PDA

View Full Version : Goi Loi Cam On



Khách Viếng Thăm
08/05/2008, 09:13 PM
Toi Muốn Có ý Kiến Vềbài Viết Oong Dinh Duy Tự Thì Làm Sao? Tác Giả Là Ai ây / Toi Có Goi Loi Cam ơn Dươc Khong

anmota
08/05/2008, 09:21 PM
http://www.quangngai.net/forum/showthread.php?t=13132

KVT là ai vậy hể ?
AMT

PDK
08/05/2008, 09:30 PM
Tìm trên Google có hai bài (http://www.google.ca/search?hl=en&q=%22%C4%90inh+Duy+T%E1%BB%B1%22&btnG=Search&meta=)

Anh/Chú/Bác cứ tự nhiên đọc, tự nhiên phê bình, tự nhiên cám ơn ... :D :D

Nơi đây chéc có bác Anmota với anh LHK ... tán ra, tán vào được thui. Cỡ em/cháu thì ... ngồi gãi gãi tai ... lén(g) nghe :D :D



:D :D :D

---

Lo cho các di tích chưa xếp hạng ở Quảng Ngãi! (22/09/2006)

http://www.quangngai.gov.vn/quangngai/tiengviet/bao_qn/2006/13436/13436.gif (http://www.quangngai.gov.vn/quangngai/tiengviet/bao_qn/2006/13436/index.php?c_url=/quangngai/tiengviet/bao_qn/2006/13436/index.php&v_url=#) Nhà bia ông Nghè.
Có một lần, tôi tìm được tấm bia khắc bài văn "Đinh Gia yển ký" ghi công đức của ông Nghè Kim Đinh Duy Tự hiện vẫn còn tại xã Bình Mỹ huyện Bình Sơn, có nhà bia, có dấu tích đập nước do các cụ và dân làng xây đắp, nhưng xót thay bia đã bị kẻ gian đánh gãy chân, còn nhà bia thì dãi dầu nắng mưa.

Xin thưa rằng, cội nguồn của sự việc là hồi nửa cuối thế kỷ XIX, cụ Đinh Duy Tự đã vận động dân làng Trà Bình Trại cùng đắp đập Ông Cá, giữ nước cày cấy cho dân no ấm. Nhà trí thức Nguyễn Thông bấy giờ còn đang làm quan Bố chánh (tức quan đầu tỉnh) Quảng Ngãi đã về dự khánh thành đập, chung vui và viết bài "Đinh Gia yển ký" ghi lại sự tích của đập. Tưởng bài văn đã thất lạc, ai dè nó còn được lưu giữ nhờ tấm văn bia chữ Hán, cẩn thận đặt trong nhà bia, do các môn sinh của thầy Đinh Duy Tự dựng đặt dưới thời vua Duy Tân. May mắn lắm, nhất là trải qua chiến tranh, quân Mỹ ném bom bắn pháo tơi bời nhưng hình như nhờ khí thiêng nên nhà bia còn đứng đó. Đó là một di tích rất có giá trị, thật cảm động của ông cha thời xưa đầy gian khó. Nhưng hỏi sao di tích bao năm để cho hoang phế? Người ta bảo chưa làm hồ sơ xếp hạng. Hỏi sao chưa làm hồ sơ xếp hạng? Họ bảo không có kinh phí (!). Thế đấy. Một trường hợp khác tương tự là Văn miếu huyện Chương Nghĩa tôn vinh sự học, chúng tôi đã tìm ra nó vẫn còn tồn tại ở một nơi hẻo lánh của phường Nghĩa Chánh (TP. Quảng Ngãi), nhưng hỏi những người có trách nhiệm, thì câu trả lời cũng y hệt như trên. Hỏi mai này, với tốc độ đô thị hoá như hiện nay, làng trở thành nhà, thành phố, liệu di tích như vậy có còn không? Lấy gì để chứng minh với thiên hạ, nói với con cháu đất này có văn hiến, có văn hoá đây? Tôi về xã Hành Thịnh, hỏi và rất lấy làm ngạc nhiên vì một chiến thắng tầm cỡ như chiến thắng Hành Thịnh thời chống Mỹ - cứu nước cũng chưa lập hồ sơ xếp hạng di tích. Ngoài Ba Gia, Vạn Tường là những chiến thắng rất lớn, do bộ đội Quân khu làm chủ công, thì chiến thắng Hành Thịnh thuộc hạng chiến thắng lớn nhất do các lực lượng vũ trang địa phương Quảng Ngãi tạo được, đã ghi rành rành trong sử sách. Vậy di tích này tại sao không xếp hạng, và sẽ còn lưu lại được gì trong ký ức của các thế hệ hôm nay và mai sau? Di tích chiến thắng thời chống Mỹ - cứu nước mới đây thôi mà còn bị ứng xử như thế, trách chi các di tích cổ của cha ông cách nay hàng mấy trăm năm!

Nói cho công bằng thì với sự nỗ lực của anh em cán bộ chuyên môn của Bảo tàng Tổng hợp Quảng Ngãi và các huyện, xã, mà nhiều di tích trong tỉnh đã được xếp hạng từ các năm trước, trong đó có nhiều di tích rất xứng đáng là di tích cấp tỉnh, cấp quốc gia. Nhưng giải thích làm sao khi có những di tích như đã kể ở trên lại vẫn chưa được lập lại hồ sơ xếp hạng để mà có kế hoạch bảo tồn, tôn tạo? Mà các di tích như nhà bia "Đinh Gia yển ký", như Văn miếu huyện Chương Nghĩa, hay như chiến thắng Hành Thịnh, với tầm quan trọng của sự kiện và dấu tích mà nó để lại, còn xứng tầm hơn nhiều so với một số di tích đã được xếp hạng. Trong tỉnh Quảng Ngãi còn có bao nhiêu di tích tương tự như vậy chưa được xếp hạng? Chừng nào thì xếp hạng xong cho tất cả các di tích trong tỉnh Quảng Ngãi? Chúng tôi đã nhiều lần đặt các câu hỏi này cho các cơ quan, đơn vị chức năng ở tỉnh Quảng Ngãi, nhưng không nhận được câu trả lời.

Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng các di tích lịch sử - văn hoá của dân tộc, gồm cả di tích của thời cổ đại lẫn thời hiện đại. Hàng loạt các văn bản của Đảng, pháp luật của Nhà nước được ban hành từ trước đến nay đều chú trọng nhấn mạnh đến việc này. Điều đó nhiều người biết, cán bộ ngành bảo tồn bảo tàng càng biết rõ, bất tất phải dài lời. Nhưng tại sao lại diễn ra tình trạng trên? Cán bộ chủ chốt của ngành VHTT tỉnh giải thích: "Vì việc lập hồ sơ xếp hạng di tích cấp tỉnh đã có văn bản phân cấp cho cấp huyện lo". Hỏi tại sao cấp huyện không thực hiện được? Trả lời rằng vì chỉ có một ít huyện có cán bộ chuyên môn bảo tồn bảo tàng. Vậy thì văn bản ấy chưa hội đủ điều kiện, chưa có tính khả thi trên thực tế và cần phải thay thế bằng một văn bản khác, sao không thay thế? Câu hỏi lại rơi vào im lặng. Và việc lập hồ sơ xếp hạng di tích ở Quảng Ngãi lại tiếp tục diễn ra theo kiểu "tự phát": Nơi nào có tiền, có kinh phí thì cứ thuê cán bộ bảo tồn bảo tàng lập hồ sơ xếp hạng di tích, nơi nào không có thì đành thôi, dù anh xứng đáng gấp bội lần.

