PDA

View Full Version : Đọc đi cho biết ...ơi !



anmota
03/19/2009, 08:53 AM
Báo cáo đặc biệt:Gửi đ/c Trương Tấn Sang và đ/c Ngô Văn Dụ về cuộc tọa đàm về bauxite ngày 20-2-2009 (http://www.viet-studies.info/kinhte/Boxit_BaoCaoToaDam.pdf) ◄◄◄


- Là cán bộ của TKV, đến nay tôi đã có kinh nghiệm (hiểu rõ cách đấu thầu) qua không ít
hơn 6 cuộc đấu thầu quốc tế các dự án nhiệt điện chạy than của TKV khi tôi được giao trực
tiếp tham gia (là gíam đốc cty Tư vấn), hay quản lý (là trưởng ban điện lực) và phụ trách (là
Tổng giám đốc cty nhiệt điện). Tôi có thể khẳng định, nếu đấu thầu một cách minh bạch,

đúng luật, và với tiêu chí là lợi ích tối đa lâu dài của đất nước (chứ không phải của chủ đầu
tư) thì không thể có một nhà thầu TQ nào có thể thắng thầu trong bất cứ dự án bauxite nào.
- Để chọn được nhà thầu TQ, TKV đã hạ rất thấp các tiêu chuẩn công nghệ trong đấu thầu,

đã lựa chọn công nghệ thải bùn đỏ bằng công nghệ “ướt” rất lạc hậu và rất nguy hại cho môi
trường mà cả thế giới đã không còn chấp nhận (ngay cả TQ, Nga và Ấn Độ cũng đang
chuyển dần các nhà máy của mình từ công nghệ “ướt” sang công nghệ “khô”, các nước ở

vùng nhiệt đới có mưa nhiều giống như Tây Nguyên cũng không áp dụng công nghệ này).

Đây là một quyết định để dẫn tới việc chỉ các nhà thầu TQ có thể tham gia đấu thầu và có
thể chào giá rất thấp (vì TQ đang có sẵn công nghệ, đang cần phải “bán sắt vụn” lại có dịp

để “chuyển giao” sang VN).
- Việc nâng công suất nhà máy lên gấp 2 lần so với quy hoạch ban đầu và triển khai đồng
loạt cả hai dự án lớn cũng được TKV làm theo “lời khuyên” của nhà thầu TQ, với lý do làm
“nhỏ” thì các nhà thầu sẽ không tham gia. Thực tế cho thấy, tuy đã làm “lớn”, nhưng do cố

tình lựa chọn công nghệ lạc hậu chỉ có ở TQ, nên cũng chẳng có nhà thầu nào khác (ngoài
các nhà thầu TQ) tham gia đấu thầu.
...
Marubeni: Received Vietnam Aluminum Material Plant Order (http://www.viet-studies.info/kinhte/Alum_plant_Marubeni.pdf) (WSJ 19-3-09) -- Công ty Nhật cộng tác với công ty Tàu để khai thác bôxít VN (Nghĩ vẩn vơ: Việc này có dính líu chi đến vụ PCI?)

anmota
03/19/2009, 01:08 PM
<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=0 width="100%" border=0><TBODY><TR><TD class=atc_hl vAlign=top>Hai bản đồ quý khẳng định chủ quyền Việt Nam ở Trường Sa và Hoàng Sa
Lao Động số 60 Ngày 19/03/2009 Cập nhật: 8:41 AM, 19/03/2009
</TD></TR><TR><TD vAlign=top><TABLE class=atc_imgWrap cellSpacing=0 cellPadding=0 align=left><TBODY><TR><TD>http://www.laodong.com.vn/avatar.aspx?ID=94079&at=0&ts=236&lm=633730500848330000</TD></TR><TR><TD>Hình ảnh của cuốn An Nam đồ chí. </TD></TR></TBODY></TABLE>(LĐ) - Trong vấn đề tranh chấp chủ quyền về biển Đông với Trung Quốc, bên cạnh khía cạnh pháp lý và luật pháp quốc tế thì vấn đề chứng cứ lịch sử là rất quan trọng.
>> Sự thật không thể bị bóp méo

Điều này lại càng trở nên cực kỳ quan trọng khi phải đối thoại với Trung Quốc - là một nước có truyền thống lưu trữ và khảo cứu thư tịch cổ rất lâu đời, với trình độ rất cao. Theo đó, việc tìm kiếm các tài liệu bằng chứng trên thư tịch cổ trong các kho lưu trữ trong và ngoài nước không bao giờ đủ và không bao giờ thừa.
<TABLE class=inboxContent style="WIDTH: 50%" cellSpacing=6 cellPadding=6 align=right><TBODY><TR><TD>Biển Đông có vị trí địa chiến lược, địa kinh tế cực kỳ quan trọng và là yết hầu kinh tế của toàn bộ khu vực Đông Á. Biển Đông là nơi giao nhau của nhiều tuyến hàng hải quan trọng bậc nhất thế giới, nối liền Âận Độ Dương và Thái Bình Dương. Biển Đông rộng 6,2 triệu kilômét vuông, hàng ngày có khoảng 400 tàu lớn qua đây, khoảng 25% mậu dịch và 1/2 lượng dầu tiêu thụ của thế giới qua biển Đông. Khoảng 80% dầu thô của Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản nhập khẩu từ Trung Đông, Châu Phi và các nước ASEAN đều đi qua biển Đông. Biển Đông có trữ lượng dầu mỏ, khí đốt, phốtphát và nhiều khoảng sản quý hiếm.
Nguồn: PGS-TS Lê Văn Cương </TD></TR></TBODY></TABLE>Bên cạnh các tài liệu do người VN biên soạn (hiện đang lưu trữ trong và ngoài nước) thì các tài liệu do người nước ngoài, đặc biệt là người Trung Quốc biên soạn lại càng quan trọng, vì ở đó nó là bằng chứng hùng hồn nhất trong vấn đề chủ quyền tại biển Đông. Một khi tìm được các bằng chứng từ phía Trung Quốc, về việc họ không xác nhận chủ quyền tại biển Đông thì việc xem xét vấn đề trên bình diện pháp lý trở nên thuận lợi.

Mới đây, từ các bức ảnh do PGS-TS Đinh Khắc Thuân cung cấp, PGS-TS Ngô Đức Thọ phát hiện ra rằng, đây là bằng chứng chủ quyền của nước ta đối với hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa.

Đó là cuốn An Nam đồ chí của soạn giả Đặng Chung. Cuốn sách này được biên soạn "căn cứ theo bản sao ở Thuật Cổ Đường của họ Tiền". Thuật Cổ Đường là tên thư viện của Tiền Đại Hân - nhà khảo chứng học nổi tiếng đời Thanh. Họ tên soạn giả An Nam đồ chí được ghi cuối bài tựa: Phân thủ Quảng Đông Quỳnh Nhai Phó Tổng binh Ôn Lăng Đặng Chung (Phó Tổng binh trấn thủ châu Quỳnh Nhai, tỉnh Quảng Đông là Đặng Chung, người huyện Ôn Lăng).

