PDA

View Full Version : Bùi Giáng, và



anmota
02/03/2009, 08:12 PM
Lâm Ngọc Duy
http://vietart.free.fr/index122.html

Anmota

anmota
02/03/2009, 10:04 PM
và Thanh Thảo

Bùi Giáng, thi sĩ của lời cố quận




Thanh Thảo
03/01/2006 10:10

1. Gặp Bùi Giáng tháng 5/1975
Tôi đã gặp Bùi Giáng nhiều lần trên trang sách trước khi thực sự được gặp ông. Cơ may ấy có được chính là nhờ tôi đi chiến trường. Chứ nếu cứ ở Hà Nội, thì chắc mãi sau ngày giải phóng tôi mới đọc được Bùi Giáng.

Hồi chiến tranh, sách vở của miền Nam ra được Hà Nội rất ít. Nhưng ở chiến trường, tôi lại có điều kiện đọc rất nhiều sách xuất bản ở Sài Gòn từ tủ sách của ông Nguyễn Văn Linh chủ trương sắm cho Ban tuyên huấn TWC (R). Tôi có người bạn làm "thủ thư" của tủ sách ấy, vì vậy không chỉ được đọc thơ Bùi Giáng, tôi còn được đọc nhiều tác phẩm của A.Camus và Saint-Exupery mà ông dịch. Tôi không thuộc số người làm thơ chịu ảnh hưởng Bùi Giáng - số này tôi biết khá đông - nhưng tôi chịu lối làm thơ ngẫu hứng của Bùi Giáng. Nó rất gần với "thơ tự động" của phương Tây, nhưng lại rất Việt Nam, vì đó thường là thơ lục bát. Lục bát thì không thể là thơ... Tây được rồi! Bùi Giáng chơi với thơ lục bát như kiểu trẻ con chơi với những con giống hay những mẩu gỗ nhỏ - chơi trò xếp đặt. Những câu lục bát bất thần của ông có thể khiến ta phải giật mình. Không biết Mưa nguồn có phải là tập thơ đầu tay của Bùi Giáng không, nhưng tôi đã đọc trong đó những câu thơ tinh khiết, những câu thơ tự nguồn mà thường ở những tập thơ đầu tay - như một mối tình đầu - nhà thơ có được một cách hoàn toàn không cố gắng, thậm chí không ý thức. Ngày còn ở chiến trường, tôi đã biết Bùi Giáng rất mê thơ Huy Cận do đọc những lời "tán" đầy đam mê của ông về thơ Huy Cận. Tôi không ngờ, tháng 5/1975, khi vào Sài Gòn và tình cờ được gặp Bùi Giáng, thì chính ông đã đưa thơ Huy Cận ra đố tôi. Dạo đó mới giải phóng, người ta thì bận năm bận mười, còn đám phóng viên binh vận chúng tôi thì... thất nghiệp. Chiến tranh đã kết thúc, chúng tôi cũng không còn "đối tượng" để tuyên truyền nữa. Vậy là suốt ngày tôi lang thang la cà ngoài đường, mê mẩn với những "quầy sách dã chiến" trên các con phố lớn của Sài Gòn. Một buổi tối, anh Hoàng Liên - một cây bút sắc sảo của "đội ngũ tuyên truyền binh vận" chúng tôi - xuất thân từ một ký giả Sài Gòn - mời mấy anh em chúng tôi đến nhà anh uống rượu mừng sum họp. Tôi nhớ nhà anh Hai Hoàng ở một con hẻm thuộc khu Nguyễn Thông - Hòa Hưng gì đó, nhà cũng khiêm nhường thôi. Anh Hoàng Liên là người Quảng Nam, trước khi vào chiến khu hình như khá thân với nhà văn Vũ Hạnh. Dĩ nhiên anh cũng là đồng hương của Bùi Giáng thi sĩ, nhưng tiệc rượu hôm đó thì chỉ Vũ Hạnh, nhà láng giềng, lại là "dân công tác thành" - tức "VC nằm vùng" là được mời. Thủ trưởng của chúng tôi hôm ấy cũng có mặt, và tỏ ra hứng khởi. Thì lúc ấy ai mà chẳng hứng khởi: chiến tranh đã chấm dứt, gia đình sum họp. Chúng tôi và nhà văn Vũ Hạnh vừa uống rượu