Hẳn những người có chức trách sẽ còn đưa ra nhiều lý do để biện bạch cho tình trạng này từ rất lâu rồi, nhưng trong khi người ta biện bạch thì di tích có "chờ" nổi, có thoát khỏi đổ nát, xâm phạm không? Thật đáng buồn cho cái tâm, cái tầm, mà hơn hết là sự vô cảm của những người có trách nhiệm.
Thật đáng lo cho những di tích chưa xếp hạng ở Quảng Ngãi!
Cao Chư





---

Mấy dấu tích về Tây Sơn trên đất Quảng Ngãi
Trong Hịch truyền quan lại, quân dân các phủ Quảng Nghĩa, Quy Nhơn năm 1792, vua Quang Trung có viết: "Trẫm đã chiến thắng khắp cả trong Nam, ngoài Bắc. Trẫm nhận rằng có được những chiến thắng ấy chính là nhờ có sự phù trợ hết lòng của nhân dân hai phủ. Hai phủ cũng đã tiến cử lên trẫm nhiều người trung dũng, hiền tài để giúp rập triều đình. Trẫm đem quân tới đâu, quân thù đều phải thất bại hoặc tan rã". Điều đó cho thấy Quang Trung đặc biệt quan tâm đến hai phủ Quy Nhơn và Quảng Nghĩa.
Ở tỉnh Bình Định hiện vẫn còn lưu nhiều dấu tích về Tây Sơn; còn ở Quảng Ngãi, sau cuộc trả thù của Gia Long đối với những người theo Tây Sơn, tuy dấu tích về Tây Sơn đã bị xóa nhiều, song vẫn chưa phải đã hết và rất tiếc là cho đến nay vẫn chưa được tìm hiểu đầy đủ.
Trước đây, chúng tôi từng giới thiệu họ Võ ở làng Châu Sa (Tịnh Châu, Sơn Tịnh) truyền rằng dòng họ Võ Văn Dũng vốn từ Châu Sa vào Bình Khê sinh sống từ mấy đời trước Võ Văn Dũng. Chúng tôi cũng từng giới thiệu ngôi mộ cổ kỳ lạ ở làng Đồng Xuân (xã Hành Thịnh, huyện Nghĩa Hành) tương truyền là phần mộ của Trần Quang Diệu. Chưa có gì thật chắc chắn, tuy nhiên, trên đường nghiên cứu điền dã, chúng tôi còn được biết thêm những dấu tích có liên quan đến Tây Sơn như sau:
Ở thôn Phước Toàn, thuộc xã Đức Hòa, huyện Mộ Đức, có dòng họ Trần tiền hiền còn giữ được gia phả. Theo đó, ông tổ họ là Trần Văn Đạt quê tổng Vạn Phúc, huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà Đông tùng chinh với vua Lê Thánh Tông năm 1471 và ở lại định cư tại đất này, mộ dân khai khẩn được hàng ngàn mẫu ruộng, lập Vạn Phước trại (tên quê cũ), sau mấy đời cùng dân địa phương tiếp tục khai khẩn lập được cả thảy 6 xã. Dòng họ Trần khá phát đạt. Chuyện kể rằng đến khi Tây Sơn từ Quy Nhơn tiến quân ra, Nguyễn Huệ đã cho chiếm lấy nhà thờ họ Trần làm bản doanh, tịch thu cả của cải, ruộng đất thì sung công. Nếu câu chuyện này là xác thực thì quả nó minh chứng rất rõ chủ trương lấy của người giàu chia cho người nghèo của phong trào Tây Sơn, nó cũng cho thấy cách làm là khá mạnh tay, song có thể nhờ vậy mà Tây Sơn được dân nghèo và nghĩa sĩ ủng hộ.
Ở làng Mỹ Khê Tây (nay thuộc xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh) có hai ngôi mộ đất của vợ chồng Tú Đức hầu Trương Đăng Đồ. Sử triều Nguyễn từng chép, thân phụ đại thần Trương Đăng Quế là Trương Đăng Phác từng làm Tri phủ triều Tây Sơn, sau được Gia Long lưu nhiệm. Anh ruột ông Đăng Phác là Trương Đăng Đồ cùng vợ là Nguyễn Thị Dung (người huyện Mộ Đức) đều là tướng Tây Sơn. Bà Dung cùng 4 nữ tướng khác, trong đó có nữ tướng lừng danh Bùi Thị Xuân, được người đời gọi là "Tây Sơn ngũ phụng thư". Khi quân Nguyễn đánh chiếm Thăng Long, vợ chồng Tú Đức hầu phò vua Cảnh Thịnh chạy đi, nhưng rồi vua bị bắt, ông bà đã tự vẫn để giữ trọn khí tiết. Nhân dân sở tại đã chôn cất và thờ phụng. Nhưng làm cách gì mà mộ ông bà lại có ở Mỹ Khê Tây? Theo dòng họ Trương, cho đến khi Trương Đăng Quế ra làm quan lớn dưới triều Nguyễn, ông đã bí mật nhờ người ra đưa hài cốt của ông bà về quê, có lẽ là bằng đường thủy.
Ở địa phận làng An Chỉ (nay thuộc xã Hành Phước, huyện Nghĩa Hành) có địa danh núi Định Cương, tên núi tương truyền do có quân Tây Sơn dừng lại ở đây và luyện tập. Cũng ở vùng này, người ta lượm được một số hòm đạn gang to có lẽ là đạn súng thần công. Điều đáng chú ý là cách An Chỉ khoảng 3 km về phía đông nam có làng Chú Tượng có nghề thợ đúc nổi tiếng ở Quảng Ngãi, có bài vè thợ đúc với mấy câu: "Đúc đồ công dụng, đúc súng cho vua...". Phải chăng Chú Tượng (thuộc huyện Mộ Đức) từng tham gia đúc vũ khí cho phong trào Tây Sơn?
Ở làng Trà Bình Trại (nay thuộc xã Tịnh Trà, huyện Sơn Tịnh) có đập Ông Cá, có thể được đắp vào đời Tây Sơn. Nhân sĩ của làng là cụ Tú tài Đinh Duy Tự (Nghè Kim) năm 1872 có viết bài phú "Đập Ông Cá" trong đó có viết: "... quân Tây (Sơn) khai ruộng đôi bên. Ông Cá (Nguyễn Mỗ) động binh kinh doanh, đắp bờ ngăn suối, vét mương hai ngả. Dẫn nước về đồng, tưới ruộng tưới vườn, dân chúng cậy nhờ bảy tám mươi năm, thiên hạ làm ăn đằm thắm các thôn nhiều xã...".
Ở làng Thiết Trường (nay thuộc thị trấn Mộ Đức) có một số địa danh mà người dân ở đây truyền rằng có liên quan đến phong trào Tây Sơn, như Lò Thổi là nơi luyện quặng, rèn đúc vũ khí; Gò Tượng nơi cột nuôi voi; Vườn Bếp là nơi thổi cơm của quân Tây Sơn do Trần Quang Diệu chỉ huy về đóng ở đây và tuyển mộ thêm binh lính. Tương tự như vậy, ở một xóm nay thuộc tỉnh lỵ Quảng Ngãi có tên Tàu Tượng tương truyền là nơi nhốt và luyện voi của nữ tướng Bùi Thị Xuân.
Ở làng Bồ Đề (nay thuộc xã Đức Nhuận, cũng huyện Mộ Đức) có chuyện xe nước làng Bồ Đề liên quan đến "Vua Nhạc", sau này được chủ sự hành chính Pháp ở Quảng Ngãi là La Borte ghi lại vào năm 1925. Chuyện truyền rằng người sáng chế ra các bờ xe nước nổi tiếng ở Quảng Ngãi là "lão Thêm" người làng Bồ Đề, vào năm 1790, sau đó được "vua Nhạc" châu phê làm "Thính chấp bằng".
Còn có khá nhiều những dấu tích khác về Tây Sơn trên đất Quảng Ngãi, như thung lũng Tuyền Tung (tây huyện Bình Sơn) tương truyền là một căn cứ của Tây Sơn; như ở làng Kim Giao (Phổ Thuận, Đức Phổ) có ngôi mộ khá rộng, tương truyền là mộ của một vị tướng Tây Sơn... mà có những chuyện đã được một số tác giả giới thiệu, đây xin khỏi nhắc lại. Điều đó cho thấy dù bị nhà Nguyễn ra sức xóa dấu vết và trải lớp bụi thời gian hơn 200 năm, nhưng những dấu tích về Tây Sơn trên đất Quảng Ngãi vẫn còn rất đáng chú ý. Nó cho thấy tấm lòng của người dân Quảng Ngãi đối với phong trào Tây Sơn cũng như sự ủng hộ của họ đối với phong trào. Rất nên nghiên cứu, tìm kiếm các dấu tích như vậy một cách đầy đủ, tất nhiên là với một tinh thần công phu, nghiêm túc và khoa học.
. Minh Tuệ