An Nam đồ chí là một tập sách bản đồ có các khảo chú về toàn quốc và các địa phương của VN. Một nội dung như vậy là một tài liệu tham khảo sử địa học quan trọng, mà giới nghiên cứu VN cả trong nước và quốc tế cho đến nay chưa từng trích dẫn hoặc biết tới. Niên đại soạn sách ghi sau bài tựa càng là một giá trị quý hiếm: Vạn Lịch Mậu Thân thanh minh nhật. Vạn Lịch (1573-1620) là niên hiệu Vua Minh Thần Tông, năm Mậu Thân Vạn Lịch là năm 1608, cách nay đúng 401 năm.

An Nam đồ chí là thư tịch bản đồ đầu tiên của Trung Quốc ghi tên cửa biển Đại Trường Sa trong tờ bản đồ vẽ nước An Nam - tức VN.

PGS-TS Ngô Đức Thọ kết luận: "Bất cứ vì lý do gì, việc một viên quan binh của nhà Minh giữ chức Phó Tổng binh châu Quỳnh Nhai (tức đảo Hải Nam) ghi tên Cửa biển Đại Trường Sa của VN trên bản đồ An Nam, chứng tỏ người Trung Hoa từ trước và từ triều Minh, triều Thanh đều thừa nhận hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa là thuộc VN".
Về tài liệu nước ngoài, TS Nguyễn Nhã có một phát hiện đặc biệt quan trọng, khi ông tiếp cận bản đồ An Nam đại quốc họa đồ -, do Giám mục Taberd vẽ năm 1838. Tấm bản đồ nằm trong cuốn từ điển được in ấn, nên nó không phải là độc bản mà mức độ phổ biến rộng rãi, đến được với nhiều người - đặc biệt là giới học giả (đối tượng sử dụng chủ yếu của cuốn từ điển này). Trên bản đồ, quần đảo Hoàng Sa được viết bằng chữ "Cát Vàng". Và điều đặc biệt nhất là, bản đồ có ghi tọa độ và khi đối chiếu với số liệu hôm nay thì hoàn toàn trùng khớp. Đây là bản đồ cổ duy nhất có ghi tọa độ và cũng là bản đồ cổ duy nhất có xác định tọa độ của Hoàng Sa.

Ngoài ra, trên tập san The journal of the Asiatic society of Bengal, Vol VI cũng đã đăng bài của giám mục Taberd, xác nhận Vua Gia Long đã thân chinh vượt biển đến Hoàng Sa vào năm 1816 và long trọng treo cờ, chính thức giữ chủ quyền quần đảo Paracels (Hoàng Sa, Cát Vàng)...

Hai tấm bản đồ do những người nước ngoài vẽ thực sự là một minh chứng hùng hồn về chủ quyền của VN đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
<TABLE class=inboxContent><TBODY><TR><TD>GS-TS Nguyễn Quang Ngọc - Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển: Thư tịch và bản đồ cổ của Trung Quốc tính cho đến cuối thế kỷ XIX và thậm chí cả những năm cuối thập kỷ đầu của thế kỷ XX, đều phản ánh một thực tế hết sức hiển nhiên là vùng lãnh thổ, lãnh hải truyền thống của Trung Quốc chưa bao giờ vượt quá đảo Hải Nam.

Phải khẳng định một cách tuyệt đối rằng lịch sử thực thi chủ quyền của VN ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với tư cách nhà nước, phát triển liên tục, rõ ràng, muộn nhất là từ đầu thế kỷ XVII (dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên) và qua các thế kỷ XVIII (dưới thời các chúa Nguyễn tiếp theo và vương triều Tây Sơn), XIX (dưới thời các vương triều Nguyễn) và cho mãi đến những năm đầu của thế kỷ XX vẫn chưa hề gặp phải sự phản đối của bất cứ quốc gia nào". C.T ghi
</TD></TR></TBODY></TABLE>

(*) Phó Giám đốc Thư viện, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

<HR>
TS Nguyễn Xuân Diện (*) - Viết riêng cho Lao Động


</TD></TR></TBODY></TABLE>

anmota
03/19/2009, 01:33 PM
Vietnam Airlines staff accused of smuggling shoplifted goods

THE ASAHI SHIMBUN

2009/3/19
Printhttp://www.asahi.com/images08/common/icn_print.gif (javascript:void(0);)
Share Article <!--はてな-->http://www.asahi.com/images08/common/icn_bookmark_a.gif (javascript:location.href='http://b.hatena.ne.jp/append?'+encodeURI(window.location.href)) <!--Yahoo!-->http://www.asahi.com/images08/common/icn_bookmark_b.gif (javascript:void window.open('http://bookmarks.yahoo.co.jp/bookmarklet/showpopup?t='+encodeURIComponent(document.title)+'&u='+encodeURIComponent(window.location.href)+'&opener=bm&ei=UTF-8','popup','width=550px,height=480px,status=1,loca tion=0,resizable=1,scrollbars=0,left=100,top=50',0 );) <!--delicious-->http://www.asahi.com/images08/common/icn_bookmark_c.gif (javascript:location.href='http://del.icio.us/post?url='+encodeURIComponent(window.location.href )+'&title='+encodeURIComponent(document.title)) <!--ライブドア-->http://www.asahi.com/images08/common/icn_bookmark_d.gif (javascript:location.href='http://clip.livedoor.com/redirect?link='+encodeURIComponent(window.location .href)+'&title='+encodeURIComponent(document.title)) <!--Buzzurl-->http://www.asahi.com/images08/common/icn_bookmark_e.gif (javascript:void window.open('http://buzzurl.jp/config/add/confirm?url='+encodeURIComponent(location.href)+'&title='+encodeURIComponent(document.title),'popup' );)