vừa nói với nhau nhiều chuyện một cách từ tốn và giữ lễ. Anh Vũ Hạnh thì tôi đã biết tiếng và đã đọc nhiều trước đó, biết cả anh là "Việt Cộng nằm vùng"do đọc báo Sài Gòn. Có lẽ do mới giải phóng, người ở rừng và người ở thành lần đầu gặp nhau hay sao đó mà anh Vũ Hạnh có vẻ dè dặt.Chúng tôi thì vô tư, cứ uống và nói to, vui vẻ thoải mái. Bỗng cửa nhà anh Hai Hoàng mở toang, và một vị khách bất ngờ xuất hiện. Một người râu tóc tung bay, già thì không hẳn vì dáng đi còn phong độ lắm, mà trẻ thì không phải do có rất nhiều... râu (!). Anh Vũ Hạnh nhỏ nhẹ giới thiệu: "Anh Bùi Giáng, nhà thơ". Tôi nhớ, hình như lúc ấy Bùi tiên sinh đang quẩy trên vai cái gì đó, trông nửa như Bồ Đề Đạt Ma, nửa như... bác hành khất. Bùi tiên sinh không đợi mời, ông ngồi luôn xuống sàn nhà cùng chúng tôi, và... đọc thơ. Không phải thơ ông, tôi nhớ, mà hình như là thơ Huy Cận. Đọc thơ và nói huyên thuyên, rất vui, chẳng giữ ý hay để ý đến bất cứ thứ gì. Anh Vũ Hạnh có vẻ hơi ngại, nhất là khi có mặt vị thủ trưởng của chúng tôi. Nhưng Bùi Giáng thì chẳng ngại ngần. Ông cũng nâng ly, uống một chút rượu cho vui, và nhắm với món... nói. Thấy trong chiếu rượu chỉ có tôi là còn trẻ và tôi tỏ ra phấn khởi khi gặp ông, Bùi tiên sinh quay sang bắt chuyện với tôi. Ông nói như Hoàng Liên đây thì ông tin là VC, vì nhà Hoàng Liên nghèo. Còn Vũ Hạnh, ông không tin, vì Vũ Hạnh có nhà ba hay bốn lầu gì đó! Anh Hoàng Liên phải thanh minh cho khách là nhà văn Vũ Hạnh có được ngôi nhà này do nuôi chim cút chứ không phải làm áp-phe hay bóc lột ai. Bùi Giáng cười khà khà và chuyển sang... đố thơ. Dĩ nhiên không phải đố thủ trưởng của tôi vì thủ trưởng hơi nghiêm và cóvẻ không hưởng ứng lắm. Bùi Giáng bèn đố tôi. Ông đọc mỗi lần mấy câu thơ và hỏi tôi có biết thơ của ai không? Có đoạn tôi biết là thơ Huy Cận, có đoạn tôi không biết. Tất cả đều là thơ Huy Cận. Bùi tiên sinh chê tôi, ông không hiểu tại sao một người trẻ được giới thiệu là "nhà thơ" như tôi mà không thuộc hết thơ Huy Cận (?). Đúng là tôi dở, nhưng tôi cãi cố với Bùi tiên sinh là tôi chưa thuộc chứ không hẳn là không thuộc. Chưa thuộc vì tôi chưa có điều kiện đọc hết thơ Huy Cận, chứ nếu đã đọc thì có khi cũng thuộc (?). Tôi nói lấy được chứ thuộc thơ vốn là điểm yếu nhất của tôi. Ngay thơ mình tôi cũng không thuộc, nói gì đến thơ người! Bùi tiên sinh có vẻ rất vui, ông nói đủ chuyện mà giờ tôi cũng không nhớ là những chuyện gì. Tất nhiên với Bùi Giáng thì không có "vùng cấm" trong những câu chuyện không đầu không đũa như thế. Do đó thủ trưởng của tôi có vẻ không hài lòng. Ông không nói gì, nhưng tôi và anh Hai Hoàng đều biết. Thủ trưởng của tôi dĩ nhiên không biết Bùi Giáng là ai, có những đặc điểm gì, lại mới giải phóng, tình hình Sài Gòn chưa ổn định, nên ông cảnh giác là chuyện không khó hiểu. Nhưng với Bùi Giáng, đó cũng không là trở ngại gì lớn! Ông vẫn nói, vẫn vui, vẫn hoa chân múa tay như ở chỗ không người. Và ông chuyển sang... coi bói cho tôi.