lê hồng khánh
08/05/2008, 10:37 PM
[QUOTE=PDK;63202]Tìm trên Google có hai bài (http://www.google.ca/search?hl=en&q=%22%C4%90inh+Duy+T%E1%BB%B1%22&btnG=Search&meta=)

Anh/Chú/Bác cứ tự nhiên đọc, tự nhiên phê bình, tự nhiên cám ơn ... :D :D

Nơi đây chéc có bác Anmota với anh LHK ... tán ra, tán vào được thui. Cỡ em/cháu thì ... ngồi gãi gãi tai ... lén(g) nghe :D :D



:D :D :D

Chéc vị KVT nầy hỏi anh Minh Tuệ chứ hổng hỏi tui làm gì đâu. Mà hỏi ai cũng được. Tui với MT là bạn, đồng niên , đồng ẩm thuốc rầy thủy, hổng tương cố mà cũng tương kiến. Tui với MT cùng tìm hiểu về ông Đinh Duy Tự lúc 2 thèng cùng làm cuốn sách về Sơn Tịnh. Nhưng các bác yên tâm, tui hổng chộp bài của MT đâu, bài tui in trước, rất lâu. Dĩ nhiên hén cũng viết cái của hén, đếch cần tài liệu của tui. Mà nếu cần thì 2 thằng tui thoải mái. Cho nhau thì giàu thêm. Trong bộ Địa chí Quảng Ngãi (sắp in), tui viết phần nhân vật chí , có mục về Đinh Duy Tự...Cũng nhân đây xin thưa, những gì tui viết về các danh nhân Quảng Ngãi lâu nay vốn là của ăn vay từ rất nhiều người. Tui chỉ có công chép chép, sửa sửa , thêm thêm. Nay chính thức nói rằng , ai muốn dùng thì dùng, chẳng có gì ghê gớm, của đời trà cho đời. Chỉ xin đừng có chép y sì mà để tên khác như cái cụ gì trên "Kiến thức ngày nay" của ông anh đồng hương Sơn Tịnh HTQ. Như vậy hơi kỳ kỳ thôi, còn thì...úi cha, thân tứ đại mình đây mà giữ hổng xong , giữ cái chữ nghĩa mà làm gì, trừ 2 chữ thượng hạ, để khi bà con lấp đất khỏi lộn đầu:wink:

anmota
08/06/2008, 06:02 AM
Trưởng thành phụ mẫu định sính, đi cưới con gái của ông Trần Văn Khóa là Trần Thị Bốn.


1/Tôi nhớ như trong gia phả của họ Trần, Ông Trần (Sáu xã -Vạn Phước trại) có tên ông Trần văn Khóa.

2/http://www.vietnamgiapha.com/XemChiTietTungNguoi/66/7/LÊ%20ÐẮC%20DỰ.html
Bà Trần thị Bốn, là con gái ông Trần văn Khóa.
Ông Lê Đắc Dự, chồng bà Bốn.
http://www.vietnamgiapha.com/XemChiTietTungNguoi/66/7/LÊ%20ÐẮC%20DỰ.html
3/Ông Thuỷ tổ họ Lê này , Sinh ngày mồng 2 tháng giêng năm Canh Dần - 1410.
Tôi nhớ Ông Trần Cẩm, Sáu xã...sinh năm1545...
Cách sau 135 năm.
4/ Phải chăng...các cái chữ " Hà Đông, Vạn phúc..." trong bài viết của Minh Tuệ về ông Thuỷ tổ họ Trần ( Địa thi - Vạn Phúc - Sáu xã )là có gốc ở Tam kỳ ngày nay, tức Hà đông vào thế kỷ 15, 16...

Nhờ anh Khánh
Ông Minh Tuệ này chắc...cũng thuộc thời " Tây sơn "... như hầu hết người Quảng ngãi Bình Định, nhất là Bình định...Không có hơi hám ông Quang Trung, Nguyễn Huệ, Người Nghệ, gố họ Hồ.... là không được!