Police have busted a huge criminal network that shoplifted goods in Japan and smuggled them for resale in Vietnam, with the help of crew of that country's national airline.
Police in 14 prefectures, including Saitama, Yamaguchi, Aichi and Osaka, have arrested at least 80 people, including a 33-year-old Vietnam Airlines co-pilot, in the case. Many of the suspects are Vietnamese.
An arrest warrant has been obtained for a 34-year-old woman in Ho Chi Minh City, suspected of organizing the shoplifting and smuggling network.
The woman used to visit Japan once every three months to tell buyers which products she wanted. But she stopped visiting Japan as investigators closed in, police said.
The goods she ordered included cosmetic products, such as lipstick and foundation, portable bidets and shower heads, two items difficult to find in Vietnam, and disposable cameras and energy drinks, which are popular Japanese products in Vietnam, police said.
The co-pilot, who was arrested last December at a hotel near Narita Airport, was scheduled to appear for his first hearing at the Saitama District Court on Thursday.
According to the indictment, the co-pilot is suspected of carrying 10 stolen cosmetic products, worth a total 17,000 yen, in a suitcase from a hotel in Izumisano, Osaka Prefecture, to Kansai International Airport in July 2008. He is also accused of buying 27 videotapes worth a total 10,456 yen, for 3,420 yen, at the same hotel in January 2008, knowing they were stolen.
Police suspect the co-pilot received about $100 from the Vietnamese woman for each load he successfully brought back.
The joint investigation was spurred by a rise in shoplifting cases at drugstores across the nation since about 10 years ago. Several Vietnamese shoplifting suspects told police stolen products were being carried to Vietnam by Vietnam Airlines crew.
Shoplifting cases became rampant in the Chubu region after Vietnam Airlines started flying between Chubu Airport and Ho Chi Minh City. The thefts spread to the Kansai and Kanto regions after the airline suspended the Chubu service at the end of 2007.
Customs officials had noted that Vietnam Airlines crew members carried an unusually large amount of carry-on baggage.
However, police said the fact that the airline's crew members were civil servants made it difficult for investigators to summon them for questioning.
Investigators caught a break last July when Yamaguchi prefectural police arrested a 33-year-old Vietnamese woman on suspicion of buying stolen goods. Investigators confiscated a note with instructions to mail the stolen goods to a hotel where the co-pilot was staying.
Police then nabbed middle buyers in Yao, Osaka Prefecture, Tokyo's Mitaka and Isesaki, Gunma Prefecture.
In the end, police arrested at least 70 suspected shoplifters and at least 10 buyers. Police also seized parcel delivery labels addressed to crew members other than the co-pilot.
Vietnam Airlines will soon submit a report to the transport ministry on measures it will take to prevent a recurrence.
Officials at the Japanese branch office said the airline "will cooperate fully" with the investigations.
But one officdial said it will take time to educate employees about Japanese laws and common sense.
The official said that there are no stipulations in Vietnam, unlike in Japan, against moonlighting by public servants, and Vietnamese have a different "set of ethics."(IHT/Asahi: March 19,2009)


<!--googleoff:index-->

anmota
03/19/2009, 06:15 PM
<TABLE cellSpacing=3 cellPadding=2 width="100%" border=0><TBODY><TR><TD class=tintop_title vAlign=top align=left>Bồ Tát đời thường và dòng chảy tư tưởng Phật học </TD></TR><TR><TD class=diadiem vAlign=top align=left height=20>18/03/2009 07:16 (GMT + 7)</TD></TR><TR><TD class=text vAlign=top align=left>(TuanVietNam) - Ở nước ta nửa đầu thế kỷ XX từng có một vị "Đại Bồ Tát bằng xương bằng thịt hiện thực giữa cõi đời". Ông chủ trương hoạt động tín ngưỡng là ở trong tâm mỗi người chứ không nhất thiết phải vào chùa tu hành. </TD></TR><TR><TD class=text vAlign=top align=left width="100%" height="100%">
Một vài quan điểm của ông thật sự cấp tiến, như chủ trương trả lại chùa cho dân làm trường học, thư viện, nhà dưỡng lão; tăng sĩ phải lao động tự nuôi mình…

<TABLE align=left><TBODY><TR><TD>http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/62/2009/03/17_3/resized_957f617c2b.jpg</TD></TR></TBODY></TABLE>Vị Bồ Tát ấy là cư sĩ Nguyễn Hữu Kha (1902-1954), quê xóm Cam Đường, làng Trung Tự, phường Đông Tác, nay là địa bàn tổ dân phố 81, phường Kim Liên, quận Đống Đa, Hà Nội.

Giới Phật Tử biết ông dưới bút danh Thiều Chửu – "cái chổi lau" dùng để quét sạch bụi bặm trong lòng mình và mọi thứ rác rưởi trên đời.

Theo nhà Phật học Edward Conze, Bồ Tát là vị Phật có ba đặc điểm: 1) Khao khát đạt được sự giác ngộ hoàn toàn như Phật Tổ; 2) Giàu lòng từ bi và trí tuệ; 3) Có mối quan hệ gắn bó với những người thường và các suy nghĩ, cảm xúc như họ [1].

Và ở nước ta nửa đầu thế kỷ XX, vị "Đại Bồ Tát bằng xương bằng thịt hiện thực giữa cõi đời" Nguyễn Hữu Kha, như lời học giả Lê Mạnh Thát [2], hội tụ đủ ba đặc điểm trên.

Trong sạch và hiểu biết

Cư sĩ Kha thuộc đời thứ XIV dòng họ Nguyễn Đông Tác, một dòng họ có mặt tại thành Thăng Long từ cuối thế kỷ XV. Tổ ba đời ông là Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý (1795-1868), nhà văn hóa nổi tiếng, là bạn của Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu, Vũ Tông Phan.

Cha ông là Cử nhân Nguyễn Hữu Cầu (1879-1946), đồng sáng lập viên phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (ĐKNT), từng bị đày ra Côn Đảo nhiều năm vì tội chống Pháp, một "đại sĩ phu" (Une Grande Figure de Lettré), như cách gọi của học giả Nguyễn Văn Tố [3]. Anh ruột ông là giáo sư - nhà sư phạm mẫu mực Nguyễn Hữu Tảo (1900-1966).

Nhưng Nguyễn Hữu Kha không kế tục truyền thống văn nhân của cha mà chọn con đường làm một cư sĩ khổ hạnh suốt đời chỉ lo cứu giúp người cùng khổ.

Cậu bé Hữu Kha bẩm sinh đa sầu đa cảm lại lớn lên dưới ảnh hưởng sâu sắc của bà nội giàu lòng nhân ái và người cha say sưa hoạt động yêu nước chống Pháp.

Những đêm cùng anh ruột đun nước pha trà điếu đóm cho các cuộc họp kín của nhóm sĩ phu ĐKNT tại nhà mình, rồi lại được đọc nhiều "Tân thư" và tài liệu cách mạng cha mang về đã sớm hun đúc trong cậu bé ý chí yêu nước, thương nòi.

Ông kể về tuổi thơ của mình: "Nhà nghèo quá, chị em tôi 7-8 tuổi đã phải chăn bò cắt cỏ, gánh nước, thổi cơm nấu cám, 10 tuổi tát nước, 12 tuổi cày bừa. Năm tôi 13 tuổi, bố bị giặc Pháp bắt, được hai tháng thì mẹ sinh con thứ 8. Đẻ được ba ngày mẹ đã phải đi làm đồng.
Tôi suốt ngày đứng rình ở cổng nhà pha (Hỏa Lò) Hà Nội, hễ thấy bố bị giải sang Tòa án thì chạy theo, bị lũ mật thám đánh rất đau.

Đọc truyện ông Gia Phú Nhĩ (Garibaldi) thấy ông nói với bạn làm mối vợ cho mình rằng "Ý Đại Lợi là vợ, Ý Đại Lợi là con", từ đó tôi nảy ra ý muốn học ông ở điểm đó... Sau đấy tôi không hề nghĩ tới cái đời riêng của tôi nữa. Người ta cho là tôi tin đạo Phật mà không lập gia đình, họ chưa biết nỗi uẩn khúc của tôi từ thủa còn thơ dại" [5]
16 tuổi, Hữu Kha một mình xuống Đồ Sơn bán thuốc Nam và bánh kẹo kiếm sống. Vì tin người nên mất hết vốn, ông phải làm phu kéo thuyền, đẩy xe, thậm chí đi ăn xin. Hai năm trời cực nhục ấy khiến ông ngày càng tin yêu triết lý cứu khổ cứu người của đạo Phật.

