tranh kiếng, nên xin Lục Cả ít tiền mua vật liệu, mày mò làm. Những lúc ấy Nhêm thật sự cô đơn, Sanh bỏ quên Nhêm để cắm mặt vẽ bức chân dung cha mẹ nó. Vài lần Sanh đã ném cọ đi khi phác thảo hình ảnh cha mẹ mình ngồi thảnh thơi, an nhàn trong căn nhà gạch khang trang. Nó dằn vặt vì đấy không phải là chân dung của những người thân, không giống họ chút nào, cả căn nhà, cả nếp áo phẳng phiu, tươi rói. Rốt cuộc bức tranh thờ dang dở, vì trong ký ức Sanh đã không còn lưu giữ những khuôn mặt cũ. Điều đó làm nó tuyệt vọng. Sanh hay rủ Nhêm xách cuốc chim đi làm cỏ ở gần rào sau, từ đó nhìn lên cánh đồng dưới chân núi là những phum nhỏ nằm quẩn dưới chòm cây xanh rì, khói bếp len qua những tầng lá thành những sợi lam mỏng vờn, phai mãi vào nền trời. Thốt nốt dọc theo các con đường nhỏ ngoằn ngoèo vẽ vào cánh đồng những nét cô đơn, vết mực đậm và đầy đặn ở phía này và bắt đầu mỏng vút cuối tầm nhìn. Dưới trăng chiều, vài con trâu quay tít cái đuôi xua những con ruồi xanh lè, to bằng đầu ngón tay cứ chực xông vào. Thấy Sanh níu vào rào, Nhêm hỏi, “Nhớ nhà hả ?”. Dứt mắt khỏi sóc Tà Cóc đang im lìm dưới làn mưa mỏng, quay vào sala, giọng Sanh quạu quọ, “Có nhà đâu mà nhớ”.

Nhêm sợ Sanh, nó có thể rất hiền lành, tử tế, nhưng Nhêm nói điều gì đó nhắc nhớ tuổi thơ buồn bã, và Sanh nổi khùng lên. Nhưng làm sao Nhêm biết chuyện nào buồn, chuyện nào không ? Bởi vậy, hai đứa hay hục hặc nhau vì những chuyện không đâu, thí dụ Nhêm buồn tình lấy hơpâm gõ bài “chim sáo”, hai gáo dừa mới lộp cộp đã bị Sanh đá văng lông lốc, ai mà biết lúc người ta khiêng cha Sanh từ ngoài đồng về, ông chủ lò nấu đường vẫn dửng dưng ngồi gõ hơpâm cho hết bài, rồi mới thủng thẳng phủi đít đứng lên, “Chết rồi hả ? Thôi, tiền còn nợ tao coi như xóa bỏ”. Những chiều Sanh ngồi trước sala, lặng lẽ nhìn bồ đề rụng lá, Lục Cả thở dài, có lẽ ông thất vọng vì nhà chùa không làm lành được những khối tổn thương trong lòng Sanh, cũng như bất lực trước một xã hội tổn thương, những giá trị luân lý đục ngầu bên ngoài cánh cổng.

Ở đó cũng có đám người đang ghét cay ghét đắng mưa rơi. Khách du lịch thưa thớt. Gió biển ướt rượt thổi qua dãy nhà hàng, khách sạn vắng người, những cô gái không lượn lờ ngoài sân nữa mà co cụm trong nhà, hết giũa móng tay tới sơn móng chân, hết tỉa chân mày đến se lông mặt. Rồi sự lười nhác trễ nãi biến mất, họ tản đi khi người đàn bà cho vay tiền góp, lăn cái thân năng chịch vì mang cả ký lô son phấn trên mặt đứng trước nhà hàng tru tréo gọi Lan Huệ, Sầu, Ai ơi. Mấy chục chiếc vòng chất gần đến cổ tay kêu leng keng mỗi khi bà chuyển động.