GIA
PHẢ
TỘC

QUỐC Gia phả (http://www.vietnamgiapha.com/XemGiaPha/66/giapha.html) Phả ký (http://www.vietnamgiapha.com/XemPhaKy/66/pha_ky.html) Thuỷ tổ (http://www.vietnamgiapha.com/XemThuyTo/66/thuy_to.html) Phả hệ đồ Tộc ước (http://www.vietnamgiapha.com/XemTocUoc/66/toc_uoc.html) Hương hỏa (http://www.vietnamgiapha.com/XemGhiChu/66/huong_hoa.html) Hình Ảnh (http://www.vietnamgiapha.com/XemHinhAnh/66/hinhanh.html) PHẢ HỆ - PHẢ ĐỒ TOÀN GIA TỘC http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//empty.gifhttp://www.vietnamgiapha.com/treeimg//globe.gifTOÀN BỘ CÂY GIA PHẢhttp://www.vietnamgiapha.com/treeimg//empty.gifhttp://www.vietnamgiapha.com/treeimg//minusbottom.gif http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//m.jpg 1.1 LÊ QUỐC CHÁNH (http://www.vietnamgiapha.com/XemPhaHe/66/pha_he.html#)http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//empty.gifhttp://www.vietnamgiapha.com/treeimg//minusbottom.gif http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//m.jpg 2.1 LÊ QUỐC KHÁNH (http://www.vietnamgiapha.com/XemPhaHe/66/pha_he.html#)http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//empty.gifhttp://www.vietnamgiapha.com/treeimg//minusbottom.gif http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//m.jpg 3.1 Le Quoc Thi (http://www.vietnamgiapha.com/XemPhaHe/66/pha_he.html#)http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//empty.gifhttp://www.vietnamgiapha.com/treeimg//minusbottom.gif http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//m.jpg 4.1 LÊ QUỐC SỬ (http://www.vietnamgiapha.com/XemPhaHe/66/pha_he.html#)http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//empty.gifhttp://www.vietnamgiapha.com/treeimg//minusbottom.gif http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//m.jpg 5.1 LÊ ÐẮC ÐÍNH (http://www.vietnamgiapha.com/XemPhaHe/66/pha_he.html#)http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//empty.gifhttp://www.vietnamgiapha.com/treeimg//minusbottom.gif http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//m.jpg 6.1 LÊ ÐẮC NGHIÊM (http://www.vietnamgiapha.com/XemPhaHe/66/pha_he.html#)http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//empty.gifhttp://www.vietnamgiapha.com/treeimg//minusbottom.gif http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//m.jpg 7.1 LÊ ÐẮC DỰ (http://www.vietnamgiapha.com/XemPhaHe/66/pha_he.html#)http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//empty.gifhttp://www.vietnamgiapha.com/treeimg//minusbottom.gif http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//m.jpg 8.1 LÊ ÐẮC NHIỄM (http://www.vietnamgiapha.com/XemPhaHe/66/pha_he.html#)http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//empty.gifhttp://www.vietnamgiapha.com/treeimg//minusbottom.gif http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//m.jpg 9.1 LÊ ÐẮC LỘC (http://www.vietnamgiapha.com/XemPhaHe/66/pha_he.html#)http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//empty.gifhttp://www.vietnamgiapha.com/treeimg//minusbottom.gif http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//m.jpg 10.1 LÊ ÐẮC TÀI (http://www.vietnamgiapha.com/XemPhaHe/66/pha_he.html#)http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//empty.gifhttp://www.vietnamgiapha.com/treeimg//minusbottom.gif http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//m.jpg 11.1 LÊ ÐẮC DĨ (http://www.vietnamgiapha.com/XemPhaHe/66/pha_he.html#)http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//empty.gifhttp://www.vietnamgiapha.com/treeimg//minusbottom.gif http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//m.jpg 12.1 LÊ ÐẮC NHIỄU (http://www.vietnamgiapha.com/XemPhaHe/66/pha_he.html#)http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//empty.gifhttp://www.vietnamgiapha.com/treeimg//minusbottom.gif http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//m.jpg 13.1 LÊ VĂN VỆ (http://www.vietnamgiapha.com/XemPhaHe/66/pha_he.html#)http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//empty.gifhttp://www.vietnamgiapha.com/treeimg//minusbottom.gif http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//m.jpg 14.1 LÊ VĂN LƯỢNG (http://www.vietnamgiapha.com/XemPhaHe/66/pha_he.html#)http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//empty.gifhttp://www.vietnamgiapha.com/treeimg//minusbottom.gif http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//m.jpg 14.2 LÊ VĂN THỪA (http://www.vietnamgiapha.com/XemPhaHe/66/pha_he.html#)http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//empty.gifhttp://www.vietnamgiapha.com/treeimg//minusbottom.gif http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//m.jpg 13.2 LÊ VĂN NHUẬN (http://www.vietnamgiapha.com/XemPhaHe/66/pha_he.html#)http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//empty.gifhttp://www.vietnamgiapha.com/treeimg//minusbottom.gif http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//m.jpg 13.3 LÊ VĂN CHIÊU (http://www.vietnamgiapha.com/XemPhaHe/66/pha_he.html#)http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//empty.gifhttp://www.vietnamgiapha.com/treeimg//minusbottom.gif http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//m.jpg 14.1 LÊ VĂN SƠN (http://www.vietnamgiapha.com/XemPhaHe/66/pha_he.html#)http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//empty.gifhttp://www.vietnamgiapha.com/treeimg//minusbottom.gif http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//m.jpg 14.2 LÊ VĂN THU (http://www.vietnamgiapha.com/XemPhaHe/66/pha_he.html#)http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//empty.gifhttp://www.vietnamgiapha.com/treeimg//minusbottom.gif http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//m.jpg 13.4 LÊ VĂN HOA (http://www.vietnamgiapha.com/XemPhaHe/66/pha_he.html#)http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//empty.gifhttp://www.vietnamgiapha.com/treeimg//minusbottom.gif http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//m.jpg 14.1 LÊ VĂN THIẾT (http://www.vietnamgiapha.com/XemPhaHe/66/pha_he.html#)http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//empty.gifhttp://www.vietnamgiapha.com/treeimg//minusbottom.gif http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//m.jpg 14.2 LÊ VĂN HƯNG (http://www.vietnamgiapha.com/XemPhaHe/66/pha_he.html#)http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//empty.gifhttp://www.vietnamgiapha.com/treeimg//minusbottom.gif http://www.vietnamgiapha.com/treeimg//m.jpg 14.3 LÊ VĂN CHẤT (http://www.vietnamgiapha.com/XemPhaHe/66/pha_he.html#)

Gia Phả LÊ QUỐC
Toàn bộ thông tin trong gia phả này là thuộc bản quyền của tộc LÊ QUỐC.
Mọi sự trích dẫn phải được phép của nguời đại diện tộc LÊ QUỐC. Mọi thiết kế, hình ảnh trong trang web này là thuộc bản quyền của Việt Nam Gia Phả (http://vietnamgiapha.com/).
http://www.quangngai.net/forum/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=63205

anmota
08/06/2008, 06:47 AM
Ông Thuỷ tổi họ Lê quốc...này sinh năm 1410...
Có cô cháu dâu đời thứ Sáu, là bà Trần thị Bốn, con gái ông Trần văn Khóa.
...
Ông Trần Cẩm, vạn Sáu xã sinh năm 1545...dinh điền miệt Thi phổ Lương Nông, Bàu Súng năm 1596/1597...

Gia phả nhà này có ông Trần văn Khóa, hay Trần văn Khoa...hả anh Khánh.

1410 - 1545 = 135 năm...
135/ 5 đời = 27 năm/1đời.