2. Đôi mắt lạc thần
Đọc bài viết rất hay của nhà văn Đặng Tiến (Paris) về Huy Cận, tôi dừng lại ở đoạn anh Đặng Tiến viết về Bùi Giáng ngợi ca thơ Huy Cận, và chợt nhìn năm sinh cùng năm mất của Bùi tiên sinh: 1926-1998. Vậy là Bùi Giáng sinh năm Bính Dần và mất năm Mậu Dần. Trọn trong vòng Hổ. Một con hổ rất hiền nhưng vẫn là hổ chánh hiệu, không phải "hổ kiểng". Nhưng vẫn là hổ phải xa rừng, phải "lìa xa cố quận".
Nói đến hổ, tôi lại chợt nhớ, cái gây ấn tượng nhất cho tôi khi lần đầu (và cũng lần cuối) gặp Bùi Giáng chính là đôi mắt của ông, một đôi mắt lạc thần. Sau ngày Bùi Giáng mất, nhà thơ Nguyễn Đỗ có làm một cái phỏng vấn tôi qua điện thoại về Bùi Giáng, xin được trích một đoạn có liên quan đến đôi mắt kỳ lạ của Bùi tiên sinh: "Nguyễn Đỗ: Thưa anh, nhắm mắt lại, gương mặt nhà thơ Bùi Giáng như thế nào trong anh ? Thanh Thảo: Dù nhắm mắt hay mở mắt thì tôi cũng chỉ hình dung một Bùi Giáng như người cõi khác về chơi cõi này. Chơi chán thì đi, thế thôi. Cả gương mặt Bùi tiên sinh dồn vào đôi mắt: một đôi mắt lạc thần. Dù Bùi Giáng đọc thơ, nói cười, múa hát, thì đôi mắt ấy vẫn im lặng. Nguyễn Đỗ: Người ta cho rằng: điên hay bất bình thường là một thuộc tố của thơ ca. Còn anh ? Thanh Thảo:Tôi không biết. Nhưng tôi biết một điều: làm thơ là một quy trình bất bình thường: đang nói năng bình thường thì lại có người nói năng theo vần nhịp, bằng bằng trắc trắc... chẳng là bất bình thường ư ? Còn điên? Ai mà chẳng có những cơn điên trong đời, kể cả những người không làm một câu thơ. Chỉ có khác, với những người làm thơ, những cơn điên lúc họ làm thơ là những cơn điên-tỉnh. Điên hoàn toàn cũng không có thơ, mà tỉnh hoàn toàn thì dẫu có thơ, thơ ấy cũng... dở". Như thế, theo tôi, Bùi tiên sinh là người có nhiều "cơn điên" trong đời hơn chúng ta, những kẻ bình thường. Điều đó biểu hiện trong thơ ông, một giọng thơ khác thường, thậm chí lạ thường:
"Gấu ôi điềm tĩnh đi ngang
Cọp ôi dừng bước giữa hàng thơ hoa
Đi về trong cõi người ta
Trước là thi sĩ sau là đười ươi
Trận sầu kết chặt cơn vui
Tiền trình vạn lý chôn vùi dấu chân"
Bài thơ của Bùi tiên sinh có nhan đề Gấu ôi, một nhan đề rất... chơi, nhưng bài thơ thì tuyệt vời sâu sắc và rất... hiện thực, nếu ta hiểu sâu hơn về thân phận nhà thơ, thân phận của thơ. Thi sĩ, theo Bùi Giáng, là vậy, khó thoát khỏi cái vòng karma đi về giữa thi sĩ và đười ươi. Nhân đây cũng nói thêm, chữ đười ươi là chữ Trung Niên thi sĩ rất hay dùng, với ý hoàn toàn nghiêm túc chứ không mảy may cợt đùa, với ý ngợi ca chân thành chứ không một chút chua cay giễu cợt. Và nếu ai có điều kiện đếm thử (bằng máy tính) xem Bùi tiên sinh đã dùng trong các tác phẩm của mình bao nhiêu chữ đười ươi, cũng như bao nhiêu chữ cố quận, có lẽ thống kê ấy sẽ góp phần giải mã được thơ Bùi Giáng, một giọng thơ đang chơi chơi đột nhiên thăm thẳm, những từ ngữ như bị hút vào lỗ đen, giống những ngôi sao bị lỗ đen hút tuột. "Lòng đi trong cõi người ta/Lòng di đi mất đi là đi đi/", hai câu lục bát có đến 6 chữ đi trong tổng số 14 chữ mà khi đọc ta tự nhiên bị hút vào không hiểu vì sao không giải thích được. Thơ có lẽ là thế chăng ?
