PDA

View Full Version : Hôm Nay Gió Nồm



anmota
12/31/2008, 08:15 AM
Tiếp tục nhìn lại Tự lực văn đoàn
1. Đầu năm 2008, sau 75 năm thành lập Tự lực văn đoàn (TLVĐ) không chỉ trở lại sự quan tâm của bạn đọc, mà còn là sự khẳng định các giá trị mà nó đã để lại cho tiến trình hiện đại hóa văn chương- học thuật Việt Nam.
75 năm trong hơn một thế kỷ đời sống dân tộc trải những biến động cực kỳ dữ dội, trên biết bao nhiêu là quá trình gắn với một chữ hóa (Dân tộc hóa, Đại chúng hóa, Khoa học hóa; Kháng chiến hóa văn hóa, Văn hóa hóa kháng chiến; Công nông hóa trí thức, Trí thức hóa công nông; Hợp tác hóa, Điện khí hóa, Công nghiệp hóa; và bây giờ là Toàn cầu hóa...). Trong các biến động gần như là từng thập niên một, để chuyển sang một mô hình khác của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, nền văn chương- học thuật dân tộc cũng đã trải những bước ngoặt, và phải chịu những đánh giá và phán xét, lúc thì rộng rãi, lúc thì nghiêm khắc, đôi khi như là bị đẩy ra hai cực, nhưng rồi trước sau, và cuối cùng đều trở về với chân giá trị đích thực của nó. Thời điểm mở đầu thế kỷ XXI này cũng là một thời điểm dường như đã có một độ lùi cần thiết để nhìn nhận lại các sự kiện lớn của văn chương- học thuật thế kỷ XX, trong đó có Tự lực văn đoàn, và rộng ra là trào lưu văn chương lãng mạn Việt Nam trước 1945.
2. Với hai cơ quan ngôn luận lớn, tiếp tục nhau là Phong hóa và Ngày nay; với Nhà xuất bản Đời nay chuyên in sách của Tự lực văn đoàn - Ngày nay ngày nay in nhà in nhà -, mỗi quyển sách ở trang bìa 4 đều ghi đủ tác phẩm của mỗi tác giả, gồm sách đã in với giá in (mà phần lớn đều ghi kèm: đã bán hết), và sách sẽ in (gợi nhiều chờ đợi cho người đọc); với Giải thưởng Tự lực văn đoàn được trao cho các tác giả có đóng góp về văn chương theo tôn chỉ của nhóm - như Nguyên Hồng, Vi Huyền Đắc, Anh Thơ, Nguyễn Bính, Tế Hanh, Đỗ Đức Thu...; với những tên tuổi cộng tác viên gần gũi rất sáng danh như Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Cát Tường, Trần Bình Lộc, Đoàn Phú Tứ, Trọng Lang, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Huy Cận, Thanh Tịnh...; và với Tôn chỉ gồm 10 điểm (đăng trên Phong hóa số 87; 2-3-1933) để tập hợp và quy tụ các thành viên, cuối cùng gồm 8 người là Nhất Linh, Khái Hưng, Thế Lữ, Tú Mỡ, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Trần Tiêu, Xuân Diệu(1), Tự lực văn đoàn là tổ chức văn học lớn nhất và duy nhất quy tụ được những tên tuổi tài năng, có các nguyên tắc tổ chức vừa chặt chẽ, vừa rộng rãi trong đời sống văn học 1930-1945, một tổ chức có tính chất một khuynh hướng (tendance), một trường phái (école) văn học, đại diện cho trào lưu lãng mạn, có chung một tôn chỉ, cùng một định hướng tư tưởng và khuynh hướng nghệ thuật nhưng lại có phong cách và giọng điệu riêng, đóng góp riêng ở mỗi người. Và đó là hiện tượng chỉ có thể xuất hiện khi tiến trình hiện đại hóa đã đạt được một cái chuẩn cao, vượt ra khỏi tình trạng giao thời trước 1930, với sự giao thoa giữa nhiều khuynh hướng sáng tác còn chưa thoát ra khỏi dấu ấn của phong cách và tư duy nghệ thuật trung đại.