Cuối năm 1920, cụ Cử Cầu được ra tù, Hữu Kha về giúp cha mở hiệu thuốc Lợi Nhân Đường ở Ngã Tư Sở. Hiệu đông khách nhưng chủ yếu giúp đỡ người nghèo, "vì thế 3 năm trời hai bố con chỉ đủ ăn chẳng thừa đồng nào” [6]
Bù lại, ông học được nghề thuốc Nam và trở thành vị lương y suốt đời chữa bệnh không công. Ông lấy hiệu Tịnh Liễu (Tịnh: trong sạch, Liễu: hiểu biết), bắt đầu tự học đạo Phật và ngoại ngữ.
Suốt đời học, lao động chân tay và trí óc, miệng nói tay làm

19 tuổi, Tịnh Liễu đi nhiều chùa tham thiền vấn đạo, gặp các vị chân tu nổi tiếng như Hòa thượng (HT) Thích Thanh Hanh ở Lạng Giang, Hòa thượng Thích Thanh Thuyền ở Nam Định, cư sĩ Lê Đình Thám ở Huế… Qua chuyến khảo sát này, ông nhận ra xu hướng suy tàn của Phật Giáo:

"Khi đi sâu vào nhà chùa, tôi thấy sự tổ chức ở chùa không đúng một chút nào với lời Phật dạy; trái lại hoàn toàn dập theo khuôn khổ phong kiến chia giai cấp rất khắc nghiệt, hưởng thụ xa xỉ, bỏ mất hẳn cái tinh thần trọng lao động, không theo quy chế "một ngày không làm một ngày nhịn ăn’ của Tổ Bách Trượng.

Lại còn dùng thuật mê tín vẽ ra đàn tràng cúng bái, đục khoét nhân dân để sống một đời nhàn rỗi. Vì thế tôi nhất định không theo chế độ đó; cho tới ngày nay tôi cũng chỉ là một tín đồ tín ngưỡng triết lý mà thôi. Hơn nữa, nếu có dịp, tôi sẽ đánh đổ cái chế độ mục nát ấy. Sau đó tôi theo đuổi việc chấn hưng Phật Giáo" [7]

Qua đây, ta hiểu vì sao Nguyễn Hữu Kha không vào chùa làm sư, mà chỉ làm cư sĩ tu tại gia, vừa lao động kiếm sống vừa hoằng dương Phật pháp.
Do không mất thì giờ vào các nghi thức tôn giáo ở chùa nên cư sĩ có điều kiện học kiến thức nhiều mặt, nghiên cứu triết lý đạo Phật một cách khách quan, từ nhiều góc độ.

Năm 26 tuổi Nguyễn Hữu Kha lấy bút danh Lạc Khổ (vui trong cảnh khổ), bắt đầu dịch kinh Phật ra Quốc ngữ, vì ông thấy người ta toàn tụng kinh chữ Hán nên chẳng hiểu gì. Dịch kinh đúng là khổ thật, cực kỳ khó nhọc, phải giỏi cả Hán học, Phật học, nhưng ông quyết làm với suy nghĩ:
"Vì kém tinh thần tự lập cho nên ta cứ vùi đầu với kinh chữ Hán, ít người dám dịch kinh sang tiếng ta. Kinh chữ Phạn dịch ra chữ Hán được, thì dịch ra chữ ta cũng được chứ sao! Chữ Quốc ngữ của ta rất dễ phổ biến, dịch âm lại đúng hơn chữ Hán" [8]

Tuyển tập gồm 16 cuốn kinh cơ bản do Thiều Chửu dịch được nhà xuất bản Tôn Giáo in lại năm 2002 là một ghi nhận cố gắng ấy.

Năm 1932 ông tự in tác phẩm của mình là bản dịch “Kinh Vô Thường”; năm 1934 dùng bút danh Thiều Chửu in “Khóa Hư Kinh dịch nghĩa” – bản dịch ra Quốc ngữ tác phẩm “Khóa Hư Lục” nổi tiếng của Trần Thái Tông.

Học giả Nguyễn Lang (tức thiền sư Thích Nhất Hạnh) nhận xét: "Thiều Chửu là một cây bút rất vững chãi và sâu sắc; căn bản Hán văn của ông rất vững; văn Khóa Hư là văn biền ngẫu rất khó dịch nhưng bản dịch của ông rất đặc sắc, đọc êm tai, nghĩa lý khá rõ ràng" [9]

Thiều Chửu chưa ngày nào được đi học, chỉ được bà nội dạy chữ Hán và Quốc ngữ. Sau đó nhờ công phu tự học mà ông sớm tinh thông Tứ Thư Ngũ Kinh, đến tuổi "tam thập nhi lập" đã thạo dùng tiếng Pháp, tiếng Anh, và đặc biệt am hiểu Hán học, Phật học.

Suốt đời học, lao động chân tay và trí óc, miệng nói tay làm, nên việc gì ông cũng giỏi, từ cày cấy đến viết lách. Ông dùng thuốc Nam chữa khỏi bệnh cho nhiều người, và viết loạt bài "Bà Lang Nhà" rất thú vị đăng nhiều kỳ trên báo Đuốc Tuệ.

Ông có một học trò là Ni sư Thích Đàm Ánh, 85 tuổi, hiện trụ trì chùa Phụng Thánh [10]. Ni sư Đàm Ánh có câu cửa miệng: "Chẳng ai giỏi bằng thầy tôi" và hay kể: ông đỡ đẻ mát tay đến mức nhiều gia đình đến nhờ trước hàng tháng.

Nhân vật Thiều Chửu ấy đã đi xa hơn nửa thế kỷ nhưng tên tuổi, tư tưởng, sự nghiệp cùng di sản vô giá ngót một trăm tác phẩm của ông vẫn sống mãi với dân tộc...

Nguyễn Hải Hoành (http://tuanvietnam.net/vn/nhanvattrongngay/6337/index.aspx)
>> Phần tiếp theo: "Thiều Chửu - nhân vật Phật giáo xuất chúng thế kỷ XX"
-------------

Ghi chú:
[1] Edward Conze: Lược sử Phật Giáo, Nxb Tổng hợp TPHCM

[2] Nguyễn Đại Đồng: Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội 2008

[3] Chương Thâu và Hồ Anh Hải: Nguyễn Hữu Cầu, chí sĩ yêu nước Đông Kinh Nghĩa Thục, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội 2007

[4] Edward Conze, ibid.

