PDA

View Full Version : Cụ Hoàng Minh Chính qua đời.



anmota
02/08/2008, 10:15 AM
http://www.rfa.org/service/audio_popup.html?file=http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2008/02/08/vhung020808.mp3

AMT

anmota
02/08/2008, 10:19 AM
Hoàng Minh Chính

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia


Bước tới: menu (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_Minh_Ch%C3%ADnh#column-one), tìm kiếm (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_Minh_Ch%C3%ADnh#searchInput)
<!-- start content -->Hoàng Minh Chính (16 tháng 11 (http://vi.wikipedia.org/wiki/16_th%C3%A1ng_11) năm 1922 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1922) - 7 tháng 2 (http://vi.wikipedia.org/wiki/7_th%C3%A1ng_2) năm 2008 (http://vi.wikipedia.org/wiki/2008)) là một nhân vật bất đồng chính kiến (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A2n_v%E1%BA%ADt_b%E1%BA%A5t_%C4%91%E1%BB%93n g_ch%C3%ADnh_ki%E1%BA%BFn) người Việt (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Vi%E1%BB%87t), nguyên Tổng thư ký Đảng Dân chủ Việt Nam (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3ng_D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_Vi%E1%BB%87 t_Nam) và Viện trưởng Viện Triết học Mác-Lênin (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Vi%E1%BB%87n_Tri%E1%BA%BFt_h%E1%BB %8Dc_M%C3%A1c-L%C3%AAnin&action=edit) (Marx-Lenin).

[sửa (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ho%C3%A0ng_Minh_Ch%C3%ADnh&action=edit&section=1)] Tiểu sử

Hoàng Minh Chính tên thật là Trần Ngọc Nghiêm, bí danh Lê Hồng, sinh năm 1922 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1922) ở Nam Trực, Nam Hà (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_H%C3%A0), tham gia cách mạng từ năm 1937 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1937). Năm 1939 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1939) ông vào Đảng Cộng sản Đông Dương (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3ng_C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n_%C4%90% C3%B4ng_D%C6%B0%C6%A1ng) (năm 1952 đổi tên thành Đảng Lao động Việt Nam và sau 1975 đổi tên thành Đảng Cộng sản Việt Nam). Trong kháng chiến chống Pháp (http://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%C3%A1ng_chi%E1%BA%BFn_ch%E1%BB%91ng_Ph%C3%A1p), ông chịu trách nhiệm đánh Trường bay Gia Lâm, rồi lên Việt Bắc (http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_B%E1%BA%AFc) đảm nhận nhiều công tác đoàn thể, sau hòa bình về Hà Nội (http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_N%E1%BB%99i) tiếp tục làm công tác đoàn thể.
Ông đã từng giữ những chức vụ cao trong bộ máy nhà nước như: Phó chủ nhiệm Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A 3ng_Nguy%E1%BB%85n_%C3%81i_Qu%E1%BB%91c&action=edit), Viện trưởng Viện Triết học Mác-Lênin.