Trong nghĩa đầy đủ của trào lưu văn chương lãng mạn trước 1945, bên cạnh Tự lực văn đoàn có sự tồn tại của phong trào Thơ mới, bao gồm nhiều chục nhà thơ tiêu biểu - mà theo sự tuyển chọn của Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam (1942), thì có đến 45 gương mặt; trong đó Tự lực văn đoàn góp vào 3 tên tuổi lớn - đó là Thế Lữ và Xuân Diệu; một người là sự mở đầu ngoạn mục; một người là đỉnh cao, mới nhất; cùng với Tú Mỡ là nhà thơ trào phúng duy nhất muốn như là sự kế tục Tú Xương. Năm người còn lại, trong đó có 3 anh em họ Nguyễn Tường gồm Nguyễn Tường Tam - Nhất Linh, Nguyễn Tường Long - Hoàng Đạo, Nguyễn Tường Lân - Thạch Lam; và 2 anh em họ Trần là Trần Khánh Dư - Khái Hưng và Trần Tiêu, đều là những cây bút văn xuôi tiêu biểu, với các phong cách và đóng góp khác nhau. Tám tên tuổi làm nên khuynh hướng lãng mạn của Tự lực văn đoàn, để cùng tồn tại bên cạnh trào lưu hiện thực gồm một số lượng đông đảo hơn những cây bút sáng giá, trong đó một số lớn là viết cho và làm nên thương hiệu Tân Dân Vũ Đình Long, chung quanh Nhà xuất bản Tân Dân và các tờ Tiểu thuyết thứ Bảy, ích hữu, Tao Đàn và Tủ sách Phổ thông bán nguyệt san... Với Vũ Đình Long, đời sống văn học 1930-1945 có thêm một nhóm viết, trong tư thế cạnh tranh nghiêng ngửa với Tự lực văn đoàn; bên cạnh một số nhóm viết khác có vị trí yếu hơn, và tuổi thọ ngắn hơn như Tiểu thuyết thứ Năm, Hà Nội báo, các Nhà xuất bản Mai Lĩnh, Hàn Thuyên; hai tờ Tạp chí Tri tân, Thanh nghị; và những người viết tự do tương đối đông đảo, không theo khuynh hướng nào...
Như vậy là trong sự phát triển theo xu thế hiện đại hóa, có sự hình thành các nhóm, phái văn học; và thời 1930-1945 là thời hội được các điều kiện để hình thành nên 3 khuynh hướng văn học là lãng mạn, hiện thực và cách mạng, trong đó văn học lãng mạn có được một thương hiệu lớn là Tự lực văn đoàn. Hoạt động chuyên tâm trong thời gian 7 năm, tính từ khi ra đời chính thức cái tên Tự lực văn đoàn với Tôn chỉ 10 điểm của nó, vào tháng 3 - năm 1933, cho đến mở đầu những năm 40, khi nhóm tan rã, rồi Thạch Lam mất năm 1942, Tự lực văn đoàn đã gây nên được một sự sôi nổi, hấp dẫn trong đời sống văn học công khai. Và một nhìn nhận như của Trường Chinh trong Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam, năm 1948, là thỏa đáng: “hoạt động của nhóm Tự lực văn đoàn cũng đã góp phần đẩy phong trào văn nghệ nước ta tiến lên một bước ngắn”(2). Nói thỏa đáng là bởi những thành kiến đối với văn học lãng mạn phải từ sau Chiến dịch Biên giới 1950, khi những ảnh hưởng của Văn nghệ Diên An tràn vào mới thật chi phối đời sống tinh thần của dân tộc. Còn trước đó thì những giá trị trong văn học trước 1945 là có ở tất cả các khuynh hướng văn học, chứ chưa có sự đối lập hoặc khác biệt giữa hiện thực và lãng mạn, không nói đến cách mạng, như ý kiến sau đây của Nguyễn Đình Thi: “Cuộc kháng chiến của ta hiện thời kỳ thực nguồn gốc đã ở bao nhiêu đấu tranh ngày trước. Những đấu tranh ấy, trước ngày khởi nghĩa thể hiện trong văn chương thời đó gọi là “tả chân”, sau khởi nghĩa thì tiến lên như sóng. Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài, Bùi Hiển, nhất là Vũ Trọng Phụng và các nhà văn nhóm Tự lực: Nhất Linh, Thạch Lam v.v... khi công kích xã hội cũ đều ở chính giữa hoặc bên cạnh cái dòng đi lên của văn chương”(3).
