PDA

View Full Version : Ba Tác Phẩm



DongSaBang
04/03/2009, 06:12 AM
Về ba tác phẩm Việt Nam mới xuất bản tại Pháp
Lời giới thiệu: Nhân việc gần như cùng lúc một số tác phẩm của người Việt ra mắt tại Pháp, bà Janine Gillon, Phó giám đốc Trung tâm thông tin tư liệu Việt Nam (CIDVietnam), đã viết một tiểu luận đánh giá ba cuốn sách tạo cho bà cảm giác thích thú hoặc cả bất đồng với tác giả. BBC Việt ngữ xin giới thiệu một phần của tiểu luận này, qua sự chuyển ngữ của dịch giả Cao Việt Dũng từ Hà Nội.

5901
Nhà văn Dương Thu Hương trở lại văn đàn với tiểu thuyết lấy cảm hứng từ Hồ Chí Minh

Chỉ trong vòng một tháng, hai cuốn tiểu thuyết dịch từ tiếng Việt được ra mắt độc giả Pháp. Hai cuốn tiểu thuyết, hai tác giả, hai người phụ nữ. Những người phụ nữ Việt Nam, cả hai đều sống tại Pháp, những người Việt hải ngoại, như ở Việt Nam người ta vẫn gọi.

Nhưng sự tương tự dừng lại ở đó. Nếu dựa vào các con số, ta có thể nói rằng hai nữ tiểu thuyết gia cách nhau một thế hệ, chỉ cần như vậy đã đủ để giải thích "hố sâu" giữa tác phẩm của họ. Nhưng sau khi đọc, ta còn có thể nói rằng không chỉ năm tháng đào cái hố ấy, mà còn nhiều thứ khác nữa. Quả thực là hai nhà văn nhấn sâu chúng ta vào hai vũ trụ hoàn toàn đối lập với nhau. Với một người, chúng ta lao vào một thế giới cũ, với người còn lại, chúng ta tỉnh dậy trong một thế giới mới.

Nhà tranh đấu và tiểu thuyết gia

Với Đỉnh cao chói lọi, Dương Thu Hương, người muốn làm nhà văn dấn thân và tranh đấu, mang đến cho chúng ta một dạng tiểu thuyết lịch sử. Pha trộn với đó là một chút màu sắc "people" và hơi có phần chiêu khách: quả thực câu chuyện nói về - thật là lớn lao! - mối quan hệ đam mê mà "Chủ tịch" (tên thật của ông ta không bao giờ được nói rõ, nhưng ngay cả độc giả thiếu hiểu biết cũng không vướng phải chút nghi ngờ nào) hẳn đã từng có với một người phụ nữ trẻ và xinh đẹp, trong những năm 50. Niềm đam mê bị hy sinh trên bàn thờ Nhà nước, bởi "những kẻ độc ác". Trên thực tế, cuốn tiểu thuyết này có tính chất phân định hết sức rạch ròi: một bên là những người tốt và một bên là những kẻ độc ác; đứng đầu nhóm người tốt, Chủ tịch là một nạn nhân bất hạnh của những kẻ bội bạc xấu xa kia, những kẻ mà chính ông đã đưa lên nắm quyền lực, và bọn họ đã trở thành những kẻ độc ác đúng nghĩa.

"Dương Thu Hương là một nhà tranh đấu nhiều hơn một tiểu thuyết gia. Tuy nhiên điều này vẫn có thể gây xúc động cho người đọc, nếu thỉnh thoảng bà không lạm dụng cái chủ nghĩa tranh đấu rao giảng. Janine Gillon"


Cốt truyện này có thể dùng để tạo ra một bi kịch theo kiểu Shakespeare, nhưng hóa ra lại là một truyện dài và nhạt nhẽo, rất dễ đoán trước và có cấu trúc cổ điển, ít sáng tạo, đôi khi khó tin đến mức người ta rất nhanh chóng muốn bỏ mặc cái ông chủ tịch đầm đìa nước mắt và suốt ngày lý luận suông này cho số phận đáng buồn của ông ta.