Nhờ âm thanh đó, cùng với dáng người thấp lé đé các con nợ luôn phát hiện bà từ xa, và họ biến mất. Cô cũng tạt vào chùa vào một bữa âm thanh những chiếc vòng xủng xẻng đã quá gần. Te tái vào ngồi ở thềm sala, cô dáo dác nói, cho ngồi chút chơi nghen. Nhưng mặt cô không có vẻ là chơi, căng ra khi bóng người qua cổng. Sanh mỉa mai, có trốn nợ thì trốn chỗ khác, ở đây là chỗ tu hành. Cô độp ngay, giọng cố kìm lại nên nhỏ mà rắn đanh.

- Ủa, đây là chỗ từ bi mà, mắc gì tôi không được vô. Ừ, trốn nợ đó. Hay là Lục…cho tiền đi, trả nợ xong tôi không ghé đây nữa.

Nói rồi cô phủi đít dợm đứng lên, nhưng mớ âm thanh leng keng vẫn còn quanh quẩn ngoài kia. Cô trùng trình ngó Sanh, “chùa này đâu phải của Lục, mắc gì tôi sợ”. Cô ngồi lại, điệu bộ lỳ ra, vẻ thách thức.

Những ngày sau, cô lại tới. Cô nhận ra một chỗ nương náu an toàn, nơi mà mọi lời mắng chửi rủa sả không vọng đến, hoặc hoặc vói theo một cách yếu ớt. Chùa không hẳn là thiêng liêng với họ nhưng là sức mạnh tinh thần của tộc người. Ai cũng biết điều đó. Họ đã chứng kiến những cái sroc nghèo xơ xác, những ngôi nhà cột cặm trống trước trống sau nhưng ngôi chùa thì luôn luôn rực rỡ. Đó là lý do Nhêm ở đây, cha muốn nó là một con người rực rỡ. Đó là lý do Sanh ở đây, nó không bao giờ đói dưới sự rực rỡ này. Đó là lý do cô ở đây, cộng đồng người trong sroc kia sẵn sàng thấm máu vào áo mình để giữ cái rực rỡ tồn tại trong thế giới đức tin của họ.

Cũng không tìm được lý do khác cho việc cô gái lui tới chùa. Cô chẳng hề yêu thích ai ở đây, cái cách nói chuyện khinh khỉnh, sấn sổ, ngạo ngược của cô nói lên điều đó. Nhưng Lục Cả luôn bất an, ông luôn sai sư trẻ làm lụng mỗi khi cô nhẩn nha lại. Và ba tháng hạ của năm mười bảy tuổi, họ đã làm rất nhiều việc, lợp lại mái sala, sơn một số chi tiết trong chính điện, cuốc đất mảnh vườn sau để gieo cải, quét lá khuôn viên chùa. Cô luôn lẻo đẻo đi theo, hỏi những câu ngớ ngẩn, thí dụ, sao không đốn bỏ cây bồ đề luôn để khỏi quét lá cho mắc công? Sao bức tranh này không sơn màu xanh mà là màu vàng? Sao nền chính điện cao dữ vậy? Lục Cả nhiều lúc cũng buồn cười, ông nói, tụi tôi làm không mệt bằng nghe cô hỏi. Cô rụt cổ cười. Nhêm cảm giác, nếu bóc mảng son phấn ra, mặt cô sẽ lành và trong như em gái nó.

Chắc cô cũng bằng tuổi ấy, mười sáu, hoặc nhỏ hơn. Sanh hỏi tuổi, cô vặt vẹo, “Lục rảnh quá thì đi tụng kinh, xoi mói chuyện của tôi làm gì?”. Sanh xúi Nhêm hỏi thăm tên, quê quán cô gái này, Sanh nói “con nhỏ đó ghét sư, tại hôm trước sư đuổi…”.

Nhưng Nhêm cũng không khá hơn, hỏi, cô chỉ vào khoảng sân, châm chọc :

- Cỏ.

Người nhà chùa xem đó là tên của cô. Cỏ bằng tuổi Na Thi, mười bảy. Đương nhiên là từ nơi khác đến. Lục Cả nói, những đứa con gái làm nghề này chỉ đổi chỗ cho nhau. Con gái ở đây thì bôn ba xứ người mua vui cho thiên hạ bằng đuôi mắt cuối mày, và ngược lại. Chúng làm nên một cuộc nổi trôi buồn bã. Nhêm bỗng liên tưởng tới Na Thi mỗi khi nhìn Cỏ cố che mảng da thịt bằng cách kéo cái áo ngắn ngủn nằm vắt vẻo nửa lưng trên.