3. Thế nhưng, sau Chiến dịch Biên giới, kể từ 1950, khi các cuộc chỉnh huấn trí thức mở ra cùng với khẩu hiệu “Cách mạng hóa tư tưởng, Quần chúng hóa sinh hoạt”, đồng thời với việc phát động công cuộc Giảm tô và Cải cách ruộng đất ở nông thôn đưa tới phong trào phê bình và tự phê bình, tự kiểm thảo của giới văn nghệ sĩ, thì văn học lãng mạn và Tự lực văn đoàn mới bắt đầu bị hạ thấp và phủ định với những quy kết rất nghiệt ngã và gay gắt của chính những người trong cuộc, từng là đại diện như Thế Lữ, Xuân Diệu, Nguyễn Tuân... Từ đây Tự lực văn đoàn bị loại ra khỏi bộ phận tích cực trong di sản văn hóa dân tộc, thậm chí bị phê phán khá nặng nề; các thế hệ bạn đọc mới không được tiếp xúc vì sách không tái bản; những sách đã in thì bị cấm, không được đọc trong các thư viện; nếu muốn đọc phải đến với các phòng đọc riêng, kèm giấy giới thiệu; chương trình học trong nhà trường không có; các sách nghiên cứu nhắc đến Tự lực văn đoàn như một hiện tượng ngược dòng, có hại cho cách mạng và cho sự nghiệp giáo dục các thế hệ trẻ...
Có sự phê phán đó vì tôn chỉ và khuynh hướng sáng tác của Tự lực văn đoàn (và cả Phong trào Thơ mới) là thuộc về lãng mạn; và lãng mạn có nghĩa là sự thoát ly, sự trốn lánh, sự quay lưng với hiện thực - một hiện thực nóng rẫy và bức xúc nhu cầu cách mạng, mà đứng ở tuyến đầu phải là trào lưu văn học cách mạng, dám kêu gọi con người lên đường, dấn thân vào cuộc chiến đấu chống áp bức bóc lột, tức là chống chủ nghĩa thực dân và phong kiến; và nếu chưa đạt được đỉnh cao ấy, thì ít nhất cũng phải được là trào lưu hiện thực; tức là trào lưu dám đối diện để vạch trần những mặt tối tăm của xã hội, làm nổi rõ sự tương phản giữa một bên là sự tàn bạo và tội ác của các giai cấp thống trị, và một bên là những đau xót và thảm cảnh của lớp người bé mọn, cùng khổ. Chỉ cần dám đối mặt và nói lên được một phần sự thật cay đắng và oan khổ của quần chúng, văn học hiện thực đã có thể đóng được vai trò trợ thủ cho văn học cách mạng. Và như vậy, việc Tự lực văn đoàn và phong trào Thơ mới khuyến khích con người xa lánh hoặc trốn tránh hiện thực đó, để thoát ly vào bất cứ chỗ trốn nào - là tình yêu, là tôn giáo, là quá khứ, là các lạc thú cá nhân hoặc cõi chết, hoặc những ảo mộng vu vơ..., chứ không nói đến trụy lạc, gồm những gái, rượu, thuốc phiện, cũng đều là có hại, thậm chí còn là nối giáo cho giặc. Hãy nghe chính tác giả Thi nhân Việt Nam viết về một thời mộng rớt, ngắm rớt, trong cả một phong trào thơ mà ông từng ca ngợi hết lời: “Những vần thơ buồn tủi bơ vơ ấy là những vần thơ có tội; nó xui người ta buông tay cúi đầu, do đó làm yếu sức ta, và làm lợi cho giặc” (...) “những câu thơ buồn nản hay mơ mộng vẩn vơ cùng đều là bạn đồng minh của giặc. Giặc chỉ có thể xây dựng cơ đồ của chúng trên phần bạc nhược của con người. Chúng ta có không dám làm người thì chúng nó mới có khả năng làm giặc”(4).
