PDA

View Full Version : Cây quạt từ S. Mallarmé đến Hồ Xuân Hương …



DongSaBang
03/09/2010, 09:17 AM
Bài viết lý thú của tác giả Khổng Đức. Hóa ra ông đang goị nữ sĩ Hồ Xuân Hương về để nói lên cái ngày nay của "Thời đại vua Lê chúa Trịnh, một thời đại đầy thối nát, đầy kinh dị; vua hư vị, chúa hoang dâm, quan lại xôi thịt. sĩ phu hèn mạt, binh lính kiêu căng…Nhân dân lúc nào cũng lo sợ, sống giữa trần gian mà chẳng khác nào tự giam mình trong địa ngục."

"Thơ của HXuân Hương hay nói tục chính là vì bị ức hiếp quá đổi mà phải phản ứng đó thôi,..."

"Có thể nói Hồ Xuân Hương là một thiên tài hiếm có, bà là người đã vượt qua thời đại, là kẻ tiên phong đề cao giá trị của phụ nữ, coi thường giới sĩ phu, tư tưởng của bà vượt cả không gian và thời gian. Là con người của cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 mà giống như con người của thế kỷ 21."

Xin mời.
_______________________

Cây quạt từ S. Mallarmé đến Hồ Xuân Hương …
Tiểu luận của Khổng Đức

Cũng lạ, cây quạt chiếm vị trí trung tâm trong thơ Mallarmé, thông thoáng, mơ hồ, cản trở, tham dự…Trở thành mẫu mực của thơ, nó dẫn dụ như một hơi gió do tay phát ra, một nhịp liên tục hiện rồi biến. Như động tác, đi về, quảng không đóng mở. Cái quạt của Mallarmé là mô típ quay về, trùng phục hay láy đi láy lại…. Trong bài “Sự biến hóa của một chủ đề” ( Variations sur un sujet) Mallarmé đã viết : “ Sự gấp xếp đối với trang giấy in cở lớn, là một triệu chứng gần như thuộc tín ngưỡng, nó không dập mạnh chồng chất thành chiều dày, cho người ta có cảm giác là ngôi mộ nhỏ, dĩ nhiên là ngôi mộ của tâm hồn.”

Nếu quyển sách và cây quạt có điểm giống nhau ở sự đóng và khép, mở ra và chồng lên, nhưng cách thức rất khác nhau. Với quyển sách lằn xếp đồng nhất, còn cây quạt thí có vô số lằn xếp; quyển sách có nhiều trang, còn cây quạt chỉ có một trang duy nhất. Cây quạt mở ra trước mắt trọn vẹn, còn sách chỉ mở ra từng trang từng đoạn. Cây quạt mở ra như tràng hoa, còn sách xếp lại như nấm mồ nhỏ. Quyển sách ẩn dấu một sự bí mật, còn cây quạt thì như bày ra trò chơi. Quyển sách giống như một cái tủ, chống lại không gian cường bạo một cách tế nhị, xếp dấu cái tự ngã hiện hữu đến tận cùng và chân thành. Cây quạt trái lại, tự mở ra trước không gian, nó không bảo vệ chống lại sự tế nhị của nó, nó không che đậy cái nội tâm mà mở ra. Nó hoạt động, nó trình bày, nó thiết lập nhịp điệu và động tác; trong khi quyển sách như hăm dọa tự đông cứng như nấm mộ.

Cây quạt trước mắt thi nhân như một trang sách mẫu thoải mái. Khinh khoái và thoáng đảng, cao quí và vững chắc, vốn đồng nhất và phân tán, như là từng bộ phận của nó – nhịp, câu, đoạn, hay chủ đề -- toàn thể nó không bao giờ cô đặc lại. Đi đến cùng, nhịp của bài thơ xếp lại, trong khi cây quạt gọi đó là “coup de dé” ( may mắn) ý tưởng theo đoạn dọc bày ra, và một câu thơ tung ra và liên tục “được ngắt ra” còn cây quạt là như trang giấy độc nhất có nhiều nếp, nó thỏa mãn cái ước vọng chung của một bài thơ có kích thước chính xác, hay là cái quảng dài của quyển sách mà nó tiếp theo không phải là sự thu nhập, một album và sưu tập, mà là đối tượng của trang giấy duy nhất dâng tặng cho sự theo đuổi một văn bản độc nhất.