[5] [6] [7] Tự Bạch của Thiều Chửu

[8] Thiều Chửu: Lời tựa bản dịch kinh A Di Đà

[9] Nguyễn Lang: Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, tập III, Nxb Văn Học, Hà Nội 1994

[10] Địa chỉ chùa Phụng Thánh: Ngõ Cống Trắng, Khâm Thiên, Hà Nội; Điện thoại 04-38512547
</TD></TR></TBODY></TABLE>

anmota
03/20/2009, 12:31 AM
<TABLE cellSpacing=3 cellPadding=2 width="100%" border=0><TBODY><TR><TD class=tintop_title vAlign=top align=left>"Thiều Chửu - nhân vật Phật giáo xuất chúng" </TD></TR><TR><TD class=diadiem vAlign=top align=left height=20>19/03/2009 07:29 (GMT + 7)</TD></TR><TR><TD class=text vAlign=top align=left>(TuanVietNam) - "Ngày nay nhìn lại, thật đáng kinh ngạc về tư tưởng sâu sắc và mạnh mẽ của ông về nhân dân. Đó là một tư tưởng xã hội có tầm cao rất đáng để chúng ta chiêm nghiệm... Tính thời sự vẫn còn nguyên" - nhà văn Nguyên Ngọc viết về Thiều Chửu. </TD></TR><TR><TD class=text vAlign=top align=left width="100%" height="100%">
>> Bồ Tát đời thường và dòng chảy tư tưởng Phật học (http://tuanvietnam.net/vn/nhanvattrongngay/6416/index.aspx)

Học và thực hành Phật Giáo Nhân Gian
Thiều Chửu góp công lớn trong sáng lập Hội Phật giáo Bắc Kỳ (1934), nhưng khi Hội mời vào Ban Trị sự thì ông lại do dự vì thấy Ban này có mấy vị quan cai trị. Sau cùng ông nhận lời với ý nghĩ có thể lợi dụng Hội này để thực hành cái chí đánh đổ chế độ thối nát của nhà chùa thời đó. [11]
<TABLE id=table1 align=left><TBODY><TR><TD style="FONT-SIZE: 9pt; FONT-FAMILY: Arial, Verdana, Helvetica, sans-serif">http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/62/2009/03/17_3/ConduongHocPhat.jpg</TD></TR></TBODY></TABLE>Nói là làm. Ông kiến nghị lập nhà in. Hội đồng ý và giao ông quản lý nhà in Đuốc Tuệ. Tiếp đó ông được giao phụ trách tài chính của Ban Hưng công chùa Quán Sứ (1938-1942).

Thiều Chửu viết rất nhiều, tuyên truyền Phật Giáo Nhân gian, phê phán tệ mê tín dị đoan trong Phật sự.

Ông cũng sáng tác thơ ca. Nhà thơ Đinh Công Vĩ hết lời ca ngợi trong bài “Cư sĩ Thiều Chửu với cả một trời thơ”. [12] Năm 1943, ông soạn cuốn “Giải thích truyện Quan Âm Thị Kính”, chủ yếu dùng triết lý Phật Học để giải thích. Coi tập thơ Nôm khuyết danh đó là kinh Phật, Thiều Chửu là người đầu tiên nói nước ta có kinh Phật.

“Con đường học Phật ở thế kỷ thứ XX” xuất bản năm 1952 – tác phẩm cuối cùng, viết bằng máu và nước mắt, như lời học giả Vũ Tuấn Sán [15], thể hiện quan điểm của một Phật Tử chân chính, tiên tiến, yêu nước, kiên quyết vạch mặt một số tăng sĩ vùng địch chiếm mưu mô thần bí hóa đạo Phật, qua đó làm nhụt tinh thần kháng chiến của dân tộc.

Ông kêu gọi Tăng sĩ đoàn kết trong một tổ chức Phật Giáo thống nhất; Lao động tự nuôi thân bằng các nghề làm ruộng, công nghệ, giáo dục, y tế; Học và thực hành Phật Giáo Nhân Gian; Góp tài lực cải thiện đời sống nhân dân.
Ngót 30 năm cầm bút, Thiều Chửu để lại 93 tác phẩm viết và dịch [13]. Đáng chú ý là tác phẩm “Phép nuôi con” (1926) và “Tự điển Hán Việt” xuất bản năm 1942.

Học giả Lê Mạnh Thát nói: "Những người Việt học Hán văn không thể không cúi đầu tri ân công trình văn hóa bất hủ này". [14] Mới đây một nhóm người Việt ở Pháp biên soạn lại thành “Tự điển Hán Việt Thiều Chửu điện tử” và phổ biến miễn phí trên http://www.viethoc.org.

Nguyện làm Phật sự

Thiều Chửu từng khước từ làm Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội trong Chính phủ Cách mạng lâm thời để nguyện một đời làm Phật sự. [17]

Hồi làm hiệu thuốc ở Ngã Tư Sở, ông dành ba buổi tối mỗi tuần đến chùa Sở (tức chùa Phúc Khánh) dạy các nhà sư học chữ Hán. Thời gian ở hiệu sách Hòa Ký và nhà in Đuốc Tuệ, tối nào ông cũng dạy chữ Hán, Quốc ngữ, cách trí, sử ký, địa dư cho đồng nghiệp.

Ông cùng học giả Nguyễn Văn Tố và mấy người nữa đồng sáng lập Hội Truyền bá Quốc Ngữ và hăng hái làm mọi việc Hội phân công. Hồi tản cư kháng chiến, tới đâu ông cũng mở trường dạy chữ cho trẻ em và người lớn.

Thiều Chửu còn giảng dạy triết lý Phật học cho nhiều người. Một số học trò ông sau trở thành những vị chân tu uy tín cao như Hòa thượng Thích Tâm Tịch, sau là Pháp chủ Giáo hội Phật Giáo Việt Nam, Giáo sư Trần Việt Quang sau là đại tá quân đội và Ni sư Đàm Ánh - một nhà từ thiện có tiếng.

Ông từng dự đoán, khi khoa học phát triển cao, "các tôn giáo có lập trường thần bí tất sẽ bị đào thải. Thế giới ngày nay không ai không tin khoa học... Lập trường của Phật Giáo trăm phần trăm đúng với cái đích của nhân loại tiến hóa tột bực sẽ tới, lẽ tự nhiên Phật Giáo sẽ không bị đào thải, trái lại càng rực rỡ quang vinh." [19]

Ông nói, vì các Phật Tử ngày nay làm sai hẳn nguyên tắc của Phật nên đạo Phật "nhất định sẽ bị đào thải nếu ta không mau trở lại cái bản lai diện mục của Phật Giáo". Như vậy ông là một trong số rất ít người cùng thời hiểu được đạo Phật có bản chất khoa học.