Tác giả khi tuyên bố mình đề tặng cuốn tiểu thuyết này cho người bạn đã hé lộ cái bí mật kinh khủng ấy, đã nói như thể bà công bố một điều chưa một ai biết (hoặc một tin tức vô cùng hấp dẫn?) trong khi trên thực tế điều này thuộc về một tập hợp những lời đồn đại mà tất cả những ai viết tiểu sử về Hồ Chí Minh đều đã nói đến từ rất lâu, đồng thời cũng nói rõ rằng không có một bằng chứng nghiêm túc nào cho phép khẳng định các tin đồn ấy.

Và hẳn nhiên, Dương Thu Hương là một nhà tranh đấu nhiều hơn một tiểu thuyết gia. Tuy nhiên điều này vẫn có thể gây xúc động cho người đọc, nếu thỉnh thoảng bà không lạm dụng cái chủ nghĩa tranh đấu rao giảng đến độ rơi vào kiểu cường điệu không thể chịu đựng nổi của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa (mà chính bà nói mình chống lại). Đoạn văn tiếp theo, một trong những đoạn cuối của cuốn tiểu thuyết, lại không biến cái mà tác giả gọi là cuộc chiến cả cuộc đời thành một sự nực cười sao?: "Tuy nhiên, kể từ ngày mồng hai tháng chín năm Kỉ Dậu , trên đỉnh trời Hà Nội, luôn luôn treo lơ lửng một lưỡi gươm. Một lưỡi gươm khổng lồ, trong suốt. Người ta có thể nhìn rõ lưỡi gươm ấy vào những ngày thu, trời vắng mây, đặc biệt những ngày trời biếc xanh, xanh tinh lọc sau mưa bão hoặc sau khi cầu vồng hiển hiện. Lưỡi gươm ấy nhằm thẳng xuống cột cờ thành Hà Nội, chờ đợi khoảnh khắc định mệnh để rơi xuống, chặt đứt lá cờ đỏ sao vàng, kết thúc cái chế độ phản trắc và tàn bạo, tiêu diệt loài ngạ quỷ đã cắn cổ hút máu chính dân tộc nuôi dưỡng nó." Liệu đó có phải là kết luận của câu chuyện này không?... "Nghệ thuật không kết luận", Flaubert từng nói vậy.

Nữ tiểu thuyết gia 'thực thụ'

5902
Nhà văn Thuận, sinh năm 1967 tại Hà Nội, hiện sống ở Pháp

Ngược lại, với Thuận, chúng ta khám phá một nữ tiểu thuyết gia thực thụ. Chinatown là một cuốn tiểu thuyết trẻ trung và đầy sức sống, với một giọng nói độc đáo và mới mẻ... Một giọng nói lo lắng, bướng bỉnh, ám ảnh. Vừa mềm mại vừa dữ dội. Gây xáo trộn. Một giọng nói với những quãng rè... Gấp cuốn sách lại, thứ nhạc khàn tiếng của giọng nói này vẫn đi theo chúng ta...

Chinatown là một cuốn tiểu thuyết đích thực, không phải một tự truyện, cũng không phải một tự hư cấu. Mặc cho vẻ bên ngoài của nó. Bởi vì Thuận chơi với vẻ ngoài và huyền hoặc hóa độc giả với một sự khéo léo quỷ quái, chẳng hạn bằng cách đưa vào trong cuốn tiểu thuyết của mình một cuốn tiểu thuyết khác hẳn là do người kể chuyện viết.