Lãng mạn, còn là ở sự quan tâm và tập trung vào cái Tôi cá nhân, là đặt cái cá nhân vào vị trí trung tâm, đối lập với cộng đồng. Trong khi cách mạng là sự tôn vinh vai trò của quần chúng, quần chúng làm nên lịch sử; là đặt niềm tin tuyệt đối vào Đoàn thể: “Đoàn thể đã tái tạo chúng tôi, và trong bầu không khí mới của giang sơn, chúng tôi, những nạn nhân của thời đại chữ “tôi” - hay muốn gọi là tội nhân cũng được - chúng tôi thấy rằng đời sống riêng của cá nhân không có nghĩa gì trong đời sống bao la của Đoàn thể”(5). “Đoàn thể - đó là một cái gì rất thiêng liêng”(6).
Như vậy, chỉ với sự nhìn nhận và phân biệt giữa hai khuynh hướng: lãng mạn và hiện thực, chứ chưa nói đến cách mạng, Tự lực văn đoàn đã trở nên thất thế, nếu ta chứng kiến suốt một thời gian dài, kể từ sau 1950, cho đến khi kết thúc chiến tranh, sau 1975, và còn kéo dài cho đến cuối những năm 80 thế kỷ XX, nội dung giáo dục các thế hệ trẻ và chương trình giáo khoa trong nhà trường trên miền Bắc là nhằm vào 8 chữ: “Yêu, căm, chiến, lạc, Dậu, Pha, Phèo”(7); với 8 chữ đó thì những cái tên như Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Bướm trắng... hoặc Gửi hương cho gió, Điêu tàn, Lỡ bước sang ngang...; và cái thế giới nhân vật gồm những Mai - Lộc, Loan - Dũng, Duy - Thơ, Hạc - Bảo, rồi những Hồng, Tuyết, Thu, Hiền, Hảo... phải biết cách mà lánh xa, chứ làm sao mà chen chân vào được!
Tất nhiên, đó là một lý do cơ bản. Còn những lý do khác, nếu đi vào tiểu sử chính trị của Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo - ba nhân vật chủ chốt của Tự lực văn đoàn, từ sau 1940 đã đi vào con đường hoạt động chống lại Việt Minh, bằng cách hợp tác hoặc chạy theo các đảng phái thân Nhật hoặc thân Tưởng, để rồi, hoặc là bị bắt rồi phiêu bạt sang Tàu, và chết trong bất đắc kỳ tử trên đường từ Hồng Kông về Quảng Châu, năm 1948 như Hoàng Đạo; hoặc sau ngày Toàn quốc kháng chiến bùng nổ chạy về quê vợ là Nam Định rồi qua đời trong bí ẩn, năm 1947 như Khái Hưng; hoặc về nước, rồi vào Nam và chọn cách tự tử, do sức ép của Ngô Đình Diệm, năm 1963, như Nhất Linh. Tóm lại cả ba đều có một bước đi lạc, sau 1940, rồi trở thành người của phía bên kia. Với một lý lịch chính trị như thế, đương nhiên họ sẽ không còn đủ tư cách để lại dấu ấn gì trong sự nghiệp văn chương, khi cái nhìn về lý lịch gia đình, về thành phần giai cấp còn rất nặng nề trong cả một thời gian dài của lịch sử, trong bối cảnh một thế giới chia đôi, với sự đối lập giữa hai phe, hai thể chế chính trị, hai giai cấp, hai con đường; và cuộc đấu tranh ý thức hệ luôn luôn ở vị trí hàng đầu cho sự soi chiếu, đánh giá mọi hành vi và hoạt động của con người.