"Phải tận hiếu với nhân dân"

Nhà văn Nguyên Ngọc nhận xét: Thiều Chửu theo đạo Phật với động cơ vì dân. Ông viết bằng chữ hoa câu “Phải tận hiếu với nhân dân. Nhân dân là cha mẹ bao kiếp, là chư Phật vị lai” ngay trang đầu sách “Con đường học Phật ở thế kỷ thứ XX”; ông coi nhân dân là lực lượng duy nhất có thể cải tạo thứ Phật Giáo đã bị tha hóa, và họ chỉ có thể làm được việc đó khi Tăng sĩ trả chùa cho dân...
"Ngày nay nhìn lại, thật đáng kinh ngạc về tư tưởng sâu sắc và mạnh mẽ đến dường ấy của ông về nhân dân. Đó là một tư tưởng xã hội có tầm cao rất đáng để chúng ta chiêm nghiệm... Tính thời sự của nó hầu như vẫn còn nguyên" [22].

Học giả Vũ Khiêu đánh giá Thiều Chửu là một con người chân chính, một nhà trí thức lớn của dân tộc, và kính tặng đôi câu đối "Nửa kiếp trầm luân, bác cổ thông kim, lòng bốn bể; Trăm năm phù thế, cứu dân báo quốc, phép muôn đời".

Học giả Vũ Tuấn Sán nhìn nhận Thiều Chửu "là một hiện tượng khá đặc biệt trong giới trí thức ở thế kỷ XX, một người sống cuộc đời thanh cao, hoàn toàn vì lý tưởng".

Còn Tiến sĩ Nguyễn Quốc Tuấn ở Viện Nghiên cứu Tôn giáo Việt Nam thì viết rằng: "Thiều Chửu là nhân vật Phật giáo xuất chúng thế kỷ XX".

Đại đức Thích Đồng Bổn cũng ngợi ca ông là "bậc Nho sĩ, Đại sĩ, Chí sĩ, rạng danh Tiết sĩ". Sách “Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX" tập I viết: Thiều Chửu là "một Phật Tử xứng đáng tiêu biểu cho hàng cư sĩ trong đạo Phật có công lớn trong lịch sử chấn hưng Phật Giáo miền Bắc" [23].
"Thiên cổ kỳ oan"

Tiếc thay, do sai lầm của đội cải cách ruộng đất nơi ông và đoàn Tế Sinh tạm trú là ấp Đồng Tâm, xã Đồng Liên, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, ông bị quy là địa chủ và bị đội "xỉa xói mắng nhiếc luôn ba bốn giờ, vu cho đủ các tội ác, dùng những lời nói rất khinh bỉ hà khắc, chỉ khác với đấu tố là chưa phải quỳ thôi." [24]

Một tháng sau, rạng sáng ngày 15 tháng 7 năm 1954 tức 16 tháng 6 Giáp Ngọ (một ngày sau giỗ cụ Cử Cầu và 12 ngày trước ký kết Hiệp định Geneva), Thiểu Chửu bí mật tự giải thoát đời mình trên dòng sông Cầu chỗ đập Thác Huống.

Cái chết “Thiên cổ kỳ oan”, vì nước vì dân, không oán hận, không cầu minh oan, chỉ có Bồ Tát mới làm được ấy" (lời học giả Lê Mạnh Thát) [25] đã gây ra nỗi chấn động và tiếc thương vô hạn trong dân chúng địa phương và giới Phật Tử cả nước.
Ít lâu sau, đội cải cách hạ thành phần ông xuống trung nông. Nhưng ở cái thời kỳ ngạt thở “Nhất Đội nhì Trời”, vụ tự vẫn kinh hoàng đó đã bị lợi dụng để phủ bóng đen lên quá khứ sáng ngời của ông, vì thế không ai dám nhắc đến ông nữa.
Giữa thập niên 60, bài vị và ảnh ông tại chùa Quán Sứ bị bỏ đi không một lời giải thích. Tới đầu thế kỷ XXI vẫn còn có người ngại minh oan cho Thiều Chửu!

Ni sư Đàm Ánh kể Thiều Chửu có dặn đừng vớt xác ông, nhưng các hậu duệ và học trò không ai nỡ làm thế. Sau hòa bình lập lại, họ trân trọng rước hài cốt ông về Hà Nội mai táng. Hiện nay mộ ông đặt tại nghĩa trang Thanh Tước, số mộ 170-C3.
Tháng 6-2002, các hậu duệ ông cùng Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và tạp chí Tia Sáng (Bộ Khoa học Công nghệ) đã tổ chức “Sinh hoạt lịch sử tưởng niệm 100 năm sinh nhà văn hóa Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha” tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội.

Trước khi về với tổ tiên, Thiều Chửu thức trắng đêm viết thư tuyệt mệnh gửi Hồ Chủ Tịch, thư dặn dò các học trò mình phấn đấu theo Kháng chiến chống Pháp đến cùng, và viết lời kết bản Tự Bạch (cũng gửi Hồ Chủ Tịch) như sau:

"Cái án “mạc tu hữu” (tức vu cáo, ông viết chữ Nho) mà ông Nhạc Phi phải chịu đời phong kiến còn có lẽ; ai ngờ đời nay chính bản thân tôi lại bị, thì tôi còn biết van vỉ làm sao được nữa".

Nguyễn Hải Hoành (http://tuanvietnam.net/vn/nhanvattrongngay/6416/index.aspx)-------------
Ghi chú:

[11] [12] [13] [14] Nguyễn Đại Đồng, ibid.

[15] Vũ Tuấn Sán: Những người lao động sáng tạo của thế kỷ, Nxb Lao động, Hà Nội 2000

[16] Thiều Chửu: Con đường học Phật ở thế kỷ thứ XX, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội 2002

[17] Chương Thâu và Hồ Anh Hải, ibid.

[18] Thiều Chửu: Phật học vấn đáp, Nhà in Đuốc Tuệ, Hà Nội 1946
[19] Con đường học Phật ở thế kỷ thứ XX, ibid.

[20] Collected famous quotes from A. Einstein: http://rescomp.stanford.edu/ cheshire/ Einstein quotes.htm) và http://dongtac.net/spip.php?rubrique7

[21] Trò chuyện với Trịnh Xuân Thuận, Tạp chí Tia Sáng và Nxb Trẻ, 2001

[22] [23] Nguyễn Đại Đồng, ibid.

[24] Tự Bạch, ibid.

[25] Nguyễn Đại Đồng, ibid.


</TD></TR></TBODY></TABLE>

anmota
03/21/2009, 01:47 AM
<TABLE width="100%" border=0><TBODY><TR><TD>Cập nhật 18:26 ngày 17-03-2009
</TD><TD>http://www.nhandan.com.vn/images/print.gif</IMG> (javascript:location.href='/print/?Article='+143335;) </TD><!-- <td valign="center" align="left"> http://www.quangngai.net/images/mail.gif</img> (javascript:location.href='/mail/?link=http://www.nhandan.com.vn/tinbai/?article=143335';) </td> --></TR></TBODY></TABLE>


Nhân vật trí thức trong sáng tác của Nguyễn Quang Thân sau 1975
<HR align=right width="100%" color=#0099cc noShade SIZE=1><TABLE width="100%" border=0><TBODY><TR><TD width="100%">NDĐT - Trên hành trình đi vào số phận con người cá nhân, nhà văn Nguyễn Quang Thân đặc biệt chú ý tới việc thể hiện những người trí thức. Kết quả khảo sát các tác phẩm văn xuôi sau 1975 của ông cho thấy, kiểu nhân vật trí thức được nhà văn xây dựng nhiều nhất(11/16 tác phẩm). Điều đó sẽ giúp chúng ta không chỉ nhìn nhận được một số vấn đề về trí thức sau 1975 mà còn cả những nỗ lực khám phá của nhà văn ở mảng đề tài này.