Người kể chuyện, một Việt kiều còn trẻ sống ở Pháp, mà chúng ta sẽ gọi là T., đang ở trên tàu điện ngầm Paris, đứa con trai mười hai tuổi dựa vào vai cô để ngủ. Tàu điện ngầm dừng lại: người ta nói là có hành lý khả nghi. Khi đó là mười giờ. Rồi khởi đầu độc thoại nội tâm dài của T., kết thúc vào giữa trưa, vẫn trên đoàn tàu điện ngầm đứng im ấy. Trong hai giờ bị nhốt kín này, T. quay trở lại với cuộc đời mình: tuổi thơ và tuổi niên thiếu ở Hà Nội, đại học ở Léningrad, tiếp tục học ở Paris và cuối cùng, cuộc sống ở Paris, giáo viên tiếng Anh tại một trường ngoại ô. Cô cũng nói tới bố mẹ mình, mối tình hồi nhỏ của mình, chồng mình, các bạn cùng trường trung học, học sinh, con trai mình và các bạn của nó... cả một thế giới xoay quanh cô, các nhân vật bí hiểm, gây rối trí, được nhìn qua duy nhất cái nhìn của cô, một cái nhìn cứng rắn và không thương xót.

Chính ở đây Thuận tỏ ra mình có sức sáng tạo toàn năng: bởi nhờ cái viết mà cô tạo ra nhân vật nữ của mình, cũng như cái thế giới bao quanh và nhốt kín nhân vật ấy. Giống như hình ảnh của chuyến tàu điện ngầm, nơi T. là tù nhân, bất động, một bên vai chắc là tê dại vì sức nặng của đứa con đang ngủ tì lên, nhưng tuy vậy cô sẽ thoát ra được: mười giờ, khi tàu dừng lại, T. tự hỏi không biết mình sẽ ở lại đây hay đi ra tìm một chiếc xe bus... hai tiếng sau, tàu vẫn chưa đi, nhưng T. vẫn tự hỏi liệu mình sẽ ở lại hay...

Và cuốn tiểu thuyết của Thuận kết thúc ở câu hỏi mà chắc T. sẽ không bao giờ trả lời được... Với T., có vẻ như là sẽ không bao giờ có bình minh hết. Nhưng trong cuốn tiểu thuyết của Thuận, trước niềm hạnh phúc lớn nhất của độc giả, có một thứ. Cái đó có tên là tài năng.

Những cuộc phiêu lưu

Và đúng vào đầu cái năm Sửu rõ ràng là vô cùng hào phóng đối với các độc giả Pháp quan tâm đến Việt Nam này, một tác phẩm thứ ba được viết bởi một phụ nữ Việt Nam "hải ngoại" ra mắt tại Pháp: Hành trình của một phụ nữ Việt Nam - nữ sinh viên không chịu khuất phục (Itinéraire d'une Vietnamienne - L'étudiante insoumise) của Thi-Hien-Tran (NXB Balland).

5903
Cuốn sách của Trần Thị Hiền kể lại quãng thời gian tuổi trẻ thời Chiến tranh Lạnh

Nhưng tác phẩm này khác biệt hẳn với hai cuốn sách vừa nói ở trên: trước hết, đây không phải một bản dịch, mà là một cuốn sách viết bằng tiếng Pháp. Thứ hai, đây không phải một tiểu thuyết, mà là một truyện kể. Ngay ở lời mở đầu tác giả đã báo trước cho chúng ta: "cuốn tự truyện này là sự phản ánh trung thành những gì tôi đã trải qua. Nó hoàn toàn không mang một suy tư chính trị nào ẩn đằng sau..."