Nếp gấp xếp của bài thơ đó là những khoảng trắng “là cái khung tri thức” của nó. Đó cũng là khoảng ngắt hơi của sự đọc, thứ sắc dục phô bày ẩn dấu, hiện, biến. Dưới mắt của Mallarmé, chữ viết và đọc tạo thành một trò chơi bác học, chứng tỏ cái mà ông gọi là “dáng điệu của ý niệm” (les gestes de l’idée) và là “hành vi thi tính (l’acte poétique), gồm có sự bắt gặp một ý niệm tương tợ phân chia thành một số những mô-típ có giá trị để tập họp nó lại, lằn xếp của cây quạt phù hợp với thi pháp lặp lại (reflets réciproques). Người ta có thể nói rằng đó là nhịp của ý nghĩa. Nó tạo thành những câu thơ và những đoạn tập hợp lại, những ý tưởng chia nhỏ ra như hình lăng trụ (subdivisions prismatiques). Cái thi tính lấp lánh, gấp xếp và những láy lại thành cặp với tư tưởng vừa tập hợp vừa phân chia ra. Tia lấp lánh của thủy tinh như khao khát, từ đó thu họach được những mảnh vụn và khúc xạ có tính toán, nó không còn bị đè nặng như không chịu nổi tia sáng tuyệt đối ngoài nội dung.

Gấp lại và mở ra, lấp lánh và phản chiếu, mở ra một thể chế mới về trử tình, được nắm vững bằng tay viết và bằng cách ngắt đoạn bình thường nhưng phức tạp nó sẽ thay thế cho sự khoa trương cất cánh cũ kĩ. Nếu cây quạt là phương trượng đặc trưng của nữ giới, giá trị của nó là bộ phận đột khởi một quá trình của bài thơ không có gì là nam tính, kết nối với sự mất mát năng lượng. Baudelaire nhấn mạnh về sự lưỡng tính của thi nhân, trong khi Mallarmé lại nhấn mạnh về nữ tính. Người ta biết rằng những phục trang tủn mủn theo sở thích mang danh hiệu nữ giới.

Mallarmé viết nhiều vế cây quạt dưới dạng bốn câu, chỉ có ba bài dài là phác họa ba khuôn mặt tượng trưng cho ba mối tình : tình vợ chồng, con cái và tình riêng tư. Đó là ba nhân vật : Bà Marie là vợ, con gái là Geneviève, và người tình là Mery.

Cây quạt của Méry Laurent, là một sonnet viết năm 1890, mang màu sắc của tính ái; ở đó Mallarmé trước hết là dừng lại ở sự tô điểm đối tượng, vẽ nên những hoa hồng trắng, mà hơi thở của người yêu đánh thức sự hiển hiện của tính lạnh lùng, tuy nhiên cử chỉ của nó lại giải thoát cái quán tính của sự tô điểm, vẽ ra những đài hoa trắng. Chúng ta hãy đọc nguyên văn bài thơ:

EVENTAIL Cây quạt ( tạm dịch lấy ý )
De frigides roses pour vivre Để sinh tồn em như đóa hoa hồng lạnh.
Toute la même interrompront Tất cả như ngung đứt, với một đài trắng
Avec un blanc calice prompt ngắn gọn;
Votre souffle devenu givre Hơi thở em trở thành sương trinh.

Mais que mon battement delivre Và tim tôi đập mạnh giải thoát
La touffe par un choc profond Sum sê bằng một cú sốc sâu xa
Cette frigidité se fond Sự lạnh lùng tan biến
En du rire de fleurir ivre Thành nụ cười như hoa nở

A jeter le ciel en détail Thiên thần tung ra chi tiết
Voilà comme bon éventail Đúng như cây quạt mỹ miều
Tu conviens mieux qu’une friole Em trở thành một bình pha lê quí

Nul n’enfermant à l’émeri Như viên ngọc thạch vở tung
Sans qu’il y perdre ou le viole Nó không mất mát hay cưỡng hiếp
L’arôme émané de Mery. Hương vương bốc từ Mery.

Trở lại với bài thơ, ở đây cây quạt là nhân vật thứ nhất, thay vì cho vị trí của thi nhân – dĩ nhiên là ông ta muốn tỏ ra thân thiết với người yêu cũng như đồi tượng - hoàn thành việc biến đổi sự lạnh lùng thành nụ cười như hoa nở.