Trước hết, đó là một thế giới sinh động đa dạng, đầy đủ từng lớp, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, sống trong những bối cảnh khác nhau: nông thôn, thành thị; trong một bối cảnh xoá bỏ bao cấp, bước sang nền kinh tế thị trường, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, nghĩa là nhân vật trí thức của Nguyễn Quang Thân hiện diện trong không gian “mở” đan kẽ những mảng màu tối, sáng với những cung bậc khác nhau. Họ là kỹ sư, nhà văn, nhà báo, Phó tiến sỹ Ngôn ngữ học, Nhà khoa học... trong những không gian và thời gian khác nhau, nhưng đều ôm ấp khát vọng được cống hiến những tài năng của “kẻ sĩ” thời hiện đại. Họ là những người hiểu biết về lĩnh vực chuyên môn của mình, có hoài bão, có nhân cách. Từ trang sách bước ra cuộc đời hỗn tạp và xô bồ, vật lộn giữa hiện thực đời thường họ đã nẩy sinh những mâu thuẫn, những đối nghịch, đối mặt với cái thấp hèn, ác quỷ, cái xấu xa cản trở trên mọi nẻo đường công tác cũng như cuộc sống riêng tư. Hầu hết nhân vật trí thức trong tác phẩm của Nguyễn Quang Thân đều rơi vào tình cảnh này, phải quăng quật, giằng xé về nội tâm và nhiều khi cô độc, phải tìm một lối rẽ hay né tránh, có khi rơi vào tình cảnh bi kịch, mất phương hướng.

Huy trong "Một thời hoa mẫu đơn", một người có tài nhưng đã bị "hất cẳng bởi kẻ dưới", bởi "lương tâm nghề nghiệp của anh" không cho phép anh làm những điều vô nghĩa và người ta đã lợi dụng "lương tâm" của anh để chà đạp lên chính bản thân anh. Đau xót hơn nữa là khi rảnh rang để có thời gian nghiên cứu những vấn đề chuyên môn của mình - "những công trình vật lý còn bỏ dở", anh vẫn nơm nớp sợ vị thủ trưởng mới phát hiện công việc anh đang làm chỉ với nỗi lo sợ khi họ phát hiện, chắc gì công việc đó còn tiếp tục được nữa, hoặc có thể nó sẽ bị cướp mất ra khỏi tầm tay anh.

Tuấn trong "Ngoài khơi miền đất hứa" lại là một kĩ sư giỏi, có những sáng tạo làm lợi cho "quốc kế dân sinh", nhưng đổi lại anh phải vào tù, giơ lưng làm mồi ngon cho rệp. Tám tháng trong tù mở mắt cho Tuấn nhìn rõ sự thực cuộc đời. Sự thực cay đắng bật ra câu hỏi day dứt: "tống tôi vào tù thì xã hội có tốt hơn lên được chút nào không?". Và từ một người trí thức, không thể chống chọi được với cuộc đời, cùng quẫn, không lối thoát, anh đã chọn một hướng đi khác hẳn với những gì người trí thức thường làm. Anh mộng trở thành một tay đào vàng như những cao bồi miền Tây ở Mỹ trước đây.

Trong truyện ngắn "Vũ điệu của cái bô", người đọc sẽ thấy Phó tiến sĩ Hảo - một trí thức khát khao sáng tạo, từng dày công nghiên cứu và cho ra đời một loại keo dán dày hảo hạng. Trớ trêu thay, nhà máy đóng cửa, cuộc sống gia đình trở nên bấp bênh, "sợ mọc đuôi dài ra", Hảo buộc phải chấp nhận "bán mình" "chăn một thằng bé lên ba tuổi rưỡi", phục vụ nó "đi bô". Còn Đán - Tiến sĩ ngôn ngữ đã tu nghiệp ở Đức về phải đắng đót đối mặt với những ngôn ngữ chợ búa chưa từng có trong luận án...

Nguyễn Quang Thân đã dựng lên lực lượng vô hình, hữu hình cản trở con đường cống hiến, cản trở những khát vọng của đội ngũ trí thức chân chính. Nó có mặt khắp nơi, lúc lộ mặt, lúc giấu mặt, dẫu có tên, hay không tên, đối diện hay sau lưng, song đều nguy hiểm và có sức tha hóa ghê gớm. Đó là cơ chế quan liêu bao cấp “bát quái trận thủ tục” bủa vây, làm mòn mỏi, trì trệ, triệt tiêu sáng tạo.

Đó là nỗi sợ cố hữu, sợ thủ trưởng, sợ uy quyền, sợ vợ, sợ to tiếng, sợ nặng lời đã biến Huy (Một thời hoa mẫu đơn) thành người trốn chạy chính mình, nghiên cứu như một kẻ ngoại tình vụng trộm, phải lén lút với sách vở một mình lúc 3 giờ sáng.

Đó là những “ông quan" đầy quyền uy, những “trí ngủ” đã đi ngược lại, cản trở “bánh xe” vận động… Đó là những trí thức” dởm”, tha hóa, đầu óc rỗng tuếch, lương tâm vấy bẩn, nhưng lại ma mãnh, lọc lừa, mưu ma, chước quỷ, thừa cơ kinh tế thị trường, lén lút, chọc gậy bánh xe, mua bán, thớ lợ, nịnh bợ, ton hót, không từ một thủ đoạn nào để hại những trí thức chân chính. Để ngoi lên bằng mọi cách mọi giá, họ đã lợi dụng cả những việc tốt đẹp, trong sáng những giá trị thiêng liêng như vào Đảng. Đối với lũ "trí thức dởm“ ấy, mọi thứ đều biến thành hàng hóa, mua bán… Những Hữu, Huấn, Nội, Tình, Thực hiện diện bằng xương, bằng thịt trong tác phẩm của Nguyễn Quang Thân chính là lực lượng cản trở. Hiển, Nội biết chạy theo mốt chính trị, "cung kính xét nét với cấp trên". Thục tài năng nhưng đầy tham vọng, thủ đoạn rất tàn nhẫn và quyền uy trong "Ngoài khơi miền đất hứa", biết nuôi ý chí và biết tìm con đường hiệu quả nhất để leo dần lên cao trên thang bậc vị trí xã hội. Thục đủ nhạy cảm và thừa thông minh để đón bắt thời thế, khai thác những khe hở có lợi cho mục đích của mình, để tạo vỏ bọc hình thức đẹp, khả dĩ che giấu con người đáng khiếp sợ bên trong. Mọi điều Thục làm được tính toán sít sao với sự cơ họi chính trị đến tuyệt đối: "Bây giờ là một giai đoạn mới. Tao sẽ vào Đảng tháng Ba năm nay, trước tháng Ba thì hơi sớm, sau tháng Ba thì có lẽ muộn. Tháng Ba là thời điểm mùi vị con buôn trong tao bốc hơi đến mức tao gần như trở thành người tinh khiết. /Nhưng vào Đảng đâu có phụ thuộc vào ý muốn của cậu?/ Tao đã có tiền, tao có tự do và điều kiện. Rồi mày xem". Sự lên tiếng ấy khiến cho người ta phải rùng mình. Người ta có thể trở thành đảng viên bằng tiền, chứ không chỉ bằng lý tưởng tốt đẹp. Người ta vào Đảng vì những mục đích khác chứ không phải để rèn luyện, phấn đấu và cống hiến.