Là một cô bé nông dân, chắc hẳn Hien sẽ không bao giờ rời khỏi ngôi làng của mình, nếu không có sự điên rồ của người lớn... Một ngôi làng nhỏ cách Hà Nội chừng một trăm cây số... Cô đang chơi ở sân trường thì lần đầu tiên trong đời nhìn thấy một cái máy bay trên trời: cô vỗ tay vì sung sướng... Nhưng loa phóng thanh đã hét lên: máy bay Mỹ, nó sẽ thả bom... Khi ấy là năm 1962, Hien còn chưa tròn bảy tuổi, và nụ cười của cô bé gái đã khựng lại. Nhưng, vì ngây thơ, cô vẫn tự hỏi "không biết những người Mỹ kia có thể là ai"? Cô sẽ biết điều đó rất chóng, thậm chí vài năm sau cô còn khóc nức nở, "người phủ đầy máu, kinh hoàng", trên một cái sân trường khác, sân trường trung học của cô, khi cái đầu người thầy giáo dạy văn bị mảnh bom phạt đứt nằm gọn trong hai tay cô: "tôi còn nhớ mình đã muốn gắn lại cái đầu vào thân người". Nửa thế kỷ sau, làm sao quên đi được cảnh tượng mà cô "thỉnh thoảng vẫn thấy lại trong những cơn ác mộng của mình"?

Tốt nghiệp trung học ở tuổi mười bảy, cô được chọn - phần thưởng cho việc học giỏi - đi học ở nước ngoài, tại một "đất nước anh em". Với cô, đó sẽ là Ba Lan. Một chuyến đi dài bắt đầu trên chiếc xe đạp của bố cô, một ngày tháng Tám năm 1974 vào năm giờ sáng, sẽ đưa cô gái Việt Nam nhỏ bé lòng đầy ngây ngất đi qua Trung Quốc, Mãn Châu, Xibêri (nơi cô suýt bị lỡ tàu) và nước Nga, đến tận Vacsava.

"Truyện kể này là một tư liệu hết sức thú vị, một lời chứng đầy cảm động.
Janine Gillon"

Nhưng chuyến đi qua nhiều lục địa này cũng cho phép cô tự vấn về mối quan hệ của đất nước mình với hai "nước anh em" lớn mà cô đi qua: Trung Quốc và Liên Xô. Đến Vacsava, cô đã lớn lên rất nhiều.

Những niềm kinh ngạc khác, những cuộc phiêu lưu khác đang đợi cô tại đất nước ấy, nơi cô sẽ sống suốt sáu năm. Tôi chỉ xin được nói rằng sáu năm ấy kéo dài từ cuối 1974 cho tới năm 1981... Như vậy là nhìn từ góc độ chính trị, Hien đã trực tiếp được chứng kiến những cuộc biểu tình Gdansk, sự phát triển của Công đoàn Đoàn kết, lời tuyên bố chấm dứt chiến tranh Việt Nam, việc một người Ba Lan được bầu làm giáo hoàng, và rất nhiều sự việc khác nữa... Hơn thế, cô đã phạm luật để lấy một người Ba Lan làm chồng... Từng ấy chi tiết cung cấp chất liệu cho rất nhiều suy nghĩ, mang tính chính trị hoặc không, đủ để viết nên một truyện kể đầy biến cố và xúc cảm.

Tất nhiên, truyện kể này sẽ không nằm trong các tuyển tập văn chương. Tất nhiên, để tự nói về mình, để nói về cuộc đời mình, Hien đã không có được sự gián cách dẫn tới cái phổ quát của một Malraux hay, ở một kiểu viết khác, của một Marguerite Duras hay của một Annie Ernaux. Nhưng đó không phải là tham vọng của cô. Cô chỉ muốn kể lại chuyện đời mình. Và cô đã làm điều đó. Và để nguyên như vậy, truyện kể này là một tư liệu hết sức thú vị, một lời chứng đầy cảm động.

