PDA

View Full Version : Vào ngày



anmota
03/23/2008, 08:39 AM
Trần Tiến Dũng
Vào ngày bình minh chìm khuất



Đầu thú. Người Tây Tạng được lệnh đến chỗ nhận tội yêu nước cách ngôi nhà mình vài con phố, ngay trên tổ quốc của mình.

Biến mất dãy Hy Mã Lạp Sơn trong mỗi bình minh, mỗi hoàng hôn.

Biến mất cánh đồng cỏ mênh mông từng trồi lên hướng vọng Đại Nhật Phật.

Và như chim, Tạng ngữ quay về lần cuối với thảo nguyên trước khi bị giết chết.

Chẳng cần làm gì thêm khi đã bộc lộ hết với thế giới tình yêu Tự Do. Chẳng có gì là dấu hiệu cho các dân tộc khác ngoài việc bước vào đời sống sau cái chết cùng với những sinh viên trên quảng trường Thiên An Môn. Dấu vết của máu ẩm và xương khô trong đất là tất cả sự lấp lánh của thảo nguyên Mật giáo và cánh đồng Dân Chủ chuyển động đến bất tận.

Tự Do! Là tất cả ngôn từ của Người Tây Tạng vang lên trong hai cõi sống và chết.


Trước sự hủy diệt văn hóa Tây Tạng, ngôn ngữ của nhân loại giờ đây tự nhốt mình bằng một bề mặt thoáng chút cảm xúc trắc ẩn, trong lúc những hòn đá của chủ nghĩa thương mại toàn cầu tự trang điểm mình bằng bản tin báo chí, trong giờ ăn sáng với những con quái thú chia chác đồng cỏ.

Chúng đọc tin và nói bằng giọng ra vẻ hết sức văn minh. Thủ phạm là Đạt Lai Lạt Ma.

Chúng nói như nói với người hầu bàn. Một cách nói lạnh tanh, cái từ “thủ phạm” còn nguyên trên miệng chúng như một phát súng và cả thủ phủ Lhasa chẻ ra và lửa cháy và những mái chùa rỉ máu và nước mắt, và gom lại trước bàn ăn cái xác của một dân tộc, cái xác của cả lịch sử văn hóa, cái xác của một câu kinh, phần còn lại của chân dung một Đức Phật, trong cõi tuyệt đối vừa vỡ nát theo chiếc cốc pha lê trong suốt.


*

Và xa kia phương Nam với những đứa trẻ sẽ rơi vào mù mờ lẫn lộn giữa phim ảnh và bài học lịch sử, ngây thơ về những tên thái thú Minh triều ngày nào nhân danh văn minh Hoa Hạ núp dưới mái vòm lễ tiết và cung điện uy nghi để bắt thợ giỏi, đốt sách, giết học trò… Giữa những trang sách rách nát là một khoảng trống một ngàn năm giam hãm một nền văn hóa, mỗi khi nhìn về phương Bắc là ám ảnh những ngọn roi di chứng, ngọn roi hành hạ một ý thức dân tộc.

Dưới bầu trời ồn ã hôm nay có những đứa trẻ ở xa về phương Nam đang học thứ lịch sử qua phim ảnh Trung Hoa như học cách thắt dây treo cổ văn hóa của dân tộc mình.

Nguyễn Trãi vào một ngày nào đó chỉ còn là tên một con đường như đường số 5, số 3.

Người ta sẽ mơ hồ thấy những giọt nước mắt của ông, cái nhìn nghiêm khắc của cha ông ở Ải Nam Quan, giữa một đống hàng hóa diêm dúa màu sắc từ bánh bao nhân giấy cho đến hộp thuốc tăng trưởng rau củ trên biên giới Việt - Trung.

Một nhóm người trẻ muốn gọi tên ông, vì đâu, muốn gọi mà sợ, họ sợ ông như sợ một ông già khó tính đến đánh thức và hỏi. Chỉ bọn thái thú bản địa là phải sợ. Trong mỗi các ngươi vì sao để kẻ khác kiềm hãm sức mạnh và tình yêu Tự Do của dân tộc?


Chúng ta tin ông muốn nói điều đó!

Ngọn núi xanh biếc ấy nay thuộc về Trung Hoa đè lên bùng vỡ cơn đau phục sinh, hai hòn đảo trong giông tố ngoài khơi kia đang nói một thứ ngôn ngữ lẫm liệt của lúc này.

Có phải ông muốn chia sẻ với các bạn trẻ bị treo bút, bị “mời,” bị dọa đuổi khỏi trường vì tham gia biểu tình chống Trung Quốc!