Lối sống thực dụng len lỏi vào tận từng góc khuất mỗi gia đình, khiến người trí thức phải đối mặt một cách không dễ dàng. "Thuế giường" là một truyện ngắn đơn giản với hình ảnh một ông Tiến sĩ ngôn ngữ tu nghiệp ở Đức, được mai mối lấy một cô vợ "đẹp mê hồn" bán vải ở chợ, và cuộc đời ông sang ngang từ đó. Nhà văn không đề cập nhiều đến những đau khổ hay trăn trở mà chỉ kể nhẹ nhàng cuộc sống vợ chồng ông. Nhưng chỉ cần vậy, ta đã thấy hết nỗi thống khổ của một trí thức Tây học bên người vợ thực dụng, đa tình. Và hạnh phúc mà người trí thức này tìm kiếm, mãi mãi chỉ là sự huyễn hoặc mình.

Rào cản mà người trí thức cần vượt qua là chính mình. Đó là những phút giây hèn nhát, ngã lòng, những dục vọng thấp hèn… những thách thức không hề đơn giản.

Đặc biệt, Nguyễn Quang Thân đã đi vào thân phận đời tư, tái hiện cuộc sống thường ngày của họ trong gia đình với tư cách là người yêu, là con, là chồng, là bố. ở khía cạnh này, nhân vật của Nguyễn Quang Thân, sau những cuộc tình, đổ vỡ mới ngộ ra tình yêu đích thực. Đó là Dư An trong "Con ngựa Mãn Châu", đã nhầm chỗ, đã đoạn tuyệt với ông chồng giàu có để giải thoát chính mình. Đó là Đán-tiến sỹ ngôn ngữ đã ngộ ra cuộc sống vợ chồng chỉ là một thứ “thuế giường”. Đó là lão Hạ (Người làm ra động đất) một trí thức ở vùng quê luôn phải đau khổ, day dứt, cô đơn ngay trong ngôi nhà của mình, trên chiếc giường với người vợ "đồng sàng dị mộng"vv…

Dẫu phải đối mặt với thực tế phũ phàng, có khi nếm mùi thất bại, nhưng điều đáng nói là nhân vật trí thức của Nguyễn Quang Thân bao giờ cũng trăn trở, bao giờ cũng vươn lên giá trị Chân, Thiện, Mĩ.

Họ không chịu đựng sự sỉ nhục, không cam chịu số phận, họ "nổi loạn". Lúc nhận quyết định thôi chức Tổng biên tập, Huy trong "Một thời hoa mẫu đơn" đã trả lời một câu nhọn sắc, đủ để bất kỳ một kẻ nào bãi chức anh cũng phải chạm nọc: "Tôi có thể đi hót cứt bán để kiếm sống, chữa morát nhà in hoặc làm nhà soạn sách phổ biến khoa học, phụ trách một phòng thí nghiệm vật lý hoặc giảng dạy ở một trường đại học. Nếu có viện Hàn lâm, tôi có thể phấn đấu trở thành viện sĩ. Tôi có thể chân thành nói rằng, nếu tôi nhận làm việc gì, tôi có thể cố gắng làm tròn nhiệm vụ". Nhân vật hoàn toàn tự tin vào khả năng của mình, tự tin vào sứ mệnh tự nhiên của người trí thức mà mình có nghĩa vụ gánh vác.

Trong những gam màu u tối, đục, buồn, nản nhưng những người trí thức vẫn tràn đầy ý chí và sự lạc quan vào thắng lợi tất yếu của cái tốt, đẹp trước cái xấu, ác, của công lý trước cường quyền đê tiện. Đấy chính là sức sống và vẻ đẹp của đoá hoa mẫu đơn trên mặt đất đen bẩn tanh nồng.

Không tính toán lợi ích cá nhân chỉ ham mê sáng tạo, người trí thức của Nguyễn Quang Thân còn thể hiện rõ nét bản lĩnh của mình. Khi phát hiện ra sai lầm của nhóm làm việc đã chọn nhầm phương án tối ưu, Đính (Người không đi cùng chuyến tàu) lập tức trở thành kẻ âm mưu trì hoãn xây dựng công trình, làm ảnh hưởng đến hàng chục ha của tỉnh trong vụ đông xuân... Và ngay lập tức, người ta xem Đính là kẻ dám chống lại quyết định của Tỉnh ủy. Bị xét đoán về phương diện chính trị..., chính trong hoàn cảnh đó, Đính bộc lộ bản lĩnh kiên định của một nhà khoa học. Thuần cũng vậy, anh đã đi khắp nơi này đến nơi khác, từ viện Nông hóa đến Phủ Thủ tướng để chứng minh chất vi lượng là nguồn của cải của đất đai ven sông Thái Bình. Không thể phá cải để trồng ngô như chủ trương Huyện ủy đề ra. Nhiệt tình đấu tranh của Đính, Thuần không ngoài mục đích tự khẳng định, là khát vọng biến sáng tạo cá nhân mình thành tài sản chung của cộng đồng, là ý thức đóng góp thành quả lao động vào việc hoàn thiện cuộc sống cho dù có lúc, chân lý thuộc về thiểu số.

3. Chân dung trí thức hiện lên trong sáng tác của Nguyễn Quang Thân sau 1975 muôn hình muôn vẻ, đa dạng và nhiều cung bậc. Những khám phá của nhà văn không chỉ giúp cho người đọc có cái nhìn toàn diện hơn về người trí thức mà còn có ý nghĩa cảnh báo nhiều mặt, lay thức nhiều mặt. Vấn đề đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ trí thức ra sao? Tâm lý của trí thức ra sao? Những đặc trưng lao động sáng tạo của trí thức? môi trường và hành lang pháp lý để trí thức cống hiến cho công cuộc hiện đại hóa đất nước? Những trăn trở cũng như những hạn chế của trí thức... Đó là những vấn đề không đơn giản mà từ tác phẩm của mình, Nguyễn Quang Thân đã có những gợi mở thú vị tới người đọc.


PHAN THỊ THANH HÀ

===========
Than ôi !
</TD></TR></TBODY></TABLE>