<a href=http://www.bbc.co.uk/vietnamese/culture/2009/04/090403_gillon_viet_newbooks.shtml>nguồn</a>

anmota
04/03/2009, 09:03 AM
Ngỏ lỗ thủng
ở đâu và… như thế nào http://www.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2009/04/090401150647_lenin_statue_226283.jpg

Trung Trung Đỉnh viết 'Ngõ lỗ thủng' để lưu giữ những ngày buồn

Trần Hoàng Thiên Kim (http://evan.vnexpress.net/news/tac-gia/?id=1000004370)
Cho đến nay, những người cùng thế hệ với nhà văn Trung Trung Đỉnh vẫn chưa quên được những ngày gian khó ấy. Nói là “tiễn biệt những ngày buồn” nhưng thực chất lại là lưu giữ nó, gặm nhấm nó như một vết sẹo trong tâm hồn, trong ký ức.
Tôi đến gặp nhà văn Trung Trung Đỉnh vào một buổi chiều muộn, khi NXB Hội Nhà văn, nơi ông đang làm giám đốc, yên ắng đến lạ thường. Bàn làm việc đầy bản thảo đã in và sắp in của ông đang ngổn ngang trước mặt. Ông lặng lẽ châm thuốc hút. Ánh mắt đăm chiêu sau cặp kính râm dường như đỏ ửng mầu rượu, hơi rượu của một buổi nhậu với bạn bè vừa dứt.
Nhà văn Trung Trung Đỉnh là người ít bộc lộ về mình, càng không hay nói về những điều đang diễn ra. Cái vẻ lặng lẽ khiến ông như thành một người khó tính, khó gần, khó gợi chuyện. Ngay cả khi tôi háo hức hỏi về bộ phim Ngõ lỗ thủng dài 29 tập, được chuyển thể từ hai cuốn tiểu thuyết Ngõ lỗ thủng và Tiễn biệt những ngày buồn của ông, do Trung tâm Sản xuất phim truyền hình - Đài Truyền hình Việt Nam sản xuất, phát sóng vào “giờ vàng” trên VTV1, vừa kết thúc.
Tôi hỏi nhà văn Trung Trung Đỉnh: Ngõ lỗ thủng ở đâu và… như thế nào mà đã đi vào tiểu thuyết, vào phim đầy hình tượng đến vậy? Ông cười: “Nó chỉ đơn giản là một cái ngõ nhỏ như bao con ngõ khác ở xứ sở này. Nó ở gần phố Vân Hồ 3, nơi tôi và rất nhiều bạn văn đã sống ở đó trong những ngày gian khổ của đất nước. Bản thân ngõ nhỏ đó không có tên, nhưng những người đi tập thể dục đã khoét một lỗ thủng để đi vào công viên Thống Nhất. Đó là lối đi đến công viên gần nhất của những hộ sống gần đấy. Tôi gọi nó là 'ngõ lỗ thủng' đúng như thực tế vốn có của nó mà thôi”.
<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=3 width=1 align=center border=0><TBODY><TR><TD>http://evan.vnexpress.net/News/chan-dung/2009/04/3B9AE3F3/trung-trung-dinh.jpg</TD></TR><TR><TD class=Image>Nhà văn Trung Trung Đỉnh. Ảnh: Thiên Kim.</TD></TR></TBODY></TABLE>
Ngõ lỗ thủng và Tiễn biệt những ngày buồn là hai cuốn tiểu thuyết được nhà văn Trung Trung Đỉnh viết vào những năm 80 (của thế kỷ 20). Câu chuyện xảy ra trong tiểu thuyết cũng là câu chuyện của chính cuộc đời ông. Đó là cuộc sống của những người dân trong giai đoạn chuyển tiếp từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường với ngổn ngang bao sự đổi thay. Chỉ là một cái ngõ thông thường như bao cái ngõ quanh co của thành phố Hà Nội, nhưng ở cái ngõ đó, cuộc sống của những người công nhân, trí thức, thợ thủ công, lao động tự