1957 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1957), ông được cử đi học tại Liên Xô (http://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_X%C3%B4).
1961 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1961), ông về công tác tại Ủy ban Khoa học nhà nước, làm Viện trưởng Viện Triết học.
1967 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1967), Đảng Cộng sản Việt Nam (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3ng_C%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n_Vi%E1%B B%87t_Nam) đã khai trừ ông ra khỏi đảng vì ông thuộc số những người không tán thành Nghị quyết 9 của Đảng Cộng sản Việt Nam.
1967-1973 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1973), chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam_D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_C%E1%BB%99ng _h%C3%B2a) đưa ông đi tập trung cải tạo.
1973-1976 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1976), chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quản chế ông tại Sơn Tây (http://vi.wikipedia.org/wiki/S%C6%A1n_T%C3%A2y).
Tháng 6 năm 1995 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1995)-tháng 6 năm 1996 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1996), chính quyền bắt giữ và xét xử theo pháp luật Việt Nam, ông bị tù 1 năm với tội trạng "lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nuớc, tổ chức xã hội và công dân".
Sau khi ra tù, ông vẫn tiếp tục viết đơn thư khiếu nại, vận động, yêu cầu Đảng và chính quyền Việt Nam "giải oan" cho các vụ án "chống Đảng", "xét lại"; tuyên truyền phát tán tài liệu, vận động người tham gia góp ý cho bản dự thảo "Thách thức và triển vọng".
Tháng 4 năm 1998 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1998), ông cùng với Lê Hồng Hà (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%C3%AA_H%E1%BB%93ng_H%C3%A0&action=edit) bàn việc chuyển hướng hoạt động sang đấu tranh với mục đích thành lập "Hội nhân dân chống tham nhũng".
Ngày 16 tháng 1 (http://vi.wikipedia.org/wiki/16_th%C3%A1ng_1) năm 2000 (http://vi.wikipedia.org/wiki/2000), ông gửi thư ngỏ cho Tổng thống Hoa Kỳ (http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95ng_th%E1%BB%91ng_Hoa_K%E1%BB%B3), nói rằng ở Việt Nam chưa có tự do báo chí (http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%B1_do_b%C3%A1o_ch%C3%AD), tự do ngôn luận (http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%B1_do_ng%C3%B4n_lu%E1%BA%ADn)..., những vấn đề mà Mỹ có thể can thiệp.
Tháng 8 năm 2005 (http://vi.wikipedia.org/wiki/2005), ông sang Mỹ chữa bệnh, diễn thuyết nhiều lần, công khai phê phán Đảng Cộng sản Việt Nam và chính quyền Việt Nam.
Ngày 28 tháng 9 (http://vi.wikipedia.org/wiki/28_th%C3%A1ng_9) năm 2005, nhận lời mời của những người từng làm việc dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa (http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a), ông đã đến phát biểu, có 20 người Việt và 4 người Mỹ tại Đại học Harvard (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Harvard) về đề tài dân chủ cho Việt Nam (http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam) (có quay phim)[1] (http://www.youtube.com/watch?v=PFRgMteOJWo).
Ngày 29 tháng 9 (http://vi.wikipedia.org/wiki/29_th%C3%A1ng_9) năm 2005, ông ra điều trần trước Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ (http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%A1_vi%E1%BB%87n_Hoa_K%E1%BB%B3) để, như ông nói, "nêu ra những vụ đàn áp tôn giáo, khủng bố tàn bạo" ở Việt Nam.Hiện nay, Hoàng Minh Chính vẫn giữ vai trò quan trọng trong các hoạt động của những người bất đồng chính kiến: vận động lấy chữ ký đòi hủy bỏ điều 4 của Hiến pháp Việt Nam (http://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BA%BFn_ph%C3%A1p_Vi%E1%BB%87t_Nam) và nghị định số 31/CP, tìm cách phát triển lực lượng, liên kết với Phạm Quế Dương (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ph%E1%BA%A1m_Qu%E1%BA%BF_D%C6%B0%C 6%A1ng&action=edit), Trần Khuê (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tr%E1%BA%A7n_Khu%C3%AA&action=edit) và những nhân vật bất đồng chính kiến khác, viết đơn và kêu gọi thành lập Hội nhân dân chống tham nhũng.
Hoàng Minh Chính nhiều lần cùng các nhân vật bất đồng chính kiến khác tổ chức gặp mặt nhằm công khai tổ chức, nhằm tái lập Đảng Dân chủ (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3ng_D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_Vi%E1%BB%87 t_Nam) cùng nhiều hoạt động khác. Ông cũng đã soạn một số tài liệu gửi ra nước ngoài cho một số tổ chức nhân quyền, trả lời phỏng vấn về tình hình dân chủ, nhân quyền (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A2n_quy%E1%BB%81n), tự do tôn giáo (http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%B1_do_t%C3%B4n_gi%C3%A1o) ở Việt Nam.
Hoàng Minh Chính cho rằng học thuyết của Karl Marx (http://vi.wikipedia.org/wiki/Karl_Marx) và Friedrich Engels (http://vi.wikipedia.org/wiki/Friedrich_Engels) có sai sót cơ bản và và trong việc thực hiện ở các quốc gia cộng sản đã có sai lầm nghiêm trọng - chủ nghĩa mà có thời ông, trên cương vị Viện trưởng Viện Triết học, đã tuyên truyền và ca ngợi.
Những bài viết về Hoàng Minh Chính đã thu hút sự quan tâm của báo chí trong và ngoài Việt Nam.
Ngày 1 tháng 6 năm 2006, Hoàng Minh Chính ra tuyên bố khôi phục hoạt động Đảng Dân chủ[2] (http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2006/06/060602_dang_danchu.shtml). Tuy nhiên, theo ông Huỳnh Văn Tiểng, nguyên uỷ viên Thường vụ Đảng Dân chủ Việt Nam từ năm 1944 đến năm 1988, thì:
"Bản thân ông Chính đã bị khai trừ khỏi Đảng dân chủ từ lâu; khi không được sự đồng tình của số đông cựu đảng viên ông không có quyền và không đủ tư cách đứng ra khôi phục Đảng" [3] (http://vietnamnet.vn/chinhtri/2006/06/577205/)
"Đảng Dân chủ hiện nay mà ông Hoàng Minh Chính lên tiếng “khôi phục” thì về bản chất đã khác Đảng Dân chủ từng tồn tại từ năm 1944 đến 1988" [4] (http://vietnamnet.vn/chinhtri/2006/06/577205/)
Cuối năm 2007, sức khỏe ông bị yếu dần. Ông qua đời tại Hà Nội vào ngày mùng một Tết Mậu Tý (http://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BA%ADu_T%C3%BD), nhằm ngày 7 tháng 2 năm 2008.<SUP class=reference id=_ref-0>[1] (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_Minh_Ch%C3%ADnh#_note-0)</SUP>

anmota
02/08/2008, 10:34 AM
<TABLE><TBODY><TR><TD class=list_title vAlign=top align=left height=0>Ông Huỳnh Văn Tiểng, nguyên uỷ viên Thường vụ Đảng dân chủ Việt Nam (1944-1988):</TD></TR><TR><TD class=tintop_title vAlign=top align=left>Đảng CSVN lãnh đạo đổi mới đạt nhiều thành tựu lớn</TD></TR><TR><TD class=news_date vAlign=top align=left height=20>18:04' 02/06/2006 (GMT+7) </TD></TR><TR><TD class=text vAlign=top align=left>"Tôi ngạc nhiên khi nghe tin ông Hoàng Minh Chính ra tuyên bố cái gọi là khôi phục “Đảng Dân chủ”. Bản thân ông Chính đã bị khai trừ khỏi Đảng dân chủ từ lâu; khi không được sự đồng tình của số đông cựu đảng viên ông không có quyền và không đủ tư cách đứng ra khôi phục Đảng" - Ông Huỳnh Văn Tiểng, nguyên uỷ viên Thường vụ Đảng dân chủ Việt Nam (1944-1988), nguyên đại biểu Quốc hội khoá I, II, III nói.