Bài thơ viết về cây quạt của bà Mallarmé ghi ngày 1-1-1891; chắc đó là quà tặng trong năm mới theo các nhà chú thích, rất khó diễn giảng. Theo Bertrand Marchal, dường như là ca tụng bà Marie về nội trợ, quét dọn bụi bặm trong nhà như đó là cây quạt. Ông đề cao sự hoạt động rất là bình dị và kết nối nó như một bài thơ. Ông coi bà như một sứ giả hạ cánh xuống trần thế, bà chú ý đến việc bảo vệ sự sáng sủa và sạch sẽ, bà lẫn lộn giữa sự nhàn hạ và sự chăm sóc, sự ăn không ngồi rồi và công việc, so sánh với sự bận rộn đặc biệt của việc tả tác. Bà cũng đảng trí và khá tỉ mỉ với điều mà bà quan tâm và mơ tưởng lơ đểnh với điều mà bà cho là không cần thiết như chú ý đến nhan sắc, và thuần dưỡng điều đáng chú ý như ngôn ngữ và nơi cư ngụ quí báu. Ở đây nhà thơ thực hiện bài thơ nhắm vào quan điểm của bà Marie, đó là cảnh ở trần thế chứ không phải ở trên cao, thậm chí rất thấp, khiêm nhượng và nhỏ nhẹ hơn là truyền thuyết và cao hứng. Cái cánh bận rộn với tro bụi ở trần thế và trút bỏ để có thể bay bổng trong tương lai.

Để tránh sự dài dòng chỉ xin trích một vài đoạn :

Avec comme pour langage Tạm dịch ý : Như ngôn ngữ thông dụng
Rien qu’un battement aux cieux Không có gì xúc động đến thần linh
Le futur vers se dégage Câu thơ tương lai tự thoát ra
Du logis très précieux Nơi cư trú là quí báu hơn cả.

Aile tout bas la courrìère Cánh thấp nhỏ của sứ giả
Cet éventail si c’est lui Chính bà là cây quạt
Le même par qui derrìere Nó ở cả phía sau
Toi quelque miroir a lui Như một cái gương cho em
…......…

Thú thật không có B. Marchal chỉ dẫn chúng ta không sao hiểu dược Mallarmé nói gì. Bài cây quạt của cô con gái được tạo thành 5 đoạn, 8 âm tiết, với vần chéo nhau (rimes croisées) Về ngôn từ cây quạt của Genevìève không nghỉ ngơi…Nó khiến chúng ta liên tưởng đến bản chất cô gái, đến cử chỉ và chúc năng mơ mộng của cô ta. Thi nhân đồng hóa cô con gái thành một nàng thơ (muse) cầm trên tay chiếc cánh của nhà thơ.

O rêveuse pour que je prolonge - Ồ mộng mơ cho ta ngụp lặn
Au pur délice sans chemin Niềm thích thú thuần túy không có lối đi
Sache, par un subtil mensonge chỉ biết do dối trá tế nhị
Garder mon aile dans ta main Trong bàn tay ấy giữ chiếc cánh của ta

Và tưởng như bài thơ cất cánh bay. Trong đoạn 2, với cử chỉ tươi mát mang tính trử tình hoàn hảo của luồng không khí phe phảy từ cây quạt tỏa ra của buổi hoàng hôn….Tri giác của thế giới tình cảm; và những tầm vóc của nó cũng mang kiểu cách sự di chuyển nhẹ nhàng. Nơi kia vừa xót xa với khát vọng thì ở đây đã có những cử chỉ bình thường giữ lại bột phát.

Une fraicheur de crépuscule Vẻ mát dịu của hoàng hôn
Te vient à chaque battement Đến với con từng nhịp đập trái tim
Dont le coup prisonnier recule Mà cứ đập lụi dần
L’horizon délicatement Về phía chân trời lung linh

Trong đoạn 3 sự phe phẩy của cây quạt kích thích không gian như một nụ hôn nồng nàn làm choáng váng…và rồi một thế giới lấy lại ý nghĩa. Bài thơ tự đóng lại với đoạn cuối: biểu tượng nữ tính :Ce blanc vol fermé que tu poses Contre le feu d’un bracelet. Sự trinh bách cất cánh đóng kín chống lại ngọn lửa của chiếc nhẫn lấp lánh…

Tiếp theo chúng ta hãy xem hai bài thơ vịnh cây quạt của Hồ Xuân Hương:

Bài I Bài 2
Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa Mười bảy hay là mười tám đây
Duyên en dính dáng tự bao giờ Cho ta yêu dấu chẳng rời tay
Chành ra ba góc da còn thiếu Mỏng dày từng ấy chành ba góc
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa Rộng hẹp dường nao cắm một cây
Mát mặt anh hùng khi tắt gió Càng nóng bao nhiêu thời càng mát
Che đầu quân tử lúc sa mưa Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày
Nângniu ướm hỏi người trongtrướng Hồng hồng má phấn duyên vì cậy
Phì phạch trong lòng đã sướng chưa Chúa dấu vua yêu một cái này.
Hồ Xuân Hương (ước chừng 1765-1822) ra đời trước Mallarmé(1842-1898) gần một thế kỷ, kẻ ở phương đông, người ở phương tây; hoàn toàn xa lạ. Cùng một chủ đề “cây quạt”, nhưng hai cách diễn tả hoàn toàn khác nhau. Hồ Xuân Hương như nhà thơ tả chân, tả đúng hình ảnh của cây quạt, mà cũng chính là hình ảnh quí báu của nữ giới, không rụt rè, không che đậy như phơi trần trước mặt mọi người, còn rêu rao cả cái tác dụng như một công cụ cần thiết:

Chành ra ba góc da còn thiếu
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa
Mát mặt anh hùng khi tắt gió
Che đầu quân tử lúc sa mưa

Cái tài tình của thơ đông phương là ít chữ mà ý nhiều. Mallarmé là thủy tổ của trường phái tương trưng thơ Pháp, chữ dùng đầy ẩn dụ và cô đọng, được suy tôn như thi hào. Đề tài cây quạt làm đến ba bài cho ba đối tượng, dài lê thê vẫn không sao lột tả được hai mặt tĩnh và động tức cây quạt thực bằng giấy hay bằng vải và cây quạt sống chính thân, vũ khí chủ yếu của nữ giới như HXHương. Càng đọc hai câu:

Chành ra ba góc da còn thiếu, Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa.

Càng phục tài quan sát và diễn tả của XHương vượt cả cổ kim đông tây. Nhưng thơ mà chỉ nhắm vào việc quan sát với diễn tả không thôi thì tầm thường quá, nó phải vươn lên cao, hay lặn ngụp vào hố thẳm, nó là chân cảnh, là tiếng nói của tâm linh, nó là kết tinh phản ứng của thời đại….

Cây quạt của Mallarmé là cây quạt của nghệ thuật, vẫn mang hình ảnh chân thực của nữ giới, nhưng là nữ giới được che kín bằng trang phục, hóa trang bằng phấn son, rằng đẹp thì có đẹp như một họa phẩm, một giai nhân làm thỏa mãn thị giác và xúc giác thế thôi. Nó không giống như cây quạt của HXuân Hương, có thể nói là cây quạt bằng xương bằng thịt, nó có thể làm cho tế bào xúc động, thần kinh rung chuyển … Nhưng do đâu mà nó đạt được những yếu tố kỳ đặc như thế, trước khi đi sâu vào vấn đề phân tích nôi dung thơ, chắc các bạn đọc cùng đồng ý với chúng tôi rằng: trong hai bài cây quạt thì bài thứ nhất như trội hẳn hơn bài thứ hai, theo riêng tôi thì có thể bài thứ hai chưa chắc gì đã là của HXuân Hương, do đó chúng ta chỉ nói nhiều về bài thứ nhất mà ít đề cập đến bài thứ hai. Và trước tịên cũng nên xác định quan điểm bình giảng thơ của chúng tôi là không theo những nẻo đường mòn của những người đi trước, cho rằng Xuân Hương là người lãng mạn, dâm đảng, vợ bé ông Tổng Cóc, rồi ông phũ Vĩnh Tường, bồ bịch với Chiêu Hổ, v…v…, mà bà là mẫu người đăc biệt, vượt cả không gian thời gian, không những giới nữ lưu mà cả nam giới cũng chẳng ai bằng. Thơ của Bà là tuyệt vời cổ kim đông tây, đa phần đã hiểu và đánh giá sai lệch. Có dịp chúng ta sẽ bàn nhiều, giờ đây chỉ giới hạn trong bài cây quạt. Cái rủi ro của XHương là sinh ra trong một thời đại, trong một đất nước đầy nhiễu nhương. Thời đại vua Lê chúa Trịnh, một thời đại đầy thối nát, đầy kinh dị; vua hư vị, chúa hoang dâm, quan lại xôi thịt. sĩ phu hèn mạt, binh lính kiêu căng…Nhân dân lúc nào cũng lo sợ, sống giữa trần gian mà chẳng khác nào tự giam mình trong địa ngục.