Nỗi nhớ Na Thi đã lạt đi rất nhiều, Nhêm áy náy lắm. Sau lễ xuất hạ, trời vẫn còn nhập nhòa mưa. Nhưng bọn Nhêm không bỏ bất cứ buổi khất thực nào, dù là đi dưới mưa. Không hẳn vì những thức ăn cúng dường hai sư có được sau một buổi vòng tay ôm bát, mà vì nỗi nhớ những nẻo đường, hàng cây, bờ đá… Ba tháng quẩn chân vườn chùa, bỗng dưng thấy mọi thứ đều thay đổi, lạ lẫm, và trò đùa của các cô tiếp viên rảnh rổi ngày càng tai quái hơn, có lần qua quán “Duyên Quê”, một cô môi đỏ trút vào bát họ ít thức ăn. Quay lưng đi một quãng, Cỏ lao theo giằng lấy bát, hắt xuống đất. Mớ thịt đã bị băm nát nằm vãi trên sân. Cỏ hằn học hỏi :

- Thịt rắn đó. Muốn phá giới sao?

Các cô khác đấm vào lưng nhau cười ngặt nghẽo. Sanh ngó sững cô, cái nhìn ánh lên chút dịu dàng, hàm ơn. Về tới cổng chùa rồi Nhêm vẫn còn ngơ ngác. Nó sợ. Những người không có đức tin sẵn sàng báng bổ đức tin. Nhưng Sanh vẫn thích đi trên con đường đang còng lưng gánh những quán bia, nhà hàng, nên ngày nào nó cũng kéo Nhêm vòng lại. Ngày nào cũng thấy Cỏ ngồi chán chường ở quầy bar trong quán, nét mặt, khóe môi, bàn tay… tất cả chi tiết trên người cô buông lơi, trễ nãi, cảm giác mọi thứ đang rời nhau và trôi đi. Cả nụ cười mỉm khi nhìn thấy người nhà chùa cũng là nụ cười đang trôi vô định. Nhưng hành trình đột ngột thay đổi, Sanh không đi qua đó thêm một lần nào, vì một buổi trưa ngang qua cuộc tiễn đưa, thấy Cỏ đang chèo kéo quấn vào đám đàn ông sắp lên xe, trong cái khói nắng mùa hạ. Mắt còn đậu lại trong khi chân vẫn liên tục bước, sư trẻ thấy Cỏ ngó theo, thoáng chênh chao.

Cô không ghé chùa nữa, vì mùa khô bắt đầu quay lại, khách lác đác đến tắm biển, uống bia. Buổi chiều, sư trẻ đi nhổ những dây mướp đã chết khô trên bờ rào, dáo dác ngó về phía cổng, ai bước vào hai đứa cũng thất vọng thở hắt ra.

Ngày cuối cùng của mùa hạ, người trong sroc mượn sân chùa làm lễ cúng trăng. Cỏ ghé chơi lúc sắp khuya rồi. Khỏi nói Nhêm mừng như thế nào, đến nỗi, nó tự hỏi, gặp Na Thi, nó có mừng được bằng cỡ đó không. Sanh không tỏ thái độ gì, dửng dưng ngậm ngọn cỏ vung vinh trên môi, “ủa, tối nay không ở nhà chơi với tụi nhà giàu?”, Cỏ cười, “mắc mớ gì tới Lục?” rồi lảng đi, lại gần Nhêm, coi người ta bắt mấy đứa nhỏ ăn cốm dẹp, theo thông tục. Hồi nhỏ, Nhêm cũng được đút cốm dẹp, khi người ta vuốt lưng, hỏi, năm nay muốn gì, nó gần như òa khóc, “mắc tiểu quá, con muốn đi tiểu”. Năm đó nắng dai, lúa bị khô háp trên đồng, hành không đặng củ, cả sroc cứ đổ thừa tại Nhêm.