4. Phải chờ một khoảng lùi nhiều chục năm, cho đến khi đất nước sau một cuộc cách mạng và 30 năm chiến tranh đang đi vào cuộc sống xây dựng trong thời bình và hội nhập khu vực và quốc tế; nói cách khác, khi đã có cái nhìn xuyên suốt một thế kỷ, làm gắn nối công cuộc Canh tân đất nước đầu thế kỷ đến sự nghiệp Đổi mới đất nước vào cuối thế kỷ, thì mới là lúc ta có hoàn cảnh để nhận ra hai đóng góp lớn của Tự lực văn đoàn cho đời sống văn học, và đời sống văn hóa- tinh thần của dân tộc. Đó là:
- Góp công đầu vào việc đấu tranh giải phóng cá nhân ra khỏi mọi kiềm tỏa của lễ giáo và ý thức hệ phong kiến đè nặng lên đời sống tinh thần của dân tộc trong hàng nghìn năm. Đặt vào bối cảnh thời cuộc trước 1945, đương nhiên nhu cầu khẩn thiết nhất của dân tộc là đấu tranh chống đế quốc- phong kiến; nhưng nhu cầu giải phóng cá nhân cũng cần được lưu ý khi những chuyển động trong đời sống kinh tế- xã hội đã làm nẩy sinh những giai tầng mới trong đời sống đô thị; khi những ảnh hưởng của văn hóa- văn minh phương Tây trong thời đại tư bản chủ nghĩa đã có con đường thâm nhập vào một tầng lớp trí thức mới, với những nhu cầu mới, từng bước làm rạn vỡ những nền nếp ý thức, tâm lý, luân lý, đạo đức cổ truyền. Việc cổ động, tuyên truyền tinh thần yêu nước cố nhiên là đứng ở hàng đầu, nhưng việc quan tâm chú ý đến những nhu cầu khác của con người như: quyền bình đẳng nam nữ; quyền được yêu, và sự gắn bó hôn nhân với tình yêu để phản đối sự áp đặt của chế độ đại gia đình; quyền được có một cuộc sống có ý nghĩa, dẫu là trong khuôn khổ chế độ thuộc địa; quyền được sống với những khát vọng chính đáng của con người cũng rất cần được khẳng định. Và, nếu tinh thần dân tộc và lòng yêu nước còn chưa thể vươn đến các đỉnh cao như các chiến sĩ cộng sản, thì một sự bất bình với thời cuộc, một gửi gắm ít nhiều khát vọng tự do trong hình ảnh những “khách chinh phu” như Dũng cũng là hiện tượng rất nên thể tình. Và như vậy là trong khi thoát ly, trốn tránh hiện thực mất nước là hiện thực lớn nhất, “các tầng lớp tư sản dân tộc và tiểu tư sản trí thức” đã “tìm thấy trong chủ nghĩa lãng mạn một tiếng thở dài chống chế độ thuộc địa”, như ý của Trường Chinh trong tác phẩm đã dẫn trên(8). Cũng có nghĩa là Tự lực văn đoàn đã có công dấn thân vào một cuộc chiến khác, cũng chỉ mới có hoàn cảnh để đặt ra vào nửa đầu thế kỷ XX - là sự nghiệp giải phóng cá nhân - một cuộc chiến, tiếc thay, sau khi được phát động và có được dấu ấn trong văn học chỉ trong hơn mười năm, buộc phải bỏ qua, hoặc bỏ quên suốt trong hơn 40 năm cách mạng và chiến tranh, để rồi có dịp trở lại và nổi lên như một nhu cầu quan trọng (nếu không nói là cấp thiết) kể từ thập niên cuối thế kỷ XX, trong diễn biến của công cuộc Đổi mới...