do được bộc lộ một cách đặc trưng nhất. Ở đó, có Bình, biên tập viên báo Hạnh Phúc, nhưng lại gặp nhiều bất hạnh trong cuộc sống riêng. Xoay, một nhà văn độc thân chỉ biết mê mải làm nghề và luôn chân thành, chân chất, thật thà trong tình yêu với Sương mà không hề biết đến những toan tính cùng cách sống thực dụng của cô. Sự va chạm giữa hai lối sống thực dụng, cơ hội với chân thật, hồn nhiên ẩn dưới những câu chuyện tưởng chừng hài hước nhưng không thiếu bi kịch. Một bà Mão, quanh năm hương khói thờ thần Phật nhưng cả đời vẫn phải sống dựa người khác, bị đuổi ra khỏi chính ngôi nhà của mình. Một Ron, luôn luôn cúc cung tận tụy cho sự nghiệp, cứ nghĩ ai đó đã nói là phải đúng, đã đúng là phải làm, đã làm quyết không sai, rốt cuộc ra về tay trắng, hóa thành một anh ngớ ngẩn, nhìn con chết mà bất lực…
Đặc biệt, trong phim, anh Gù là hình tượng xuyên suốt đầy ám ảnh. Nhà văn Trung Trung Đỉnh tâm sự rằng, anh Gù là một nhân vật có thật đã đeo đẳng tâm trí ông suốt một thời gian dài. Anh Gù sống bằng tiền bán nước chè, thuốc lào ở đầu ngõ lỗ thủng. Trong cuộc đời thật, anh Gù bị liệt hai chân bẩm sinh. Hai tay và chiếc ghế đũn là vật duy nhất giúp anh đi lại trên đất. Anh sinh ra vốn dĩ không bị gù nhưng vì lưng là nơi chịu lực cho cơ thể anh di chuyển, nên lâu dần, anh đã thành anh Gù như cách mà người đời vẫn gọi. Tuy không đi lại được nhưng cái “uy” của anh Gù rất lớn. Người tử tế cũng nể anh mà kẻ bụi đời, bặm trợn cũng sợ anh một phép. Anh thường làm nhiệm vụ của người giữ “cán cân công lý” đứng ra xử lý hết những việc nhỏ to va chạm của khu phố, mà chỉ giải quyết bằng sức mạnh của tinh thần.
"Tôi vẫn nhớ" - nhà văn Trung Trung Đỉnh kể lại - "Có một vụ tranh chấp, giành giật khách hàng trong ngõ phố không ai chịu ai, cãi cọ om sòm, mấy ông thanh niên phải bế anh Gù đến tận nơi để giải quyết. Và thường thì các việc được anh Gù đứng ra can thiệp đều êm thấm. Tôi nghiệm ra rằng, ẩn sâu trong con người xấu xí ấy là một trái tim mạnh mẽ. Anh Gù có uy lực tinh thần, được tin yêu vì anh không chỉ sống cho riêng mình mà anh biết sống, biết nghĩ về những người khác, mang cái tốt lành đến cho láng giềng, chòm xóm".
Khác với tiểu thuyết, trên màn ảnh có nhiều chi tiết đã được đạo diễn, nhà biên kịch thêm hoặc bớt để đúng với câu chuyện “xi-nê”, không phải là kiểu diễn tả tâm lý nhân vật như trong tiểu thuyết. Tôi hỏi nhà văn Trung Trung Đỉnh: “Ông có tán thành việc thay đổi của đạo diễn và nhà biên kịch?”