Trở lại với cái duyên Huy Cận - Bùi Giáng mà nhà văn Đặng Tiến đã viết rất hay, ta mới biết, hóa ra chữ cố quận mà Bùi Giáng dùng như một bửu bối trong đời thơ của mình, hai chữ ấy bắt đầu từ Huy Cận, chính xác là từ hai câu lục bát trong một bài thơ của Huy Cận viết khoảng năm 1942, bài thơ chưa một lần được in sách: "Tâm tình một nẻo quê chung,/Người về cố quận, muôn trùng ta đi". "Cố quận" là một từ Hán - Việt, nhưng có lẽ đã được Việt hóa hoàn toàn kể từ khi Huy Cận dùng trong thơ và được Bùi Giáng tô đậm lại trong suốt đời thơ của mình như một giai điệu chủ. Trong trước tác Lời cố quận và Lễ hội tháng ba, Bùi Giáng dịch giải M.Heiddegger bình thơ nhà thơ Đức Hoeilderlin, tiên sinh đã thổ lộ cơ duyên vào thi ca của mình: "Khoảng năm 1943, ở Việt Nam có thằng thiếu niên Việt gặp được một vần lục bát in rơi rớt trên một tờ báo bạn đường: "Tâm tình một nẻo Quê Chung/Người về Cố Quận muôn trùng ta đi/". Hình như man mác trong không gian,thường có những niềm tương ngộ. "Bây giờ thì tôi đã hiểu, vì sao Bùi Giáng mê thơ Huy Cận đến vậy! Có một "niềm tương ngộ" nào đó giữa họ. Nhưng hơn tất cả, họ đã gặp nhau trong thơ. Mà với họ, thơ mới là "cố quận" cho suốt một đời họ. Trở lại chuyện Bùi tiên sinh coi bói cho tôi hồi tháng 5/1975. Với đôi mắt lạc thần, ông nhìn tôi nhưng lúc ấy tôi có cảm giác ông đang nhìn tận đâu đâu. Bùi Giáng phán: "Anh là người bất định". Chịu thầy ! Tôi thì có định gì đâu, cho tới bây giờ, tôi vẫn là người bất định (!). Chỉ một câu nói có vẻ chơi chơi, có vẻ tình cờ ấy thôi, tôi nghiệm lại mấy chục năm đời mình và thấy đúng quá! Nó cũng giống như những câu thơ Bùi Giáng, mới đọc tưởng chơi, tưởng điên, tưởng ông chọc quê, nhưng rồi với thời gian, với sự trải nghiệm trong đời, đọc lại, ta bỗng như phát hiện một điều gì, cảm thấy xa xót một nỗi gì. Những thi sĩ như Bùi Giáng, nói là điên cũng ừ, họ điên giùm cho chúng ta đấy ! Mà thế nào là điên cơ chứ ? Theo tôi, những người không tự biết mình, những kẻ cứ "bé cái nhầm" tưởng tiền của dân của nước là tiền của...mình, để đến nỗi tan tành cố quận, tung tóe đười ươi, những kẻ ấy mới chánh hiệu là... điên. Điên hết thuốc chữa! Chứ sao gọi một thiên tài thi ca như Bùi Giáng là điên ?