Tôi nghi nghi mấy chữ Vạn Phúc , Hà đông...mà nhà họ Trần Quảng ngãi hay nhắc đến thì là ( Tam kỳ) Hà Đông...Quảng Nam.

Ông Minh Tuệ, hình như cũng phải thuộc về...đời Tây sơn..hả anh Khánh?

anmota
08/06/2008, 07:08 AM
http://www.vietnamgiapha.com/XemChiTietTungNguoi/66/23/giapha.html

Gia phả này đáng quý lắm.
Ông Thuỷ tổ, sinh năm 1410.
Ông đời 13 , sinh năm 1858.
Nắm mắt làm con toán : (1858 - 1410) chia cho 12 khoảng cách (13 -01 =12) Ta có :
448 ; 12 : 36 ,5 ;
Trung bình "Ba mưới sáu năm rưỡi " là khoảng cách giữa hai đời...
Như vậy, các nhà làm gia phả...(khi phải tính phỏng chừng về số đời của dòng họ vì không ghi được ngày tháng năm sinh của Tổ tiên thời 1400 - 1500 - 1600- 1700 - 1800, 1900) nên chú ý...

Các cụ ta xưa...lấy vợ...trẻ , sinh con trễ...?
AMT

bilu
08/06/2008, 09:16 AM
...Cũng nhân đây xin thưa, những gì tui viết về các danh nhân Quảng Ngãi lâu nay vốn là của ăn vay từ rất nhiều người. Tui chỉ có công chép chép, sửa sửa , thêm thêm. Nay chính thức nói rằng , ai muốn dùng thì dùng, chẳng có gì ghê gớm, của đời trà cho đời. Chỉ xin đừng có chép y sì mà để tên khác như cái cụ gì trên "Kiến thức ngày nay" của ông anh đồng hương Sơn Tịnh HTQ. Như vậy hơi kỳ kỳ thôi, còn thì...úi cha, thân tứ đại mình đây mà giữ hổng xong , giữ cái chữ nghĩa mà làm gì, trừ 2 chữ thượng hạ, để khi bà con lấp đất khỏi lộn đầu:wink:

Của đời trả cho đời:

http://www.ugkrishnamurti.net/

"My teaching, if that is the word you want to use, has no copyright. You are free to reproduce, distribute, interpret, misinterpret, distort, garble, do what you like, even claim authorship, without my consent or the permission of anybody."

(U. G. Krishnamurti)

lê hồng khánh
08/06/2008, 09:31 AM
[QUOTE=bilu;63219]Của đời trả cho đời:

http://www.ugkrishnamurti.net/

Thôi đi cha, đừng có phỉnh tui nghen. Hồi nhỏ tui đọc cái ông Ấn độ nầy (bản dịch Phạm công Thiện, cái cuốn gì đó...à " Tự do đầu tiên và cuối cùng", phải hông hổng biết?), chưa hiểu được bao nhiêu nhưng cứ ám ảnh. Tui nhớ hình như có một chương là " Về tình yêu"...Hột-mít-hột-na-mược-tao! Mược ổng, mược tui, mược PDK, mược nẩu !

bilu
08/06/2008, 09:59 AM
Có lẽ anh lộn với ông J. Krishnamurtri rồi. Hai ông đều là những nhà hiền triết nổi danh của thế kỉ 20, đều là Ấn Độ. J. Krishnamurtri nổi danh trước và theo tui có lẽ nổi danh hơn cả UG K.

Cái cuốn sách mà anh nói có lẽ là cuốn "The First and Last Freedom"
"...Một cái đầu óc đã bị điều kiện hóa, đã rập khuôn, dù có được gọi là có lương tri, cũng không thể có được tự do, và như thế, không thể hội nhập được với thực tại. Thượng đế, thực tại, hay tùy ý bạn muốn gọi là gì thì gọi, từ ngữ không phải là chuyện quan trọng, chỉ có thể hiển lộ khi có tự do, và sẽ không thể có tự do khi mà chúng ta còn bị cưỡng bách, dù là tích cực hay tiêu cực, do sự sợ hãi. Không thể có tự do nếu bạn còn muốn đạt một mục tiêu cho bạn và bạn tự cột mình vào cái mục tiêu đó. Bạn có thể đã thoát khỏi quá khư, nhưng tương lai sẽ cột bạn lại, thế là hết tự do rồi. Chỉ có trong tự do người ta mới có thể khám phá ra mọi thứ mới mẻ, từ ý nghĩ, cảm giác, nhận thức. Bất cứ một loại gò bó nào đặt căn bản trên nền tảng của cưỡng bách đều chối bỏ tự do, dù là chính trị hay tôn giáo, khi mà đã bị gò ép, bị tuân theo một hành động có mục tiêu đặt ở đằng trước, đó là trói buộc, đầu óc hết tự do." ( J. Krishnamurti)

và trang mạng về J K ở đây:

http://www.kinfonet.org/
http://www.kfa.org/

lê hồng khánh
08/07/2008, 03:05 PM
Cám ơn anh Bilu nhiều nhiều, nhưng thui, ông chà dà nào cũng được ; cứ đen thui mà bán dải ở đường Lê Trung Đình là gọi Chà dà , hổng cần biết loà Java, Hindu gì cả !...
Boác AMT, bi chừ soáng rùi , tui phoải đi xách nước cơm cho boà xoã ( để boả cho heo eng), moai tui mứ noái chuyện Tây Sơn, cho doài doài. Tui chỉ xin nói trước với oai đó rằng " Tui cũng tự hồ về trận Đống Đoa dữ lắm, như bất cứ một người Việt nào. Nhưng đừng có tưởng Tây Sơn coái gì cũng ngon mà bét quàng, bét nẻo . Dân Quảng Ngoãi ủng hộ Tây Sơn dữ thiệt, nhưng họ cũng chống Tây Sơn không vừa. Mô Phật, là chống cái TS ô hợp, bè phái, nồi doa xáo thịt , troanh đoạt, đâm chém tít mù mù!".