<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=3 width=1 align=right border=0><TBODY><TR><TD>http://images.vietnamnet.vn/dataimages/200606/original/images995287_Tieng.jpg </TD></TR><TR><TD class=Image>Ông Huỳnh Văn Tiểng, ảnh chụp cuối tháng 4-1975.</TD></TR></TBODY></TABLE>
Đảng Dân chủ Việt Nam ra đời năm 1944 với thành phần ban đầu là các nhà tư sản, trí thức yêu nước. Tôn chỉ, mục đích của Đảng là đoàn kết, cùng nhân dân đấu tranh, giành độc lập cho dân tộc, xây dựng Tổ quốc Việt Nam giàu mạnh.
Thời gian đầu, Đảng Dân chủ có mục tiêu tập hợp lực lượng chống thực dân, đế quốc. Quá trình tồn tại, Đảng Dân chủ đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc tập hợp những nhà tư sản yêu nước ủng hộ, hợp tác với Đảng Cộng sản Đông Dương đánh đuổi thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc.
Năm 1988, Đảng Dân chủ tự giải thể vì xét thấy đã hoàn thành nhiệm vụ chính trị của mình.
Bản thân tôi từng là đảng viên Đảng Dân chủ Việt Nam, nguyên Uỷ viên Thường vụ Đảng Dân chủ Việt Nam từ năm 1944 đến năm 1988. Tôi có biết ông Hoàng Minh Chính và nghe nhiều anh em trong Đảng Dân chủ nói về ông ấy. Năm 1946, khi tôi ra Hà Nội, ông Chính với vai trò là thư ký thường trực của Đảng Dân chủ, đã thay mặt Đảng tiếp tôi.
Nhìn chung ông Chính là người lanh lợi, nhanh nhẹn. Tuy nhiên, thời gian về sau ông Chính đã gây mâu thuẫn trong Đảng Dân chủ và bị coi là chống Đảng. Khi đó, Đảng Dân chủ có xu hướng ủng hộ đường lối của Chủ tịch Hồ Chí Minh: kháng chiến, kiến quốc và bảo vệ quyền lợi của số đông, trong khi ông Chính chỉ bảo vệ quyền lợi của một ít nhà tư sản, đưa ra quan điểm chỉ những người giàu mới được phép đến Hà Nội học. Ông Chính đã không nhận được sự đồng tình của đa số thành viên Đảng Dân chủ (một số người nói với tôi: "Nghe ông ấy là hỏng đấy!"). Vì vậy, ông Chính bị khai trừ khỏi Đảng Dân chủ.
Tôi cho rằng sự hiện diện của Đảng Dân chủ và một số đảng khác tại Việt Nam trong những năm đầu phấn đấu giành độc lập cũng như củng cố nền độc lập là có cơ cở. Bởi vì, khi đó, nhiều tầng lớp trong xã hội còn chưa hiểu Đảng Cộng sản, cần có những đại diện của họ hướng họ vào mục tiêu đấu tranh chống thực dân. Nhưng sau vài thập kỷ, Đảng Cộng sản đã chứng minh được vai trò của mình: lãnh đạo đất nước đấu tranh giành độc lập, thống nhất thành công suốt; và trong ba thập kỷ và tiếp theo đã lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước đạt nhiều thành tựu to lớn. Nhìn chung, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thu phục được lòng người. Chính sách đại đoàn kết của Đảng Cộng sản chú trọng phát huy sức đóng góp của mọi thành phần giai cấp trong xã hội. Vì vậy, đã đến lúc không cần đến những đảng phái khác, dễ gây chia rẽ nội bộ.
Tôi xin nhấn mạnh rằng , Đảng Dân chủ hiện nay mà ông Hoàng Minh Chính lên tiếng “khôi phục” thì về bản chất đã khác Đảng Dân chủ từng tồn tại từ năm 1944 đến 1988. Tôi được biết, Đảng Dân chủ hiện nay là tập hợp của một số ít người bị xúi giục, thậm chí bị mua chuộc, kích động hoặc mang sự ấm ức với chính quyền trong nước, khác hẳn với suy nghĩ tâm huyết của số tư sản, trí thức yêu nước hoạt động với tôn chỉ đại đoàn kết trước đây.
Cuối cùng, xin được nói rõ rằng, đông đảo những cựu đảng viên Đảng Dân chủ hiện nay không có ý định khôi phục Đảng Dân chủ. Do vậy, ông Hoàng Minh Chính phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc làm có dụng ý xấu của mình.

Huỳnh Văn Tiểng
</TD></TR></TBODY></TABLE>

anmota
02/08/2008, 10:43 AM
<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=0 width=760 align=left border=0><TBODY><TR vAlign=top><TD colSpan=5>Ông Hoàng Minh Chính qua đời <!-- end_title -->