Công lớn thứ hai của Tự lực văn đoàn, đồng thời với việc đặt ra và trả lời một yêu cầu lịch sử như đã nêu trên, đó là việc thực hiện yêu cầu hiện đại hóa, với vai trò tiên phong của nó trong văn chương dân tộc. Nếu ở trong thơ, phong trào Thơ mới đã thực hiện trọn vẹn một cuộc cách mạng, và mở ra một thời đại trong thi ca - như cách nói của Hoài Thanh (trong đó Thế Lữ và Xuân Diệu một người là chủ tướng, một người là kiện tướng) thì trong văn xuôi, sau khởi động là Tố Tâm (1925) của Hoàng Ngọc Phách, sẽ có sự tiếp tục liền mạch ở Khái Hưng và Nhất Linh, trong màn dạo đầu ngoạn mục với Hồn bướm mơ tiên (1934), Nửa chừng xuân (1934), Đoạn tuyệt (1935), Lạnh lùng (1937), Tiêu sơn tráng sĩ (1937), Đôi bạn (1939)...(9). Trong hơn 7 năm tồn tại, cho đến Đẹp (1941), Bướm trắng (1941), Thanh Đức (1943), TLVĐ đã góp phần quan trọng đưa tiểu thuyết Việt Nam vào quỹ đạo hiện đại, trên tất cả các phương diện của cấu trúc tự sự, kiểu loại nhân vật, tư duy nghệ thuật và ngôn ngữ, giọng điệu..., sau khi dứt bỏ triệt để mọi dấu ấn trung đại; và cùng với tiểu thuyết còn là truyện ngắn, bút ký và tiểu luận phê bình góp phần làm nên diện mạo hiện đại của văn xuôi thời kỳ 1930-1945.
Từ sự khởi đầu của Tự lực văn đoàn, giòng hiện thực với các đại diện xuất sắc là Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài sẽ làm nên một cuộc chạy tiếp sức trong tăng tốc và kết thúc để hoàn thiện diện mạo hiện đại của văn học dân tộc vào thời 1941-1945.
5. Từ 1940 trở đi, Tự lực văn đoàn lâm vào một cuộc khủng hoảng dẫn tới tan rã, khi ba nhân vật chủ chốt là Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo tham gia vào các đảng phái chính trị đối lập với Việt Minh. Tức là khi họ đã rời bỏ con đường văn chương, với các mục tiêu cải cách văn chương và cải lương xã hội (như lập Hội ánh sáng, hoặc nuôi giấc mộng Từ Lâm), mà chuyển sang câu kết hoặc theo chân các thế lực thù địch với nhân dân và cách mạng.
Nếu lấy thời điểm 1940, khi Thế chiến thứ hai bùng nổ, rồi 1943 Nhật vào Đông Dương, cũng là khi Nguyễn Tường Tam thành lập Đảng Đại Việt dân chính thân Nhật, rồi bị Pháp bắt phải trốn sang Tàu; cũng là khi Hoàng Đạo và Khái Hưng bị Pháp bắt giam ở Vụ Bản cho đến 1943 được cho về Hà Nội chịu sự quản thúc; và trước đó, năm 1942, Thạch Lam qua đời vì bệnh lao, thì Tự lực văn đoàn đã có lịch sử tồn tại ngót 10 năm. Còn nếu tính rộng hơn cho đến các hoạt động văn chương của Khái Hưng sau tháng Tám - 1945, như một nối dài lạc lõng của Tự lực văn đoàn, trên các tờ Ngày nay - Kỷ nguyên mới, Việt Nam (cơ quan ngôn luận của Việt Nam Cách mạng đồng minh hội), Chính nghĩa (cơ quan ngôn luận của Việt Nam Quốc dân đảng), trên đó đăng khá nhiều bài chống đối Việt Minh(10), thì lịch sử Tự lực văn đoàn còn là dài hơn. Dài, nhưng là một cái dài trong đứt nối, lạc lõng sau khi Tự lực văn đoàn đã thật sự tan rã. Ngoài 3 nhân vật chính đã kể trên thì các thành viên khác, mỗi người đều chọn một con đường riêng, trong đó Thế Lữ chuyển sang hoạt động sân khấu; Xuân Diệu trở thành người tích cực đón đợi cách mạng và viết hai trường ca Ngọn quốc kỳ, Hội nghị non sông; Tú Mỡ rút về cơ quan Tài chính là nơi mình ăn lương, và tản cư theo kháng chiến, chuyển từ làm thơ trào phúng sang làm thơ đánh địch, để có bút danh Bút chiến đấu, và là người nhận danh hiệu Chiến sĩ thi đua đầu tiên trong giới văn nghệ Việt Nam; Trần Tiêu tiếp tục viết các truyện về nông thôn, ở vùng tự do Liên khu Ba.