anmota
08/07/2008, 03:48 PM
3. Võ Tánh16:37', 9/2/ 2004 (GMT+7) Ngó lên hòn tháp Cánh Tiên.
Cảm thương ông Hậu thủ thiền ba năm
Đây là một anh hùng duy nhất không phải người Bình Định mà lại được nhân dân Bình Định đưa vào ca dao địa phương Bình Định: Võ Tánh.
Võ Tánh người miền Nam, tỉnh Biên Hòa, Theo Nguyễn Phúc Ánh từ năm 1788, khi Nguyễn Phúc Ánh chiếm được Sài Gòn.
Năm Canh Tuất (1790), Võ Tánh cùng Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Thành, Lê Văn Câu được Nguyễn Phúc Ánh sai đem thủy lục quân ra đánh Tây Sơn ở Bình Thuận. Sau ba tháng giao tranh không thắng nổi phải rút về Gia Định.
Tháng 3 năm Quí Sửu (1793), Nguyễn Phúc Ánh cùng Võ Tánh và Nguyễn Văn Trương đem thủy binh hội cùng Tôn Thất Hội, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Huỳnh Đức đem bộ binh đánh Bình Thuận. Thủy binh tiến chiếm được thành Diên Khánh. Bình Thuận mất theo. Kế tiếp đến Phú Yên. Tại Bình Định, thủy quân Nguyễn Phúc Ánh vào của Thị Nại. Võ Tánh đem binh lẻn đi hội với toán quân Tôn Thất Hội, Nguyễn Văn Thành đánh tập hậu. Thành Quy Nhơn bị bao vây. Vua Thái Đức cầu viện Phú Xuân. Nguyễn Phúc Ánh thấy viện binh hùng hậu nên rút đại binh về Diên Khánh.
Tháng 3 năm Kỷ Mùi (1799), Nguyễn Phúc Ánh lại cử đại binh ra đánh Quy Nhơn, vào cửa Thị Nại, sai Võ Tánh và Nguyễn Huỳnh Đức đem quân lên bộ đóng ở núi Hàm Long thuộc Tuy Phước. Hàm Long là một độc sơn tuy thấp bé nhưng lại có thể dụng binh. Tại đây, Võ Tánh đã đánh thắng được Võ tướng Tây Sơn là Võ Đình Tú.
Đầu tháng 5 năm Kỷ Mùi (1799), Nguyễn Phúc Ánh kéo quân lên vây thành Quy Nhơn. Ở Hàm Long, Võ Tánh và Nguyễn Huỳnh Đức kéo binh đánh đồn Trấp Xá ở Quán Chẹt. Tướng giữ đồn là Trương Tấn Túy chống cự không nổi, bỏ đồn chạy về Quy Nhơn.
Quân Võ Tánh kéo đánh tiếp đồn tháp Tri Thiện tục gọi là tháp Bánh Ít. Tướng giữ đồn là Lê Văn Thiệt bị trúng đạn chết trên bành voi. Võ Tánh thừa thắng kéo ra Ngạc Đầm tục gọi là Bàu Sấu ở thốn Thiết Trụ thuộc An Nhơn. Trên núi phía đông của bầu có tên là Kim Đồng, có bảy đồn lính canh bảo vệ cho mặt sau thành Quy Nhơn. Bảy đồn này rất kiên cố có thế núi thế sông che chở.
Quân Võ Tánh tấn công lên thành nhiều đợt nhưng trào lên đợt nào đều bị đánh lui xuống đợt nấy. Cuối cùng phải đóng dưới chân núi phía Tây Bàu. Trong khi đó, Nguyễn Phúc Ánh đánh thành Quy Nhơn mấy ngày liền mà vẫn không lay chuyển. Lê Văn Thành đóng cửa cầm cự chờ viện binh, song Trần Quang Diệu và Võ Văn Dõng bị chặn lại tại Thạch Tân Quảng Ngãi.
Lê Văn Thành đợi không thấy viện binh, trong thành lại hết lương thực đành phải mở cửa cổng thành ra hàng, Nguyễn Phúc Ánh nhập thành, sai chém hết các tướng sĩ Tây Sơn và đổi tên thành Quy Nhơn ra thành Bình Định. Nguyễn Quang Huy nghe tin thành Quy Nhơn thất thủ, kéo binh từ Phú Yên ra đánh chiếm lại, song thất bại. Tuy nhiên, ông cũng bắn Nguyễn Phúc Ánh trọng thương nên phải trở về Gia Định và giao Võ Tánh cùng Ngô Tùng Châu ở lại giữ thành.
Tháng giêng năm Canh Thân (1800), Trần Quang Diệu hợp cùng Võ Văn Dũng tiến vào Quy Nhơn. Võ Tánh đem quân ra đánh nhưng đại bại phải vào thành cố thủ, nhờ tên đạn đầy đủ nên giữ được thành. Trần Quang Diệu một mặt cho đắp trường lũy bao vây, một mặt cho Võ Văn Dũng đóng thủy quân chặn mặt biển.
Tháng 3 cùng năm, Nguyễn Phúc Ánh kéo thủy bộ binh ra cứu viện. Cả hai đều bị quân Tây Sơn chặn đánh không tiếp cứu nhau được, đành phải đóng quân tại chỗ, tới tháng 11 đồng rút quân về Gia Định. Tháng giêng năm Tân Dậu (1801), lại ra quân và đánh thắng ở giữa biển Thị Nại song vẫn không giải cứu được thành Bình Định.
Võ Tánh tuy gần cạn đạn dược cùng lương thực song vẫn cố thủ và sai nữ tướng tâm phúc là Nguyễn Thị Hào mang mật thư gặp Nguyễn Phúc Ánh, khuyên nên bỏ thành Bình Định mà đánh chiếm lấy Phú Xuân, vì lực lượng chủ lực của Tây Sơn đã dồn hết vào Bình Định, nên Phú Xuân lực lượng rất yếu.
Nguyễn Phúc Ánh kéo đại quân ra đánh Phú Xuân. Quân nhà Nguyễn còn lại do Nguyễn Văn Thành và Nguyễn Huỳnh Đức hợp lại, bị quân Tây Sơn đánh bật ra khỏi đất Quy Nhơn.
Trần Quang Diệu đốc quân đánh thành thêm kịch liệt.
Quân mệt mỏi, tên đạn cạn, lương thực không còn, Võ Tánh liệu không thể trì thủ được nữa bèn viết thư ra cho Trần Quang Diệu yêu cầu lúc vào thành đừng sát hại quân dân vô tội, đoạn mời Ngô Tùng Châu đến nói:
- Thành thế nào cũng mất, tôi là tướng võ phải chết theo thành, nhưng không muốn cho địch thấy mặt. Còn ngài là quan văn hãy cố bảo trọng.
Ngô Tùng Châu đáp:
- Võ có trung can lẽ đâu văn lại không nghĩa khí? Tôi xin vô phép đi trước ngài.
Đoạn về dinh uống thuốc độc.
Ngô Tùng Châu người thôn Thái Thuận, xã Cát Tài, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, vào Gia Định theo học Võ Trường Toản, theo chúa Nguyễn Phúc Ánh làm đến chức Tham tri bộ Lễ rồi sung chức phụ đạo Đông cung (thầy của Hoàng tử Cảnh). Năm 1799 được cùng Hậu quân Võ Tánh trấn giữ thành Bình Định.
Võ Tánh sai chất củi khô nơi lầu bát giác và rải thuốc súng chung quanh lầu. Nghe tin Võ công sắp tuẫn tiết, người ái thiếp và vị lão bộc xin được chết theo. Công không cho. Hai người đợi công lên lầu rồi lấy dây tự trói mình vào cột lầu chung với củi.
Công thay áo mão ung dung bước lên lầu, hướng về Bắc lạy rồi truyền châm hỏa. Quân lính không nỡ ra tay. Công đòi hút thuốc, một điếu thuốc ngon dâng lên. Công hít một hơi dài rồi quăng điếu thuốc xuống, lửa bùng lên, cháy lan cả trong lẫn ngoài. Lầu bát giác bỗng chốc hóa thành một khối lửa cháy hừng hực. Tiếng khóc vang thành. Quản binh Nguyễn Thận hay tin hối hả chạy về, cảm kích nhảy vào lửa theo chủ tướng.
Rồi cửa thành mở, quân Trần Quang Diệu đội ngũ chính tề, lặng lẽ kéo vào. Tướng sĩ trong thành bỏ khí giới, đội nào đứng theo đội nấy, không sợ hãi, cũng không vênh vang. Trần Quang Diệu ban lời khuyến dụ, rồi cho thu hài cốt hai vị trung thần nhà Nguyễn chôn cất theo lễ. Viên Quản binh, người lão bộc và người ái thiếp của Võ công cũng được an táng trong thành bên cạnh mồ Ngô Tùng Châu và Võ Tánh.
Quang cảnh thành Bình Định lúc bấy giờ vừa bi vừa hùng.
Đó là ngày 27 tháng 5 năm Tân Dậu (1801).
. Theo Võ nhân Bình Định