</TD></TR><TR vAlign=top><TD colSpan=3><TABLE cellSpacing=0 cellPadding=0 width=203 align=right border=0><TBODY><TR><TD bgColor=#ffffff rowSpan=2>http://www.bbc.co.uk/f/t.gif</TD><TD>http://newsimg.bbc.co.uk/media/images/44412000/jpg/_44412911_hoangminhchinh203.jpg
</TD></TR><TR><TD class=caption>Ông Hoàng Minh Chính - một trong những nhà hoạt động dân chủ của thế hệ đi trước</TD></TR></TBODY></TABLE><!-- st_story -->Ông Hoàng Minh Chính, nhà bất đồng chính kiến có tiếng tại Việt Nam vừa qua đời. Gia đình cho biết ông qua đời vào ngày đầu của năm mới.
Ông Hoàng Minh Chính là một trong những nhà hoạt động dân chủ cuối cùng của thế hệ đi trước.
Ông tham gia cách mạng nhưng sau đó vỡ mộng tư tưởng cộng sản.
<!-- end_story -->Sinh năm 1922 ở tỉnh Nam Hà, ông theo cách mạng năm 1937.
Ông từng giữ nhiều trọng trách trong chính phủ Việt Nam như thứ trưởng Bộ giáo dục, hiệu phó trường đảng Nguyễn Ái Quốc và viện trưởng Viện triết học Mác- Lênin.
Nhà lý luận
Ông được coi là một trong những nhà tư tưởng lớn của chế độ cho tới những năm 1960 khi ông bắt đầu chỉ trích một số quyết định của đảng và ông kêu gọi cải cách dân chủ.
Bị coi là thành viên của nhóm “xét lại chống đảng”, giáo sư Chính ở tù nhiều năm và khi được thả ông bị quản thúc tại gia.
Trong 10 năm qua, ông Chính đã tích cực tham gia phong trào dân chủ ở Việt Nam, và cách đây hai năm đã khởi xướng khôi phục lại hoạt động của Đảng Dân Chủ Việt Nam.
Năm 2005, trong một động thái chưa từng có, chính phủ Việt Nam cho phép ông sang Hoa Kỳ để điều trị bệnh ung thư tiền liệt tuyến.
Trong chuyến đi đó, ông đã ra điều trần trước một Ủy ban của Quốc hội Hoa Kỳ về tình hình tại Việt Nam và kêu gọi tạo sức ép lớn hơn đối với chính phủ Việt Nam.
Bài phát biểu này đã châm ngòi cho một chiến dịch của báo chí trong nước công kích ông.
Tuy nhiên ông Chính vẫn được phép trở lại Việt Nam.
Năm 2006, ông tham gia thành lập phong trào dân chủ Khối 8406.
Thế nhưng sự gắn bó với tư tưởng cộng sản trước đây đã có phần tạo khoảng cách giữa ông với những người bất đồng chính kiến trẻ tuổi vốn muốn tuyệt giao với quá khứ.
Sức khỏe của ông Chính sa sút nhiều hồi năm ngoái.
Ông bị nhiều bệnh và đã phải nhập viện một vài lần.

</TD></TR></TBODY></TABLE>

anmota
02/11/2008, 02:32 PM
<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=0 width=760 align=left border=0><TBODY><TR vAlign=top><TD colSpan=5>Viện Triết muốn đưa tang ông Chính <!-- end_title -->

</TD></TR><TR vAlign=top><TD colSpan=3><TABLE cellSpacing=0 cellPadding=0 width=203 align=right border=0><TBODY><TR><TD bgColor=#ffffff rowSpan=2>http://www.bbc.co.uk/f/t.gif</TD><TD>http://newsimg.bbc.co.uk/media/images/44412000/jpg/_44412911_hoangminhchinh203.jpg
</TD></TR><TR><TD class=caption>Ông Hoàng Minh Chính - một trong những nhà hoạt động dân chủ của thế hệ đi trước</TD></TR></TBODY></TABLE><!-- st_story -->Viện Triết học, cơ quan ông Hoàng Minh Chính từng lãnh đạo đã đề nghị được tổ chức lễ tang cho ông nhưng gia đình ông không đồng ý.
Một nguồn tin từ gia đình ông Chính nói với cộng tác viên BBC ở Paris rằng Viện Triết học đã cố gắng 'thuyết phục' gia đình để được đứng ra tổ chức tang lễ tại nhà Tang lễ Bộ Quốc phòng trên đường Trần Thánh Tông, Hà Nội.
Tin được chuyển cho BBC vào lúc sáng sớm giờ Việt Nam và hiện chưa có bình luận gì từ Viện Triết học.
<!-- end_story -->Nguồn tin gia đình ông Chính cũng nói Viện Triết học cũng đề nghị chính viện này soạn và đọc điếu văn trong tang lễ.
Tuy nhiên gia đình đã từ chối cả hai đề nghị này.
Các con của ông Chính nói họ muốn thực hiện đúng theo những ước muốn sau cùng của người cha quá cố, do đó, gia đình sẽ đứng ra hoàn toàn chủ động tổ chức tang lễ này.
Ngăn cản tụ họp?
Một người trong ban tang lễ của gia đình ông Hoàng Minh Chính cho hay nơi tổ chức tang lễ có thể sẽ là một nhà tang lễ trên đường Thanh Nhàn gần khu Bạch Mai.
Theo dự kiến tang lễ sẽ diễn ra vào ngày 16/2.
Một số nhà bất đồng chính kiến cho hay từ mấy ngày nay phía chính quyền đã có những hành động ngăn cản sự đi lại của họ chặt chẽ hơn.
Ông Nguyễn Khắc Toàn cho biết công an đã yêu cầu ông 'không được tự ý' sang nhà ông Chính để thắp hương, mà phải làm đơn xin phép phường khi ông muốn làm như vậy.
Một nhà bất đồng chính kiến khác, ông Trần Khuê đã định sẽ đi chuyến bay lúc 14:15 ngày 11/2 từ Tân Sơn Nhất ra Hà Nội để giúp chuẩn bị tang lễ ông Chính nhưng đã không thành công.
Ông cho cộng tác viên BBC biết, sau khi làm các thủ tục check-in và đang ngồi trong phòng đợi, ông đã bị bốn công an đến yêu cầu sang một phòng bên cạnh'' để 'lục soát và tịch thu đồ đạc.'
Sau đó ông được đưa về trụ sở công an ở số 4 Phan Đăng Lưu.
Ông Khuê sau đấy đã được thả về nhà khoảng 20 giờ cùng ngày.
Ông Khuê cũng cho hay nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa ở Hải Phòng, người muốn đến dự lễ tang ông Chính đã được công an yêu cầu sẽ đưa ông Nghĩa đến bằng ô tô, thuê khách sạn cho ông tạm trú và sau đấy sẽ đưa về đến tận nhà.