Và từ lịch sử, ông nói: Các bạn trẻ hãy đến đây. Và chỉ cho chúng ta nghe âm thanh tung tóe máu và nước mắt của người Việt và tiếng Việt rên xiết vỡ òa của từng viên gạch thành Đông Đô. Tiếng kêu của một đàn chim trốn chạy, tiếng ré hoảng hốt tóe ra vào cái ngày từ Hoàng Sa ngọn đuốc Olympic Bắt Kinh công khai tham vọng cương thổ được rước ngang Sài Gòn.

Và vào một ngày xa hơn, chính từ trung tâm của sự trốn chạy, bỏ lại mặt trời Biển Đông chìm khuất vào bình minh tăm tối, từ trung tâm của sự trốn chạy vào ngày ấy, cụm từ luôn ám ảnh, luôn vượt xa mọi sự tưởng tượng sẽ hiển hiện trên những cột mốc biên giới, hiển hiện bằng vết sơn trắng, hiển hiện như một sự săn đuổi: Đầu Thú.

Không bày tỏ ý thức Tự Do ngay lúc này, ngày tăm tối sẽ đến, chúng ta sẽ còn gì để dựng lại mặt trời.

© 2008 talawas
Các bài liên quan:


Blog của Trần Tiến Dũng (http://360.yahoo.com/trantiendung58)
Các tác phẩm trên Tiền Vệ (http://www.tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&authorId=32)
Đôi chân sợ hãi, tôi chọn bước ra (http://www.talachu.org/tho.php?bai=181)
Trần Tiến Dũng sinh năm 1958 tại Gò Công. Hiện sống và viết tự do tại Sài Gòn.
Tác phẩm Khối động (Thơ, Nxb. Trẻ 1997), Hiện (Thơ, Nxb. Thanh Niên 2000); Bầu trời lông gà lông vịt (http://www.tienve.org/home/books/viewBooks.do?action=show&bookId=1) (Thơ, Tiền Vệ 2002) Hai đóa hoa trên trán cho công dân hạng hai (Thơ, Tiền Vệ 2004). Có thơ in trong các tuyển tập: Thơ tự do, Viết, 26 Nhà thơ đương đại, Tuyển tập Tiền Vệ 2006. Một số bài thơ của Trần Tiến Dũng đã được Đinh Linh dịch ra tiếng Anh (http://www.vietnamlit.org/wiki/index.php?title=Tran_Tien_Dung), công bố trên: e Book Chester Hill, Australia 2003, Contemporary Voices from the Eastern World: An Anthology of Poem, Norton 2007, và các tạp chí Manoa, Calque.

anmota
03/23/2008, 09:17 AM
21.3.2008
Hoàng Vũ Thuật
Việt Phương - Người lữ hành cô đơn
(Về tập thơ Cửa đã mở, NXB Thanh Niên, 2008)

Lời ngỏ

Đầu xuân, tôi được món quà bất ngờ của nhà thơ Việt Phương từ Hà Nội gửi tặng, tập thơ Cửa đã mở, xuất bản 2008. Phần lớn thơ trong tập tôi đã đọc, do được ông gửi kèm trong các bức thư mà chúng tôi thường trao đổi cho nhau những năm qua. Vẫn một dòng chảy ấy, dòng chảy Cửa mở - tập thơ đầu tiên do NXB Văn Học ấn hành hồi 1970, từng là sự kiện văn học nổi bật thời bấy giờ. Tôi ghi lại cảm nhận của mình để mừng tuổi 80 của ông, một nhân cách thơ hiếm quý, nể trọng. Không lâu sau, ngày 15-3-2008, Báo Văn Nghệ số 11, Hội Nhà văn Việt Nam đã đăng nguyên văn bài viết của tôi. Nhân dịp này, tôi gửi tới độc giả talawas bài viết, với niềm tin cậy và chia sẻ của tôi.
<TABLE style="FLOAT: right; MARGIN-BOTTOM: 5px; MARGIN-LEFT: 10px" cellSpacing=0 cellPadding=3 border=0><TBODY><TR><TD width=262>http://www.talawas.org/talaDB/pics/tho210308.jpg</TD></TR><TR><TD width=262>Nhà thơ Việt Phương</TD></TR></TBODY></TABLE>Nhà hoạt động xã hội, xét mặt nào đó, gương mặt họ khó nhận diện một cách đầy đủ. Vào thời điểm lịch sử nhất định, họ hiện ra đúng họ, rồi có thể mất đi hoặc tồn tại cùng thời gian. Còn một học giả, một trí thức, gương mặt dễ nhận biết, vì họ mang trong mình những dự cảm xã hội và khát vọng muôn thuở của con người.