3. Gặp Bùi Giáng ở Paris
Trong bài thơ Vùng (Zone) nổi tiếng, Apollinaire, có lẽ nhìn từ tháp Eiffel đã thấy những cây cầu bắc qua sông Seine như một bầy cừu "kêu be be sáng nay". Nếu thay vì bầy cừu là bầy dê, thay nàng chăn cừu là chàng chăn dê, lại thấy thấp thoáng hình bóng một Bùi Giáng nơi thượng nguồn con sông Thu Bồn đang chăn những đám mây trên mặt nước sông vào buổi sáng mùa thu nào đó.
Là người dịch rất nhiều tác phẩm trứ danh của văn học Pháp, nhưng hình như Bùi Giáng chưa có dịp đi Paris. Vậy mà tôi đã... gặp ông ở ngay kinh đô Ánh sáng này. Cuối năm 2003, tôi sang Paris dự Festival Thơ quốc tế, và khi có dịp ghé quán Foyer Việt Nam ở số 80 phố Monge Quận 5 (khu Latin), người tôi gặp đầu tiên ở đây là…. Bùi Giáng. Đúng hơn, là tôi đã gặp một bức chân dung Bùi Giáng vẽ bằng bút sắt. Nét vẽ rất có thần. Lại đôi mắt sáng quắc nhìn tận đâu đâu. Lại vẻ mặt hồn hậu của một lão nông xứ Quảng Nam đang mơ màng như nhớ lại câu thơ tuyệt vời của Apollinaire: Bergere ô tour Eiffel le troupeau des ponts bêle ce martin (Ôi tháp Eiffel nàng chăn cừu bầy cừu be be sáng nay - bản dịch của Hoàng Hưng). Tôi hỏi nhà thơ Võ Văn Thận - người phụ trách Foyer VN - và được biết bức chân dung Bùi Giáng là của họa sĩ Trần Văn Liêm - một người rất hâm mộ Bùi tiên sinh ở Paris. Mà không chỉ họa sĩ Liêm, khi Võ Văn Thận tặng tôi tập thơ mới của anh Bàn chân dưới đất, tôi cũng đã đọc trong những câu thơ của người xa xứ này rất nhiều hơi hướng Bùi Giáng. Anh Thận cũng là người hâm mộ, và có lẽ hơn cả hâm mộ, yêu quý Bùi Giáng. Đi lang thang giữa những phố cổ của Paris, thỉnh thoảng tôi lại gặp những người già chánh hiệu... Bohemiens. Họ uống rượu hoặc không uống rượu nhưng ngồi hoặc nằm ngay vỉa hè những con phố đông người qua lại. Trong hình dáng những người già tóc râu xõa xượi ấy, tôi lại thấy thấp thoáng một Bùi Giáng đang cảm nhận Paris bằng tất cả thể xác và tâm hồn mình. Chợt nhớ bản dịch tuyệt vời của Bùi tiên sinh tác phẩm u ẩn mà run rẩy tình người của Saint-Exupery Cõi người ta (Terre des hommes). Đúng là phải tới tay Bùi Giáng thì nguyên tác này mới có chữ "cõi" và chữ "ta" trong bản dịch. Giở một quyển sổ cũ, cách đây hơn 20 năm, tôi đã chép lại một đoạn văn xuôi trong Cõi người ta, chép để giữ cho mình như một lời biết ơn tác giả và dịch giả: "Punta Arenas! Tôi tựa lưng vào bờ giếng. Những đàn bà già nua tới đây lấy nước. Trong tấn bi kịch đời họ, ngày mai tôi sẽ biết riêng chỉ một cử động tôi đòi ấy thôi. Một bé con ngửa cổ vào tường, khóc lặng lẽ. Ngày mai trong kỷ niệm của tôi, sẽ chỉ còn ghi riêng hình ảnh một đứa bé lạc loài, sầu khổ không nguôi. Tôi là kẻ lạc tới đây. Tôi không biết, không biết gì hết cả. Thế giới họ, tôi không thể bước vào, làm tôi dám nói. Những yêu thương, những ganh ghét, những niềm vui của con người, cả một tấn tuồng rộng lớn đó diễn ra