Mỗi một công trình, một tác phẩm văn học nghệ thuật kỳ vĩ ra đời đều phải có một nguyên nhân một lý do xác đáng chứ đâu có phải như các loài thực vật động vật bậy bạ. Một bài thơ bốn câu hay tám câu, dù gọi là ứng khẩu đi nữa cũng phải có sự thai nghén uẩn nhưỡng lâu dài, chứ có phải đụng đâu nói đó mà được sao. Bài “cây quạt” của Hồ Xuân Hương cũng vậy. có phải tự nhiên mà có đâu, nó chính là con đẻ của hiện tượng Đặng Thị Huệ, từ một cô gái hái chè, một nữ tỳ bổng dưng trở thành đối tượng mê hoặc một ông chúa vốn cũng không phải tầm thường như Trịnh Sâm, làm đảo điên sụp đổ cả một triều đình. Một ông tướng từng khuấy động ở biên cương như Hoàng Đình Bảo, cuối cùng cũng phải chết thảm vì cái váy của vương phi. Đã hết đâu, lại còn thêm một đứa em tàn bạo là Đặng Mậu Lân, dựa vào hơi hướm của chị mà huậy nát cả kinh thành, chỉ mấy chục đứa tay chân đầu trâu mặt ngựa cầm gươmg giáo nghênh ngang khắp kinh ấp, gặp đàn bà con gái giữa đường vừa mắt, tức thi Lân sai bộ hạ quay màn trướng ngay tại chỗ rôi lôi vào hảm hiếp; ai phản đối thi cho cắt ngay đầu vú, chồng hay cha nào kêu ca thi cho bẻ răng, hoặc đánh đập đến chết. Đứng trước những cảnh áp bức và uy hiếp như vậy, đã là người ai mà không cảm xúc, không đau khổ, không phản ứng, nhất là đối với những người giàu lương tri có học thức; nhưng trước bạo lực hung tàn ai mà dám mở miệng, hay phải né tránh quay mặt đi nơi khác. Với người thường, thì vì cuộc sống vì hoàn cảnh có thể lơ đi. Nhưng với nhà thơ thì hình ảnh uy hiếp đó lắng sâu vào tiềm thức, nó biền thành xung động bản năng đề kháng chống đối. Nhưng với kẻ yếu đuối lép vế thì lấy phương tiện gì mà chống đối, ôm trong lòng nhẫn nhục chịu đựng theo các nhà tâm lý hiện đại thì đó là hiện tượng ức chế lâu ngày thành bệnh. Do đó mà bản năng chống đối đề kháng của phái yếu là nguyền rủa chưởi bới ở sau lưng kẻ thù, thường là nói tục. Nên cây quạt của XHương cũng là một sự phản ứng hào hùng mà thôi. Cái thời đại mà nữ giới luôn luôn cam phần nô lệ “Ngựa anh đi trước võng nàng theo sau “ Lễ nghi chúng ta thường cấm kị đề cập đến các bộ phận sinh dục của nam cũng như nữ, cho đó là tục là dơ nhớp. Mà dơ thật vì đó cũng là nơi bài tiết tinh khí, nước tiểu, nữ còn có cả kinh kỳ…. Lại dùng nó làm đề tài cho thơ thì đó là sự chưởi bới cho hả hê, là phản ứng của kẻ yếu, sự phản ứng tồi tệ khi con người chịu nhẫn nhục hết nổi, tuy rằng vẫn tự biết là vũ khí qui giá nên phải che đậy. Cây quạt đúng là hình ảnh của âm hộ: Chành ra ba góc…, nhưng lại có khả năng mát mặt anh hùng ….hay Cho quân tử đội đầu…Ít ra phải sống dười thời đại của Trịnh Sâm – Đặng Thị Huệ mới có thể hạ bút viết được những câu như vừa nêu, hay Chúa dấu vua yêu một cái này. Thơ của HXuân Hương hay nói tục chính là vì bị ức hiếp quá đổi mà phải phản ứng đó thôi, có hiểu như vậy thí mới thấy Bà là một nữ anh kiệt. Tôi có thể nói thêm một chút là bài thơ “Chàng cóc ơi, Chàng Cóc ơi … là thay mặt cho Đthị Huệ khóc Trịnh Sâm, chú chẳng phải Tổng Cóc, tổng kiết gì cả. Người ta thường coi trọng yếu tố tính cách cá nhân (caractere) mà quên yếu tố tình cảnh (situation); đa số khi giải thích hành vi của người khác đều có khuynh hướng quy nguyên nhân là tính cách. Nhưng khi giải thích hành vi của chính mình lại có khuynh hướng quy nguyên nhân về tình cảnh.

Có thể nói Hồ Xuân Hương là một thiên tài hiếm có, bà là người đã vượt qua thời đại, là kẻ tiên phong đề cao giá trị của phụ nữ, coi thường giới sĩ phu, tư tưởng của bà vượt cả không gian và thời gian. Là con người của cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 mà giống như con người của thế kỷ 21.

Khổng Đức