Hình ảnh con người từ lâu đã là tâm điểm sáng tạo của thơ Việt Phương. Ông luôn đề cao con người, một chữ người viết hoa, dù dưới góc nhìn nào, thời điểm nào. Ở tập thơ Cửa mở do nhà xuất bản Văn Học ấn hành năm 1970, có một chú thích trong bài thơ "Ta nhìn trời đêm nay và ta đọc", được ghi: Chữ người bị phá tung ra và chắp lại thành NƠI GỪI, đủ hiểu ông quan tâm và nhận thấy thân phận con người đang bị dày vò, đạo lí con người đang bị chà đạp tới lúc cần báo động. Con người trong thơ Việt Phương mang tính nhân loại, thoát khỏi mọi ranh giới vốn được qui rập công thức, duy lí. Nhưng hình ảnh lại rất cụ thể, gần gũi, rất cội rễ, không chút ảo hoá, huyễn tưởng:

Anh chưa đến hai mươi mà thấy mình già lắm
Sống thường trực của anh là lợm giọng
Chán chường muốn mửa cuộc đời ra
Mửa cả tiếng chim mửa cả màu hoa
Anh nhìn đâu cũng thấy điều đã quá nhiều lần nhìn thấy
Cả những con người cũng lặp đi lặp lại thành thiu chảy

Anh tự biết mình là tinh chất của rỗng không
Mà gân anh săn mà máu anh hồng


Khát vọng cao cả giải phóng con người thường trực xâu chuỗi thành chất triết luận trong thơ Việt Phương.

Cửa đã mở tiếp tục dòng chảy ấy. Qua thăng trầm trải nghiệm, mạch suy tưởng triết luận càng sâu đậm, nhân tình hơn. Ông luôn dành cho độc giả những điều mới mẻ và khác lạ. Không là kiểu khác lạ của lối thơ khước từ nghĩa, khước từ sự hiểu, mà sự khác lạ bắt nguồn từ một nhân sinh quan, thế giới quan, một thông điệp: Sự chưa biết của con người là vô cùng vô hạn / Biển mênh mông người mới chỉ quẩn quanh bên mạn con tàu / Cái gì con người làm ra cũng chưa đâu vào đâu và nông cạn / Chỉ tác phẩm của thánh thần hay ma quỉ là tuyệt vời bài bản trước sau (“Ngỏ”). Ông nhìn thẳng vào sự thật như nhìn vào đường vân để biết giá trị đời sống: Sự sống cố tình xấu xí từng đường vân (“Gần”). Một nhận định, một sự bừng thức, một tâm trạng? Hiểu sao cũng được, mỗi khi trái tim nhà thơ rung động cùng thân phận con người.

Không gian vô biên của vũ trụ, nhờ ánh sáng chiếu soi mà nhìn thấy được. Nhưng nếu không có con người thì vũ trụ cũng chỉ là bóng tối, một khối lặng câm. Nhờ nhận thức con người mà thấu hiểu qui luật của vũ trụ, thấy được chuyển hoá của thiên nhiên:

Có vũ trụ nằm im bặt dưới hàng mi ta


Và:

Có một mùa xuân để chùi như chiếc mùi soa
(“Có”)


Minh triết lắm mà lãng mạn lắm. Vị thế hai câu thơ trên thuộc về con người. Chỉ có trí óc và trái tim người mới thiết lập được mối quan hệ rộng lớn. Người xưa nói: Người tai mắt đứng trong thiên địa là vậy.

Thời điểm nào Việt Phương cũng có con mắt biện chứng, không xu thời hệ luỵ: Bao nhiêu đêm loang lổ / Những vì sao ánh mắt những vì sao bãi đờm (“Xa”), tất cả có cái gì giả nồng nặc giả tanh tưởi giả như một bộ phim con lợn quá dài như một trò đùa dai vô duyên (“Nhìn”), Những học thuyết phòi ra như nấm dại (“Bến”), Có lúc trời xanh như tội ác đang đùa (“Về”), Thừa sách thừa bài thừa lí luận / Nửa phần ma quỉ nửa thần tiên (“Có”).

Nhân loại hàng nghìn năm qua đã phải sống trong những thảm kịch, con người phải gánh trên lưng mình những nghịch lí. Con người bị huyễn hoặc, hoặc tự huyễn hoặc chính mình. Văn học luôn tìm cách cảnh báo, giúp con người nhận thức và tìm cách thoát khỏi những điều trái ngược phi lí ấy. Vì thế nhà thơ là người lữ hành cô đơn, một mình xuyên qua bão cát cuộc đời để tìm ra chân lí của lẽ sống, tìm tới cái ý nghĩa nhân văn của cuộc sống. Cô đơn trong thơ ông đâu phải là cô đơn của một kẻ lẻ loi buồn chán, mà là sự cô đơn của một con đường thơ, của một bản ngã, là đường biên thẩm mĩ để làm nên sự sáng tạo độc đáo:

Anh thèm khóc thèm cười thèm nổ tung tan tác
Người bộ hành cô đơn trong bão cát mịt mù
Con khủng long vẩn vơ nghe thủy triều dào dạt
Trời biển hoàng hôn rờn rợn hoang vu

Anh thèm thực thèm hư thèm cháy bùng rừng rực
Vú em tròn trên khuôn ngực mảnh mai
Trăng mang mang suốt đêm dài trằn trọc
Sao không tên soi trái đất không người
(“Lá”)


Có lẽ đồng cảm với con người và thơ qua tập Cửa mở , một sự kiện văn học đầu thập niên 70, mà đại tướng Võ Nguyên Giáp đã làm mấy vần thơ buông tặng Việt Phương lúc ông đã vào tuổi 60. Sự gặp gỡ duyên kì ngộ của hai tâm hồn văn hoá bộc bạch trong âm điệu ý nhị: Ê a, ê a / Trẻ mãi, ê a, trẻ mãi không già… a a / Trong những ngày gạo châu, củi quế / Ta vẫn có những giờ phút rất vui, rất "giui" / Ê a, ê,a…

Đọc thơ Việt Phương, ta gặp những quãng trống, gấp gãy, những bước nhảy đột biến, hình tượng thơ hàm chứa, đặt bài thơ luôn ở tư thế mở. Hãy dẫn trọn vẹn một bài thơ làm thí dụ:

Em là người giày vò anh và bị anh giày vò nhất
Người cuối cùng gặp trên đường
Vũ trụ một mình cô độc
Những hình mây mời mọc
Lang thang
Vực thẳm óng vàng
Rơi bao giờ đến đáy
Miếng cháy
Thơm mùi cơm hàng ngày
Bàn tay
Thô ráp xoa đầu bóp trán
Giọt sáng
Từ bóng đêm đóng váng đọng bùn
Hơi thở
Trong họng đen nứt rạn trời non
(“Hát”)


Có thể xem đây là bài thơ tình, cũng có thể không phải. Nhân vật em và anh trong câu thơ đầu như hai đối tác để triển khai chuỗi hình ảnh không lấy gì ăn nhập với nhau. Mỗi câu thơ có một vị trí, cung bậc riêng, âm thanh màu sắc cũng không đồng hợp. Tất cả đi ra từ một ý tưởng siêu thực ráp lại để làm nên giọng "Hát", (cũng có thể không là giọng hát). Hình tượng toàn bài tập trung vào câu kết. Có cái gì đó đang trỗi dậy mãnh liệt. Cảm xúc nén lại, câu thơ bật ra, để rồi người đọc lắng trong dư vị riêng có. Tư thế mở đưa tư tưởng bài thơ đi xa, nhiều chiều hướng. Không phải ai cũng nhận ra và làm được điều đó. Ví như khi ta tự do trong ngôi nhà khép kín lâu ngày, lúc bước ra ngoài, nếu không có sự chủ động, cứ ngơ ngác không biết đi đâu và để làm gì. Nhà thơ cũng phải tự giải phóng mình trước khi xã hội giải phóng. Chỉ có bản lĩnh, dũng cảm vượt rào, mới sản sinh ra tác phẩm văn học đúng nghĩa của nó.

Năm 1970 Việt Phương đã vượt rào để gióng lên tiếng chuông cảnh tỉnh. Từ đó đến nay, gần bốn mươi năm sau, ông vẫn tiếp tục hành trình trên con đường đã chọn. Thơ ông đẩy tới tận cùng bản thể bằng tâm cảm rất thiền: Ta ở trên cao ta ngắm xuống trời / Nắng chiếu ngược lên người em rực rỡ / Xa dưới xa những tầng mây khép mở / Đất là tâm cho vũ trụ về soi (“Tâm”). Một cái nhìn thật luyến ái: Ôi tình yêu biết thế nào là đủ / Đừng ai hỏi và đừng ai trả lời (“Im”), Hết cỡ chân trời sao vẫn chật / Một cơn mưa biển thật là em (“Cát”). Những sóng đôi đó nương tựa vào nhau làm cho ý thơ được nhân rộng.

Bao nhiêu con đường nhân loại đã trải, vinh quang và đen tối, hạnh phúc và đau khổ, nhớ rồi quên, quên rồi nhớ, mà sao khát vọng cũng chỉ mới bắt đầu. Có phải thơ là khởi nguyên của mọi sự khởi nguyên?

Một tiếng chim rừng ngập ngừng thỏ thẻ
Đời gọi ta bằng cả sự lặng im


Trong vang vọng của sự lặng im, con người giác ngộ, nhận biết và đứng lên.

Ngày Thơ Việt Nam, 2008
Nguồn: Báo Văn Nghệ số 11, 15.3.2008