. Nhà văn lắc đầu: “Tôi không xem phim nên không biết đạo diễn đã cho các nhân vật tính cách tốt xấu thế nào, nhưng trong tiểu thuyết của tôi thì các nhân vật đều là người tốt. Vì họ đều là những người cùng chung cảnh ngộ, cùng đi qua cuộc chiến tranh của dân tộc, cùng cảm thông và thương nhau. Tôi viết Ngõ lỗ thủng và Tiễn biệt những ngày buồn là viết về những con người của một thời chỉ tin vào những tình cảm trong sáng. Nhóm người này quan niệm rằng: Sống ở trên đời có khó khăn đến đâu chỉ cần có tình cảm với nhau là vượt qua hết. Mặc dù thực tế là khi họ mang niềm tin, tình cảm đó để đi xin việc, đi nhờ vả thì chẳng ai đón nhận cả. Sự sụp đổ niềm tin đến không chỉ với nhóm bạn này, mà ngay với cả bà Điếc, một nhân vật có tên mà đã thành không tên trong đời sống. Trong giây lát, bà Điếc sụp đổ hoàn toàn. Cả đời bà đơn chiếc, chỉ có một “mẩu vàng” là niềm tin cho bà dựa dẫm, bỗng chốc cuối đời bà phát hiện ra đó là vàng giả. Sự sụp đổ ấy, còn ghê gớm hơn cái chết. Tôi muốn đưa ra một thồng điệp về cuộc sống, về con người với những “lỗ thủng” - Đó không còn là cái lỗ đục tường làm nơi qua lại công viên, nó đã trở thành lỗ thủng của nhân cách, của tri thức, của văn hóa len lỏi trong từng con người”.
Như được lục lại trong ký ức, nhà văn Trung Trung Đỉnh kể cho tôi về quãng thời gian sống trong khu tập thể ở Vân Hồ với cái ngõ lỗ thủng đã đi vào đời sống, đời viết của ông. Tiểu thuyết Ngõ lỗ thủng hồi ông mới hoàn tất cũng chưa được các nhà xuất bản “vồ vập” ngay đâu, vì nó đã đề cập đến những vấn đề khá nổi cộm của cơ chế xã hội lúc bấy giờ. Ông cho rằng, nhà biên kịch đã rất thông minh khi gộp hai cuốn sách đó lại để làm phim, vì nội dung, bối cảnh đều nói lên một hiện tượng xã hội trong cùng một thời điểm lịch sử. Cuốn sau bổ khuyết cho cuốn trước hoàn thiện hơn, nhìn mọi sự thấu tình đạt lý hơn.
Cho đến nay, những người cùng thế hệ ông vẫn chưa quên được những ngày gian khó ấy. Nói là “tiễn biệt những ngày buồn” nhưng thực chất lại là lưu giữ nó, gặm nhấm nó như một vết sẹo trong tâm hồn, trong ký ức. Để mỗi lần nghĩ về ngõ lỗ thủng là ông lại nhớ về cái quán nước chè của anh Gù, nơi mà ông coi như “ngôi nhà thứ 2” của mình. Bởi đó là nơi đã mang lại cho ông những câu chuyện, những cảnh đời có thật để đưa vào trang viết.
Có lẽ Trung Trung Đỉnh là nhà văn duy nhất không có ý thích xem lại phim chuyển thể từ hai cuốn tiểu thuyết ghi dấu cả một giai đoạn đáng nhớ của cuộc đời mình. Và có lẽ ông cũng là nhà văn duy nhất viết lời hát (nhạc của Trọng Đài) cho bộ phim được chuyển thể ấy. Lời hát là lời trái tim ông cất lên thành thơ, là nỗi lòng ông đang trĩu nặng những tâm tư, ký ức về những tháng ngày sống cùng những nhân vật trong ngõ lỗ thủng, cùng với tấm lòng bè bạn chưa hề mờ phai trong tâm trí. Lời bài hát đau đáu rằng: "Cõi người ta/ Cõi người ta/ Niềm vui thì ít xót xa thì nhiều/ Nỗi buồn níu giữ tình yêu/ Cái nông nổi giữa trăm chiều dở dang/ Em ơi chiều xuống nắng vàng/ Cớ sao mưa đổ cắt ngang đường về... / Ngỡ rằng sau cuộc chiến chinh/ Vai anh trĩu nặng mối tình của em/ Ngỡ rằng đời sẽ lên men/ Cò, vạc nay hết bon chen đầm lầy/ Sắc - không quay tít tháng ngày/ Bánh phu - thê có làm say cõi lòng/ Bao giờ hết gió mùa đông/ Thì buồn em mới dám không buồn người...”.

(Nguồn: Công An Nhân Dân)