</TD></TR></TBODY></TABLE>

anmota
02/11/2008, 02:37 PM
10-02-2008 22:54:11 GMT +7
(NLĐ) - Ông Hoàng Minh Chính, nguyên Viện trưởng Viện Triết học thuộc Viện Khoa học xã hội VN, đã qua đời lúc 23 giờ 30 phút ngày 7-2-2008 (tức mùng 1 Tết Mậu Tý), tại Bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội, sau một thời gian dài bị bệnh nặng, hưởng thọ 86 tuổi.

------------------------------------------------------------------------------
Tờ báo duy nhất được phân công...

anmota
02/12/2008, 08:58 AM
<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=0 width="100%" border=0 valign="top"><TBODY><TR><TD style="PADDING-LEFT: 4px" vAlign=top align=left width="100%">Ngay từ năm 1946, trong một chuyến Hồ Chủ tịch sang thăm Cộng hòa Pháp, nhà triết học trẻ tuổi đã xin gặp Người, bày tỏ nguyện vọng được về xây dựng đất nước. Nhưng mãi tới năm 1951, nguyện vọng của ông mới được đáp ứng. Ông từ bỏ các giảng đường, các thính phòng triết học đang hứa hẹn cả một sự nghiệp danh giá, dùng tiền nhuận bút cuốn sách “Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng” để mua vé máy bay, bí mật về nước theo một lộ trình khá vòng vèo: từ Paris sang Luân Đôn - Praha - Matxcơva - Bắc Kinh, về nước, lên Việt Bắc - thủ đô kháng chiến. Tại đó, ông nhận nhiệm vụ nghiên cứu giáo dục, dịch các tài liệu cho đồng chí Trường Chinh trong Văn phòng Tổng Bí thư, tham gia cải cách ruộng đất.
Hòa bình, ông trở thành giáo sư Triết học và là Phó Giám đốc Đại học Sư phạm Văn khoa, Chủ nhiệm Khoa Lịch sử - Đại học Tổng hợp Hà Nội. Triết học của ông không còn nặng tính tư biện, mà “hạ cánh”, gắn liền với những vấn đề then chốt của thực tiễn cách mạng. Các bài báo nổi tiếng của ông như “Khuyến khích tinh thần tự do dân chủ”, “Nội dung xã hội và những hình thức của tự do” cùng một số bài khác, công bố trong hai năm 1955-1956, thực chất chỉ là những suy nghĩ tìm tòi rất tự nhiên, chân thành của một học giả quen viết bằng tiếng Pháp và quen khái quát, trừu tượng hóa những vấn đề vốn rất rối rắm trong thực tế. Bối cảnh chính trị phức tạp thời kỳ “chiến tranh lạnh”, sự ấu trĩ và lối nghĩ cơ hội của một số kẻ xấu bụng đã vô tình đẩy ông ra khỏi giảng đường. Nhưng, đúng với tư chất của một hiền nhân Đông phương, ông vẫn ung dung, tự tại, chấp nhận hình thức “cải tạo tư tưởng” một thời gian rồi lại say sưa với công việc mới - công việc biên dịch tại NXB Sự thật. Ông tiếp tục nghiên cứu, dịch và hiệu đính lại các tác phẩm kinh điển của Mác, Ănghen, viết bài, in sách ở nước ngoài và cộng tác thường xuyên với một số tạp chí Pháp. Năm 1973, NXB Xã hội của Pháp xuất bản cho ông công trình “Khảo về nguồn gốc của ngôn ngữ và ý thức”. Cuốn sách lập tức được dịch và xuất bản ở nhiều nước, kể cả ở Mỹ. Năm 1988 ông cho xuất bản cuốn “Vấn đề con người và chủ nghĩa lý luận không có con người”. Nói như GS. Phan Ngọc, “Trần Đức Thảo đến với chủ nghĩa duy vật sau khi trèo lên cái đỉnh cao nhất của chủ nghĩa duy tâm thời đại này là hiện tượng luận của Hut-sơ, rồi lật ngược nó lại. Từ duy tâm sang duy vật chính là sự phát triển biện chứng của chủ nghĩa duy tâm, ông chuyển sang chủ nghĩa Mác do tình cảm yêu nước”. Tên ông trở thành một mục từ quan trọng trong một số từ điển triết học ở châu Âu. Cuối những năm năm mươi, do quan hệ gia đình căng thẳng và điều kiện sống quá khó khăn, vợ chồng ông phải chia tay nhau. Ông trở thành người đàn ông độc thân, nổi tiếng thêm bởi sự đãng trí, hồn nhiên và sự thiếu thốn, cơ hàn trong sinh hoạt. Dãy nhà B khu tập thể Kim Liên vốn đã nổi tiếng vì là “xóm giáo sư”, nay lại nổi tiếng hơn vì có thêm GS. Trần Đức Thảo trụ trì. Trong dịp tang lễ Giáo sư, nhà văn Phùng Quán chứng kiến một chuyện thật bi - hài. Nhà văn kể:


“Dễ có đến hai năm tôi không đến khu tập thể Kim Liên. Lần này trở lại tôi ngạc nhiên thấy cái quán của bà cụ móm dưới gốc cây xà cừ mà mười năm trước tôi thường ghé hút thuốc, uống nước, vẫn còn nguyên chỗ đó. Tôi vào quán uống chén rượu thay bữa ăn sáng. Bà cụ đang rôm rả nói chuyện với mấy anh xích lô:
- Con cháu nhà tôi nó mới sắm cái tivi màu nội địa. Tối hôm kia, bắt dây rợ xong, bật lên thấy đang chiếu cảnh tang lễ một ông tên là gì gì Thảo đó. Người ta giới thiệu ông Thảo là nhà triết học nổi tiếng thế giới, làm đến sáu bảy chức, chức nào cũng dài dài là, chắc là toàn chức to. Ông ta sang tận bên Tây mà chết. Cả Tây cả Ta đều làm lễ truy điệu, toàn cán bộ to đến dự… Trong khu nhà B6 đàng kia cũng có một ông tên Thảo, nhưng lôi thôi lếch thếch quá mấy anh công nhân móc cống. Mùa rét thì áo bông sù sụ, mùa nực thì bà ba nâu bạc phếch, quần ống cao ống thấp, chân dép cao su đứt quai, đầu mũ lá sùm sụp, cưỡi cái xe đạp “pôdô con vịt” mà mấy bà đồng nát cũng chê. Thật đúng như anh hề làm xiếc. Mặt cứ vác lên trời, đạp xe thỉnh thoảng lại tủm tỉm cười một mình, như anh dở người… Một buổi trưa trời nắng chang chang, ông ghé vào quán tôi uống cốc chè xanh, tôi hỏi: “Ông đi đâu về mà nom vất vả thế?”. Ông nói: “Tôi lên chợ Hàng Bè mua củi đun”. Tôi hỏi: Thế củi đâu cả rồi? Ông quay lại nhìn cái poocbaga, mặt cứ ngẩn tò te. Chỉ còn sợi dây buộc. Củi nả rơi đâu hết dọc đường, chẳng còn lấy một que… Nghĩ cũng tội, già ngần nấy tuổi đầu mà phải nấu lấy ăn, không vợ, không con… Đấy, cũng Thảo cả đấy, mà Thảo một đằng thì chết danh chết giá, còn Thảo này thì sống cơ cực trần ai…
Bà cụ chép miệng thương cảm:
- Một vài năm nay không thấy ông ấy đạp xe qua đây, dễ chết rồi cũng nên…
Tôi uống cạn chén nước, cười góp chuyện:
- Cái ông Thảo mà bà kể đó chính là cái ông Thảo người ta chiếu đám ma trên ti vi.
Bà cụ bĩu môi:
- Ông đừng tưởng tôi già cả mà nói lỡm tôi!”


Nếu bà cụ quán nước tin lời nhà văn Phùng Quán, hẳn cụ sẽ thương cảm hơn cái ông Thảo láng giềng sống thế nào, chết thế nào ở bên Tây.
Vốn là người chỉ coi kết quả của những suy tư triết học là niềm vui duy nhất trong cuộc sống, ông gần như mất cảm giác trước các nhu cầu vật chất. Tại Paris những năm tháng cuối đời, ông lảng tránh mọi sự giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp, đồng hương. Ông sống và viết trong một căn phòng nhỏ tầng năm, do Sứ quán Việt <?xml:namespace prefix = st1 ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:smarttags" /><st1:country-region><ST1:place>Nam</ST1:place></st1:country-region> bố trí. Vốn bị bệnh gan mãn tính, ăn uống đạm bạc, thất thường, cộng với mùa đông băng giá, sức khỏe ông như ngọn đèn leo lét dần. Ông trút hơi thở cuối cùng khi bản thảo công trình “Logic của cái hiện tại sống động” (La logique du présent vivant) còn ngổn ngang, dang dở. Lọ tro di hài ông được Đại sứ quán ta cử người đưa về nước cùng va li chứa tư trang, bản thảo, tài liệu. Vì không còn người ruột thịt lo đỡ, lọ tro phải gửi “trọ”, trả tiền 5 nghìn đồng một ngày, trong gầm cầu thang Nhà tang lễ Phùng Hưng. Ông phải “nghỉ ngơi” ở đó chờ các thủ tục quyết định về tiêu chuẩn “nằm Mai Dịch” hay “nằm Văn Điển”.
Năm 2000, ông được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học. Trường ĐHKHXH&NV đã nhận số tiền thưởng đó từ người thân của ông, cộng với số tiền quyên góp để lập Quỹ học bổng Triết học Trần Đức Thảo. Nhờ công dịch thuật của dịch giả Đinh Chân và bà Nguyễn Thị Nhất, năm 2004, hai công trình “Hiện tượng học và CNDVBC” và “Sự hình thành con người” từ Nhà xuất bản ĐHQGHN đã ra mắt độc giả tiếng Việt. Nhằm vào một ngày rằm, chúng tôi mời cựu phu nhân của Giáo sư ra viếng mộ và kính trình hai cuốn sách.
Hôm đó là một ngày nắng hè oi ả. Tôi cùng mấy biên tập viên đặt hương hoa và hai cuốn sách còn thơm mùi mực in lên mộ rồi đọc một bài văn tế ngắn. Tôi cố tình không thắp nhiều hương vì nghĩa trang khu A - Văn Điển hôm ấy sực mùi bê tông bị mặt trời hun nóng. Vậy thì khói lửa mà làm gì, nhất là khi dưới ấy là lọ tro. Ngày hỏa táng, ông đã chịu nóng lắm rồi. Có thể dành hương lửa ấy cho ông vào mùa đông, được chăng!
Tôi đọc văn tế nhưng không có ý nghĩ hỗn xược là lời mình có thể vọng tới hương hồn người dưới mộ. Thật ra là tôi đọc cho những người đang đứng bên tôi nghe, và cho chính bản thân mình. Còn ông, ông mất ở phía trời Tây. Xa xăm lắm! GS. Trần Văn Giàu cho rằng, ở Việt Nam bản thân mình và các đồng nghiệp khác cũng chỉ là những người nghiên cứu và giảng dạy triết học, người duy nhất được coi là nhà triết học, chỉ có Trần Đức Thảo mà thôi. Nhà văn Nguyễn Đình Thi thì gọi ông là “người lữ hành vất vả”. Quả vậy, ông sống rất lận đận như một khách lữ hành. Sống cũng rất xa mà chết cũng rất xa. Điều đáng nói nhất, theo tôi, ông là nhà triết học mácxít kiên trinh và chân chất nhất. Từ khi rời Pháp về nước lên Việt Bắc, ông đã sống và làm việc bằng khối óc và trái tim của một người cộng sản không thẻ đảng. Có điều, ông là người hay đi trước và đi xa trong tư tưởng. Đi gần thì yên hàn, còn một mình đi xa thì dễ lạc. Nhưng, dường như các danh nhân đều mỗi người một phận. Trời sinh ra ông để mà đi xa, để mà làm khách lữ hành, những người mà thiếu họ, tương lai của một cộng đồng thường được dự báo và định liệu rất muộn.