trong một khung cảnh bé bỏng xiết bao. Từ đâu con người khơi dẫn được về cho mình nguồn khát vọng vô biên. Từ đâu? Con người vốn bị phó mặc cho rủi may, bị vất ra sống trên một miền đất mà phún thạch hỏa sơn còn hâm hấp nóng, mà những trận bão cát sắp tới, mà những cơn mưa tuyết sắp về, còn hăm dọa mãi! Nền văn minh của họ chỉ là một lớp vàng mạ mỏng manh. Hỏa sơn sẽ xóa, sẽ bôi. Một biển mới sẽ dâng triều. Một cơn lốc cát". Tác phẩm văn học nước ngoài, khi qua một dịch giả đồng điệu sẽ hiện ra bằng Việt ngữ như vậy đó! Một bài thơ văn xuôi đích thực, đầy xúc cảm và nhuyễn như thể nó được viết bằng tiếng... Việt. Tôi biết, nhiều người kêu Bùi Giáng ở một số bản dịch khác, rằng ông dịch tùy hứng và cả... tùy tiện quá! Nhưng chúng ta thử đọc Cõi người ta hay Hoàng tử bé của Saint-Exupery, hãy đọc Ngộ nhận hay Carnets của Albert Camus qua bản dịch Bùi Giáng, ta sẽ cảm nhận được hết sự tinh tế và uyên áo của nguyên tác qua một bản dịch.Tôi nhớ, ngày còn chiến tranh, ở chiến trường Đông Nam Bộ, tôi đã chép từng đoạn văn A.Camus trong Sổ tay (Carnets) qua bản dịch Bùi Giáng, và những đoạn văn tuyệt vời ấy đã an ủi tôi rất nhiều ngay trong những hoàn cảnh thắt ngặt của chiến tranh. Sau này, đã có những dịch giả dịch lại những tác phẩm trên của A.Camus hay Saint-Ex, nhưng phải nói thực, họ không vượt qua được bản dịch cũ của Bùi Giáng. Cần phải ghi công ông ở lĩnh vực truyền bá văn học thế giới này. Một người chỉ tự học ngoại ngữ mà có thể trở nên uyên thâm như thế, có thể "tung tăng" như thế trong khi dịch thuật, quả là hiếm có! Người như thế mà chưa một lần sang Paris để mặc sức chăn cừu hay chăn dê trên sông Seine thì thật đáng tiếc! Nhớ những ngày ở Paris hay xuống Orleans với nhà văn Đặng Tiến, ở đâu tôi cũng cảm thấy phảng phất sự hiện diện của Bùi Giáng trong những câu chuyện trao đổi về văn học, trong những bài thơ hay bài viết của các bạn văn người Việt ở Pháp mà tôi được đọc. Anh Thận còn tặng tôi một đĩa DVD về ngày giỗ Bùi Giáng ngay tại Paris, tại quán Foyer thân thiết và ấm cúng. Những bài thơ của Bùi tiên sinh đã được trình bày trong ngày giỗ ấy. Coi như ông đã đến Paris và đã lang thang dọc những con phố lát đá mờ ảo khu Latin này rồi, khu Đại học nổi tiếng của Pháp và cũng là nơi vinh danh rất nhiều nhà thơ nhà văn Pháp mà Bùi Giáng đã có lần chuyển dịch sang Việt ngữ. Trong dòng sông văn học khá bình thản của ta mà có được một người "quậy tưng" như Bùi Giáng kể cũng đặc biệt và thú vị. Nhưng rồi, ngay trong những lúc "quậy" như thế, chợt ta chìm lắng lại với những câu thơ kiểu như thế này: "Một hồn rũ rượi trong mưa/Nhớ ôi ngọc trắng ngày chưa cát lầm". Như một khúc bi ca về cội nguồn trinh thục của Thơ. Như nỗi hoài nhớ về một thiên đàng tuổi thơ đã biền biệt. Thiên đàng ấy bên một dòng sông và những ngọn đồi lúp xúp mọc toàn sim mua...

Thanh Thảo