anmota
08/07/2008, 04:00 PM
BaoBinhDinh>>Về miền đất võTây Sơn danh tướng 10. Phạm Cần Chính 16:53', 16/1/ 2004 (GMT+7) Khi vua Quang Trung lên ngôi Hoàng đế, Bắc Nam trở thành hai nước riêng biệt. Từ Hải Vân quan trở ra là của vua Quang Trung. Còn đất trở vô là của Vua Thái Đức. Vua Quang Trung đóng đô ở Phú Xuân. Bắc Hà do quân trấn trấn nhậm. Việc tuyển chọn nhân tài thì có các khoa thi Văn và thi Võ. Ba năm mở một lần. Khoa đầu mở vào năm Quang Trung thứ nhì (1789). Khoa này có hai người xuất sắc.
Phạm Cần Chính, người huyện Phù Cát, rất giỏi Hán văn, nhưng lại ghét lối văn chương phù phiếm nên chỉ chuyên nghiên cứu binh pháp. Các sách như Binh Thư Yếu Lược, Binh Gia Diệu Lý Yếu Lược ông đều tận tình nghiên cứu.
Lúc nhỏ, nhà rất nghèo không đủ tiền mua dầu thắp, ông đốt củi làm đèn đọc sách, tập văn đến gà gáy mới ngủ. Lớn lên đi tìm thầy học võ. Hễ nghe đồn ai có môn võ nghệ nào hay đều lần đến xin học. Vốn là người có học nên thái độ ôn hòa, tư cách phong nhã, nên phần nhiều các võ sư không nỡ từ chối. Trời cho Phạm Cần Chính sức mạnh như Hạng vương. Một mình có thể vác nổi cây gỗ nặng đến 10 người khiêng. Cung sắt nặng 300 cân, ông giương lên nhẹ nhàng và bắn trăm phát trăm trúng. Tài phi thân cũng hơn người, hai nách kẹp hai tảng đá nặng hàng tạ mà nhảy qua rào cao một cách nhẹ nhàng. Giỏi đủ các bộ môn lại thiên về đánh thiết sóc. Thiết sóc là một loại thương dài đầu có mũi nhọn và móc sắt. Cho nên người đời gọi ông là Phạm Thiết Sóc.
Trong hội thi ông đều đoạt hạng tối ưu. Vua Quang Trung rất thích bèn đổi họ Phạm ra họ Nguyễn. Ông giúp vua Quang Trung huấn luyện binh sĩ.
Năm 1791, ông tháp tùng Võ Văn Dũng đi dẹp cuộc bạo loạn của Trần Quang Châu ở Bắc Ninh. Nguyên tên Châu đã từng theo vua Lê Chiêu Thống được phong Tiên phong Đại tướng, theo quân Thanh đánh Bắc Hà. Sau khi quân Thanh rút chạy, Châu trở về huyện nhà mộ binh đánh phá các vùng lân cận. Nhờ địa thế hiểm trở nên Châu chống cự được gần hai năm. Phạm Cần Chính đã từng chiến thắng nhiều trận, song Châu giỏi trốn tránh nên mãi đến sau mới bị bắt và bị giết.
Vua Quang Trung mất sớm. Triều đình bị Thái sư Bùi Đắc Tuyên khuynh loát, Phạm Cần Chính bị thất sủng nên không có dịp thi thố tài năng.
Năm Canh Thân (1800), Phạm Cần Chính được cử làm Trấn thủ Quảng Nam, và Lê Sĩ Hoàng làm Trấn thủ Quảng Ngãi.
Năm 1801, Nguyễn Phúc Ánh đánh Quy Nhơn, song không cứu nổi Võ Tánh, bèn sai Nguyễn Văn Chương đem thủy binh ra đánh Quảng Nam và Quảng Nghĩa. Binh của Nguyễn Văn Chương bị binh của Phạm Cần Chính và binh của Lê Sĩ Hoàng đánh cho đại bại phải bỏ cả ghe thuyền chạy bộ trốn vào Quy Nhơn.
Cứu không được Quy Nhơn, Nguyễn Phúc Ánh đi thuyền thẳng ra đánh chiếm Phú Xuân rồi sai Lê Văn Duyệt, Lê Chất đem quân về cứu Quy Nhơn.
Lê Văn Duyệt kéo bộ binh qua đèo Hải Vân vào Quảng Nam. Lê Chấn đem thủy binh vào sông Trà Khúc ở Quảng Nghĩa.
Phạm Cần Chính trấn thủ Quảng Nam để cho quân Lê Văn Duyệt kéo thẳng vào Quảng Nghĩa gặp quân Lê Chất rồi phối hợp cùng với Lê Sĩ Hoàng trong đánh ra ngoài đánh vào. Quân nhà Nguyễn đông đến ba vạn người, nhưng không chống cự nổi với sức mạnh của Phạm, Lê.
Phạm Cần Chính cưỡi ngựa ô, cầm thiết sóc tung hoành giữa quân Nguyễn. Gặp Lê Chất, ỷ binh nhiều tràn tới, Phạm tướng quân giao chiến một trận oai hùng. Chịu không nổi sức nặng của cây thiết sóc, Lê Chất quất ngựa chạy dài. Quân Nguyễn tan rã. Bị truy kích, Lê Chất phải bỏ ngựa chạy xuống thuyền cùng binh sĩ chạy trốn ra biển rồi dồn quân trốn tại Cổ Lũy.
Cổ Lũy là một cô thôn nằm trên cửa sông Trà Khúc, nơi đây xưa kia, người Chiêm Thành đóng đồn ngăn giặc. Đó là một vùng cát trắng mênh mông, phía trước mặt là nơi giao thủy của sông Trà, sông Vệ, bên kia sông là thôn Phú Thọ và phía đông là cửa Đại mênh mông.
Lê Văn Duyệt thì bị Lê Sĩ Hoàng đáng chạy vào Mộ Đức, lại bị tập kích thêm một trận nữa phải chạy lên núi Thạch Bích.
Kể từ đó Quảng Nam, Quảng Nghĩa do hai tướng Phạm, Lê trấn đóng cho đến khi nhà Tây Sơn mất.
Khi nghe tin Bắc thành thất thủ, Phạm Cần Chính liền mở kho phân phát hết quân lương và quân trang cho binh sĩ, khuyên mọi người về quê quán làm ăn sinh sống, còn mình thì một thương một ngựa ra đi. Phạm Cần Chính thăm quê hương rồi lên ẩn trên núi Phương Phi tại Phù Cát, sau ra Cao Bằng rồi mất tại đó.
. Theo Võ nhân Bình Định

anmota
08/07/2008, 04:05 PM
Đọc mấy ông 'cách mạng tây sơn bình định ' thì thấy:
Như Đề Đốc Chất...khi còn dưới cờ Tây thì giỏi (võ Bình định) quá chừng chừng, nhưng khi theo về Nguyễn Ánh, thì...tui ( văn Quảng nghĩa) ví cũng chạy...