Giờ thì mấy đứa nhỏ cũng trợn trạo ngốn cốm dẹp và nói thích lúa, thích gạo. Điều đó làm Nhêm buồn cười, trẻ con không thích đồ chơi đẹp, quần áo đẹp thì thôi, lúa gạo mà làm gì. Chắc là cha mẹ chúng đã dạy trước, Nhêm cũng từng buộc phải học thuộc lòng. Chỉ là tụi nó bây giờ khôn ngoan hơn, và không bị mắc tiểu giữa chừng, như Nhêm. Đang kể chuyện vẩn vơ thì sương trên đuôi lá bồ đề rụng xuống trán, Nhêm giật mình.

Không thấy Cỏ ngồi bên cạnh nữa. Sanh đã kín đáo lôi xểnh cô ra phía sau sala, chỗ những dây bìm bìm leo xum xuê trên mái chuồng gà bỏ hoang. Nỗi nhớ, sự ghen hờn, xót xa, niềm kiêu hãnh giày bừa trong lòng Sanh làm nó như mê đi. Cỏ chỉ cười nhẹ, xấp xãi bước theo, vẻ mặt không ngạc nhiên chút nào. Hoặc cô đã chờ đợi điều này lâu, nên chỉ thở cồn cào như một con sóng nhỏ khi tay và môi Sanh bắt đầu uống ngấu lấy cô. Thằng con trai đó đi qua những cơn đói nhưng chưa bao giờ ngưng sống, như cỏ của những mùa trăng ướt.

Nhêm tìm thấy Sanh đang đứng đối mặt với khoảng tường, y cà sa căng tròn, bọc lấy thân thể Cỏ. Cô chỉ còn đôi chân, và khuôn mặt, phần còn lại của cơ thể đã tan biến. Bóng trăng lấp ló chồm vào đôi người lấp ló. Nhêm chết sững và nỗi tức giận nào đó ứa ra bưng mắt, buốt những đầu ngón tay, nó hồng hộc chạy về phía chánh điện, chỗ Lục Cả đang tụng khúc cầu an.

Sanh rời khỏi chùa vào chiều hôm sau, hoàn toàn không có một nghi lễ hoàn tục nào đưa tiễn. Ngang qua quán rượu, Sanh dừng lại chờ rất lâu mới thấy Cỏ ơ hờ bước ra, Sanh chụp níu lấy tay :

- …Đi với tôi nghen?!

- Đi với Lục thì lấy gì ăn? - Cỏ hắt tay Sanh, lạnh lùng hỏi lại.

Không biết, ngay việc bây giờ đi về đâu Sanh còn không biết. Có thể đi làm thuê, làm mướn ở một nơi xa xôi nào đó, đào đất, trèo thốt nốt lấy nước, làm cửu vạn hay vác những bộ tranh kiếng bán dạo khắp nẻo đường. Sanh nuốt thất vọng quay đi. Đám con gái trong quán thò đầu ra cửa sổ, nhìn theo cái lưng gù gù như cõng đá, tru lên thảm thiết, trời ơi, Lục đừng đi, Lục mà đi thì tụi tui phải chung tiền cho con quỷ sứ này, phải biết Lục dễ dụ dỗ vậy, tụi này không đánh cuộc… Sanh khựng lại một vài giây, rồi nó gần như bỏ chạy, nó cảm thấy mình tắt thở rồi. Chết trước khi những cơn đói ập đến trừng phạt nó, vì sự bội tín, vô ơn với Đức Thích Ca.

Những ngọn gió cuối mùa Nam còn sót lại đưa tin thắng cuộc của cô tiếp viên đi nhanh. Người đàn bà cho bạc góp hể hả đòi được món nợ cũ, ghé chùa nói với Lục Cả, “Riết rồi không thấy người nữa, chỉ thấy mấy thứ giống người...”, rồi day mắt về phía sư trẻ đang quét lá giữa sân chùa vắng, “may nhờ lục Nhêm tu tập tử tế…”

Nhêm nghe được, cười khan, nỗi buồn cào cấu rát lòng, sao người ra đi lại là Sanh mà không phải nó, sao cô gái đó chọn Sanh? Hỏi hỏi và hỏi. Trời thì cao và xanh xao.