</TD></TR><TR><TD>Phạm Thành Hưng [Bản tin ĐHQGHN số 169, 3/2005]

</TD></TR><TR><TD class=clsBreak></TD></TR></TBODY></TABLE>

anmota
02/12/2008, 09:19 AM
HÀNH TRÌNH CUỐI CÙNG CỦA MỘT TRIẾT GIA

Phùng Quán


Cái chết là một điều khủng khiếp. Không ai không nguyền rủa cái chết. Nhưng lần này tôi phải tạ ơn cái chết. Vì một lẽ, nhờ cái chết mà tôi và rất nhiều người khác trong nước, qua các báo chí: Nhân dân, Văn nghệ, Giáo dục và Thời đại… được biết rằng đất nước chúng ta đã từng sinh ra một triết gia tầm cỡ quốc tế… Vì đây là “một con người siêu việt của Việt Nam đã đành, mà còn đáng cho nền văn hoá Pháp tự hào. Con người đó cũng có phần cấu thành của chung nhân loại” (Lời giáo sư đại học Nguyễn Đình Chú trong một bài viết của ông).

Chúng tôi được biết nhiều tác phẩm triết học của triết gia đã được xuất bản ở Pháp, ở Anh, ở Mỹ, ở Tây Ban Nha, ở Nhật, ở Đức, ở Hung-ga-ri… Một số nước ở châu Âu đề nghị được mời triết gia sang để trao đổi vấn đề con người, về Hêghen.

Chúng tôi được biết, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong một cuộc họp báo tại Paris, một phóng viên hỏi triết gia: “Nếu quân đội viễn chinh Pháp đổ bộ lên đất nước ông, thì nhân dân ông sẽ đón tiếp như thế nào?”. Triết gia trả lời: “Nổ súng!”. Và vào năm 1949 – 1950, khi những người lính chúng tôi, nhiều người vừa đọc vừa đánh vần và không ít người chưa thoát nạn mù chữ, thì tại đất Pháp, triết gia luận bàn với ông J-P. Sartre - một trong những cây đại thụ triết học và văn học Pháp về chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa hiện sinh. Triết gia ấy đã bảo vệ một cách kiên quyết sự đúng đắn toàn vẹn, vô song của chủ nghĩa Mác… Triết gia đã cầm vũ khí triết học chia lửa cùng quê hương trong cuộc kháng chiến trường kỳ. Cảm thấy như vậy vẫn chưa đủ, năm 1952, triết gia đã từ bỏ tất cả vinh quang, tiền bạc, tiện nghi và phương tiện nghiên cứu học thuật, trở về Tổ quốc theo con đường Paris – Luân Đôn – Praha – Matxcơva - Bắc Kinh - Việt Bắc để được cùng ăn rau tàu bay chấm muối với chiến sĩ và cùng run những cơn sốt rét rừng… Và triết gia đã nhận công tác tại văn phòng Tổng bí thư rồi uỷ viên Ban Văn Sử Địa – nay là Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, phó giám đốc Trường Đại học Sư phạm Văn khoa, chủ nhiệm khoa Sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, chuyên viên cao cấp Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia.

Năm đã ngoài bảy mươi tuổi, triết gia đã bay sang Pháp để hoàn thành tác phẩm triết học Mácxit quan trọng của đời mình: “Vấn đề con người và chủ nghĩa lý luận không có con người”. Triết gia đã trút hơi thở cuối cùng nơi đất khách quê người, khi tác phẩm còn viết dở dang…

Triết gia có tên là Trần Đức Thảo.

Lần này triết gia trở về Tổ quốc trong khoang hành lý máy bay, chiếm một chỗ hết sức khiêm nhường. Triết gia đã hoá thân thành tro nằm trong cái bình bằng kim loại sơn màu xanh thẫm hơi giống một chiếc cúp bóng đá và cũng to bằng cỡ đó.

Về đến Hà Nội, vì không gia đình vợ con và không có cơ quan nào và trường đại học nào trước đây triết gia đã từng công tác và giảng dạy nhận về để thờ hoặc quản, nên triết gia phải tạm trú dưới cái gầm cầu thang của nhà tang lễ thành phố 125 phố Phùng Hưng, Hà Nội.

Được biết tin này tôi tìm đến thắp hương và lễ triết gia với lòng ngưỡng mộ sâu xa đối với một nhân tài của đất nước.

Gầm cầu thang nhà tang lễ thành phố từa tựa cái hang và được ngăn thành ba hốc, mỗi cái hốc là một phòng dành cho cả các bình tro hài cốt tạm trú trước khi có người đến nhận. Ba phòng trú phần thiết kế và trang trí nội thất đều giống nhau. Mỗi phòng rộng chừng bảy, tám thước vuông. Trần phòng thấp, đổ dốc về phía trong theo độ dốc của cầu thang. Một cái bệ xi măng quét vôi vàng và giữa trần là một quầng đen ám khói hương. Bên trên trần là những bậc cầu thang lên tầng hai của ngôi nhà. Tiếng giày, tiếng guốc lên xuống, lên xuống rậm rịch…

Triết gia tạm trú ở phòng số ba, kể từ ngoài cửa vào. Tuy các phòng không đề số phòng, nhưng không có cửa nên cũng dễ tìm. Bình tro đặt trong cái hộp các-tông xung quanh phết giấy điều. Trước bình tro là bát hương, sau bình tro, trên tường dán tấm giấy điều với mấy chữ nho nguệch ngoạc. Lúc tôi đến thì hai phòng một, hai đều bỏ trống, và hình như đã lâu không có ai thuê, vì cả hai bát hương đều gày guộc chân hương.