Năm Canh Thân (1800), Phạm Cần Chính được cử làm Trấn thủ Quảng Nam, và Lê Sĩ Hoàng làm Trấn thủ Quảng Ngãi.
Năm 1801, Nguyễn Phúc Ánh đánh Quy Nhơn, song không cứu nổi Võ Tánh, bèn sai Nguyễn Văn Chương đem thủy binh ra đánh Quảng Nam và Quảng Nghĩa. Binh của Nguyễn Văn Chương bị binh của Phạm Cần Chính và binh của Lê Sĩ Hoàng đánh cho đại bại phải bỏ cả ghe thuyền chạy bộ trốn vào Quy Nhơn.
Cứu không được Quy Nhơn, Nguyễn Phúc Ánh đi thuyền thẳng ra đánh chiếm Phú Xuân rồi sai Lê Văn Duyệt, Lê Chất đem quân về cứu Quy Nhơn.
Lê Văn Duyệt kéo bộ binh qua đèo Hải Vân vào Quảng Nam. Lê Chấn đem thủy binh vào sông Trà Khúc ở Quảng Nghĩa.
Phạm Cần Chính trấn thủ Quảng Nam để cho quân Lê Văn Duyệt kéo thẳng vào Quảng Nghĩa gặp quân Lê Chất rồi phối hợp cùng với Lê Sĩ Hoàng trong đánh ra ngoài đánh vào. Quân nhà Nguyễn đông đến ba vạn người, nhưng không chống cự nổi với sức mạnh của Phạm, Lê.
Phạm Cần Chính cưỡi ngựa ô, cầm thiết sóc tung hoành giữa quân Nguyễn. Gặp Lê Chất, ỷ binh nhiều tràn tới, Phạm tướng quân giao chiến một trận oai hùng. Chịu không nổi sức nặng của cây thiết sóc, Lê Chất quất ngựa chạy dài. Quân Nguyễn tan rã. Bị truy kích, Lê Chất phải bỏ ngựa chạy xuống thuyền cùng binh sĩ chạy trốn ra biển rồi dồn quân trốn tại Cổ Lũy
AMT

lê hồng khánh
08/07/2008, 09:21 PM
Đọc mấy ông 'cách mạng tây sơn bình định ' thì thấy:
Như Đề Đốc Chất...khi còn dưới cờ Tây thì giỏi (võ Bình định) quá chừng chừng, nhưng khi theo về Nguyễn Ánh, thì...tui ( văn Quảng nghĩa) ví cũng chạy...
AMT
Huớ trời hươi, ông bác đang đọc truyện chưởng nội hóa mòa ! Các anh thàng ơi, tui đọc sách các anh tùm lum, sao không thấy có câu nầy : "...ơi, ơi...đừng đem nồi da mà xáo thịt , ới ơi ơi...". Hay chớ bộ. Cái thành Quy Nhơn mà Ngô Tòng Châu mứ lại Võ Tánh tuẫn tiết ấy , bác Cảnh Thịnh bác xơi của ông bác của bác rồi đó nghen. Có hôm nào đó tui thưa với AMT tiên sinh về Tạ Chí Đại Trường, rằng thì tui thấy ổng hay, là cái chỗ nầy đây. Có mấy anh nghiêng cứu, đứng cứu viết rằng thì là cái ông Đô đốc Long là người Quảng Ngãi , ấy rồi các nhà lớn hơn mới cấp cái bằng di tích. Hồi đó, cách đây khoảng mươi lăm năm, tui mới ngứa họng mà rằng " Cha nào chứng minh được ấy nó vậy thì tui cõng đi chơi cả ngày ". Nói thế là tui có ý tự hào quê tui lắm. Thêm một danh nhân cho quê tui, tui cõng người ta cụp lưng tui cũng mừng. Vậy mà riết tới bây giờ tui cũng không diễm phúc cõng ai. Tiếc ghê đi mất. Chỉ thấy mấy ảnh nghĩ ra một cách thiệt hay là thêm hai chữ " có thể" ra đằng trước. Thôi lỡ té giếng thì hô ông cố là mình dớt rong cho dễ nghe. Cái nầy thì được nề. Ông AQ ở bên Tàu mà tui tưởng ở bên tui. Cách đây mấy năm tui gặp cái anh góp phần xướng xuất cái "thuyết ông Đô đốc ở quê tui" ngoài Hà Tĩnh (ảnh xướng xong ảnh đi về ngoải. Mô Phật!). Ngồi nhậu, khi sương sướng tui mới nói bứ ảnh " \Ông nụi, bao giờ thì cháu đây được cõng ông nụi " , Nghe dậy ảnh mới cười hì hì. Hì, ảnh hì, làm báo tui nhớ cụ PQ, rằng thi dân ta " gì cũng hì" HÌ!

anmota
08/07/2008, 10:07 PM
Số là hồi tôi đọc Phổ truyện nhà ông Nguyễn Bá Nghi, có chỗ kể : Đề Đốc Chất...đuổi theo cha ông Nguyễn ra tới ngoài Trấn ninh, thì xuống tay ga..., vì nghĩ tình đồng đội không đuổi riệt. Nhờ đó mà...mò đường về Lạc phố: làm thơ Vịnh nước Lụt, làm văn Tế ông Trùm xe nước. Làm thơ chọc gheo ông già ông Trương đăng Quế ( đồng chí Tây sơn, Gia long lưu dụng , cho làm 'quận trưởng huyện Mộ hoa) chăng?
Thơ rằng:
"Sai tô gỗ lính đá đường cầu
"Việc nọ chưa thành việc khác câu
"Dãi nắng vàng hoe đầu bản phủ
"Đánh đòn đen hắc đít tri thâu "
Tri thâu, là ông 'thôn trưởng Nguyễn tướng công Tây sơn...hồi nẳm bị Đề đốc Chất ví chạy có cờ ...!

Lại nói về Đề đốc Chất, lại làm suôi với ông gì đó họ Trương (Mỹ khê)...làm suôi với ông gì đó họ Nguyễn Tường...( Quảng nam )...sinh ra mấy ông Tự Lực Văn Đoàn...

Không biết anh LHK có biết cô tôi, cô Hai Lịnh... Cổ...Tây sơn...lắm... Chọc tới cô tôi bả chửi còn hơn bà ' hòm...dùng '....
AMT