Năm tên tuổi kể trên, trừ Trần Tiêu mất sớm, đều có một sự nghiệp lớn sau 1945. Và trước 1945, trên tất cả những gì họ đã viết ở tư cách thành viên Tự lực văn đoàn cũng đều có những giá trị góp vào việc đặt ra và giải quyết những nhu cầu tinh thần của con người trong thế kỷ XX.
Mười năm tồn tại của Tự lực văn đoàn đã để lại những dấu ấn đậm nét trên tiến trình hiện đại hóa văn chương- học thuật Việt Nam thế kỷ XX.
***
Hai mươi năm Đổi mới đã đưa di sản Tự lực văn đoàn đến với công chúng, trong việc tái bản lần lượt các tác phẩm tiêu biểu của cả 8 thành viên, trong đó đáng chú ý là bộ Văn chương Tự lực văn đoàn, do Phan Trọng Thưởng và Nguyễn Cừ sưu tập, gồm 3 tập, khoảng 3000 trang khổ lớn. Nxb. Giáo dục ấn hành năm 1999(11).
Về các kết quả nghiên cứu thì đóng góp của Tự lực văn đoàn nhìn chung đã được khẳng định lại trong các chuyên khảo, bài viết, hoặc giáo trình về văn học lãng mạn Việt Nam trước 1945. Trong 8 thành viên, ngoài Thạch Lam mất sớm năm 1942, mà giá trị văn chương chưa bao giờ bị phủ nhận, thì ba thành viên còn lại là Thế Lữ, Xuân Diệu, Tú Mỡ, cả ba đều có một sự nghiệp lớn, và đều được đánh giá cao sau 1945. Còn 3 nhân vật chủ chốt là Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, trong thời gian hoạt động từ 1933 đến 1941, cũng đã được nhận thức lại ở những giá trị chống phong kiến và công đầu đóng góp vào tiến trình hiện đại hóa trước 1945. Người bỏ nhiều công sức vào công việc này là nhà văn, nhà báo Vu Gia, với 6 công trình đã được lần lượt ấn hành, đó là Khái Hưng - nhà tiểu thuyết (Nxb. Văn hóa; 1993); Thạch Lam - thân thế và sự nghiệp (Nxb. Văn hóa; 1994); Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hóa văn học (Nxb. Văn hóa; 1995); Hoàng Đạo - nhà báo - nhà văn (Nxb. Văn hóa; 1997); Trần Tiêu - nhà văn độc đáo của Tự lực văn đoàn (Nxb. Thanh niên; 2006), và Tú Mỡ - người gieo tiếng cười (2008). Như vậy là Vu Gia đã có thể cung cấp một nhận thức tổng thể về văn xuôi TLVĐ qua 5 tác giả, mà chỉ với tựa sách ta đã có thể hình dung ít nhiều diện mạo và đặc sắc riêng của mỗi thành viên. Một sưu tập khác cũng có giá trị là bộ Tự lực văn đoàn: Trào lưu và Tác giả của GS. Hà Minh Đức, gồm phần khảo luận và phân tích một số tác phẩm tiêu biểu của chính tác giả, và phần tuyển chọn bài của 30 tác giả khác; hơn 600 trang khổ lớn, do Nxb. Giáo dục ấn hành năm 2007.