Nhìn cái bệ xi măng, bát hương, hộp các tông đựng bình tro, tấm giấy điều dán trên tường với mấy chữ nho nguệch ngoạc, nghe tiếng giày guốc rậm rịch, sát ngay trên đỉnh đầu, tôi bỗng chợt nhớ câu thơ của Oantơ Uýtman trong tập “Lá cỏ” thiên tài của ông: Nếu chết, tôi xin phó thân cho bùn đất để tái sinh làm ngọn cỏ tôi yêu, hãy tìm dưới đế giày của các bạn.

Tôi được biết, triết gia là người chiếm kỷ lục thời gian tạm trú ở đây. Năm mươi ngày đêm. Và mỗi ngày đêm tiền thuê phòng là 5 ngàn đồng. Tôi nói vui với một cán bộ của công ty: “Thế này thì giá tiền phòng đắt bằng khách sạn ba sao rồi còn gì…”. Anh ta cãi: “Đắt sao bằng! Tiền phòng khách sạn ba sao mỗi ngày đêm ít nhất là một trăm năm chục ngàn. Nếu khách quốc tế thuê, trả bằng đô thì giá còn cao hơn…”. Tôi nói: “Nhưng diện tích phòng của các anh là diện tích tranh thủ, chưa đầy mét vuông, không gian chỉ hơn nửa thước khối. Khách thuê phòng không phải dùng đến giường đệm, chăn màn, ti vi, tủ lạnh, điện thoại riêng, máy điều hoà nhiệt độ, toa lét, nhân viên phục vụ… tính chi li, theo tôi còn đắt hơn cả khách sạn 5 sao!”.

Triết gia phải tạm trú lâu như vậy là để chờ quyết định trên, có được đưa vào Mai Dịch hay phải về Văn Điển. Tôi tính rằng nếu tro trong bình kia biết nói thì tro sẽ nói: “Người cách mạng không nên đòi hỏi hưởng thụ quá những tiêu chuẩn mà cách mạng đã quy định. Tôi mới đủ tiêu chuẩn Văn Điển sao lại cứ đòi hưởng vượt tiêu chuẩn Mai Dịch? Thói đặc quyền đặc lợi đã làm hư hỏng biết bao nhiêu con người tốt! Nên đưa tôi đi sớm ngày nào hay ngày ấy để đỡ tốn kém tiền của nhân dân!”.

Sau năm mươi ngày chờ đợi, tốn mất hai trăm năm chục ngàn tiền phòng, triết gia đã được trên quyết định đưa về mai táng tại khu A Văn Điển, khu vĩnh viễn, hưởng thụ đúng tiêu chuẩn quy định.

Sáng ngày 20-6-1993, tôi may mắn được cùng với bà con thân thích, mấy người học trò xưa, người vợ cũ từng tốt nghiệp đại học Sorbonne của triết gia, và một số cán bộ lãnh đạo của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, đưa tiễn triết gia đoạn hành trình cuối cùng của đời ông.

Khu A nghĩa trang Văn Điển có hàng nghìn ngôi mộ xếp thành hàng thẳng tăm tắp, được xây giống nhau, giống hệt những căn hộ khép kín của các khu nhà lắp ghép.

Các hàng mộ cũ đều đã kín chỗ, nên mộ của triết gia “được đánh giá là một trong những nhà triết học hàng đầu của thế kỷ” (tuần báo Văn nghệ tháng 5 – 1993), tác giả của Phương pháp hiện tượng học của Husserl, Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng, Nguồn gốc ngôn ngữ và Ý thức, Triết học đã đi đến đâu… là ngôi mộ mở đầu cho một hàng mới.

Nhìn ngôi mộ đơn độc đang xây trát dở dang, tôi thầm nghĩ: “Triết gia nằm ngay ở đầu hàng lại hoá hay, giống như ở tầng trệt của khu nhà tập thể cao tầng. Ông sẽ tránh được cái nạn vào nhầm mộ người khác, như ngày còn ở khu tập thể Kim Liên, ông ở tầng ba nên ông thường xuyên vào nhầm phòng ở các tầng dưới”.

Mộ của ông khá đặc biệt. Bình tro được đặt trong tiểu sành, tiểu sành được đặt dưới khuôn huyệt bên trên có nắp bê tông đậy kín. Như vậy là ông được mai táng theo cách các nhà giàu có xưa: trong quan ngoài quách. Đây có lẽ là sự xa xỉ độc nhất trong cuộc đời triết gia quá ư thanh bạch của ông, mà nếu biết được, tôi tin chắc ông sẽ kịch liệt phản đối.

Lúc bình tro hạ huyệt, tôi châm nén hương lễ ông, và khấn thầm: “Anh Thảo ơi, xin anh đừng quá nghiệt ngã với bản thân đến thế… Với tất cả công tích, tài năng, trí tuệ trác việt và những tác phẩm triết học mà anh đã trọn đời dâng hiến cho Tổ quốc, cho nhân loại, cho sự toàn vẹn vô song của chủ nghĩa Mác, thì anh cũng có quyền được hưởng một chút xíu xa xỉ như vậy…”.


Phùng Quán


(Nhớ Phùng Quán, NXB Văn học – 2004)





Xin cám ơn Lã Thị Hải Yến đã chép lại bài này