P.L
_____________________
(1) Theo Tú Mỡ trong bài Trong bếp núc của Tự lực văn đoàn (Tạp chí Văn học số 5/6-1988 và số 1-1989). Gần đây có một ý kiến khác: TLVĐ chỉ gồm 7 thành viên mà không có Trần Tiêu
(2) Về văn hóa và nghệ thuật, tập I; Nxb. Văn học; H.; 1985; trang 87.
(3) Tạp chí Văn nghệ số 13; 6-1949.
(4) Nói chuyện thơ kháng chiến; 1951; Toàn tập Hoài Thanh; tập 2; Nxb. Văn học; H.; 1999; các trang 211, 214.
5) Hoài Thanh: Dân khí miền Trung; Tiên phong; số 3-1945.
(6) Nam Cao: Truyện ngắn Đợi chờ, 1948.
(7) Yêu nước, căm thù, chiến đấu, lạc quan, và tên 3 nhân vật chính trong Tắt đèn, Bước đường cùng, và Chí Phèo.
(8) Xem chú thích (2), tr.55.
(9) ở đây chúng tôi ghi năm xuất bản thành sách, chứ không ghi năm đăng báo.
(10) Trong Câu chuyện văn chương (Chính nghĩa, số 7-10-1946) Khái Hưng bảo vệ quan điểm nghệ thuật của trào lưu lãng mạn; phản đối ba phương châm: dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa của Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 của Đảng Cộng sản Đông Dương. ở thời điểm bài viết ra đời, tất nhiên nó bị phản đối từ phía cách mạng; nhưng cho đến bây giờ, nó lại có những điểm khả thủ. Các truyện ngắn Người anh hùng (Chính nghĩa, số 12-8-1946) và Nhung (Chính nghĩa, số 19-8-1946) vẫn là sự trở lại chủ đề, thế giới nhân vật và cách nhìn quen thuộc của Tự lực văn đoàn trước đây.
(11) Bộ sách có tính chất một bộ tuyển, chưa đầy đủ về văn chương Tự lực văn đoàn. Sau bộ này, nên có sự đầu tư công và của để có một Toàn tập Tự lực văn đoàn với những khảo chứng và biên tập kỹ lưỡng để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu và giảng dạy.

anmota
12/31/2008, 08:44 AM
Và một nhìn nhận như của Trường Chinh trong Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam, năm 1948, là thỏa đáng: “hoạt động của nhóm Tự lực văn đoàn cũng đã góp phần đẩy phong trào văn nghệ nước ta tiến lên một bước ngắn”(2). Nói thỏa đáng là bởi những thành kiến đối với văn học lãng mạn phải từ sau Chiến dịch Biên giới 1950, khi những ảnh hưởng của Văn nghệ Diên An tràn vào mới thật chi phối đời sống tinh thần của dân tộc.

Còn trước đó thì những giá trị trong văn học trước 1945 là có ở tất cả các khuynh hướng văn học, chứ chưa có sự đối lập hoặc khác biệt giữa hiện thực và lãng mạn, không nói đến cách mạng, như ý kiến sau đây của Nguyễn Đình Thi:
“Cuộc kháng chiến của ta hiện thời kỳ thực nguồn gốc đã ở bao nhiêu đấu tranh ngày trước. Những đấu tranh ấy, trước ngày khởi nghĩa thể hiện trong văn chương thời đó gọi là “tả chân”, sau khởi nghĩa thì tiến lên như sóng.

Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài, Bùi Hiển, nhất là Vũ Trọng Phụng và các nhà văn nhóm Tự lực: Nhất Linh, Thạch Lam v.v... khi công kích xã hội cũ đều ở chính giữa hoặc bên cạnh cái dòng đi lên của văn chương”(3).
-----