PDA

View Full Version : Chùa Khoai



Cổ Lũy
01/16/2005, 03:46 PM
Tặng người thích đọc gia phả/sử ca - Thầy Chú AMT.... :original:

--------------------------------------------------------------------------

Chùa Pháp Vân (chùa Khoai) -
nơi xuất phát cuộc biến động lịch sử năm 1866

NGUYỄN ĐẮC XUÂN

Trải qua 143 năm lịch sử triều Nguyễn (1802-1945), có nhiều cuộc biến động “bạn nghịch” (1), nhưng không có cuộc biến động nào táo bạo đe dọa đến sự sống còn của triều Nguyễn bằng cuộc biến động do anh em Đòan (Hữu) Trưng (2) - Đòan Tư Trực thực hiện ngày tháng Tám năm Bính Dần (9.1866). Cuộc biến động lịch sử ấy xuất phát từ chùa Pháp Vân và do Thiền sư Nguyễn Văn Quý làm “quân sư”. Sau khi cuộc biến động thất bại, những người có liên quan đều bị dìm trong máu, chùa Pháp Vân bị đổi tên là chùa Thiên Phúc rồi bị triệt hạ, xóa hết tài liệu trong lịch sử. Bộ Đại Nam Nhất Thống Chí (ĐNNTC) sọan xong dưới thời Tự Đức (1882), trong mục Chùa Quán ghi 8 di tích nhưng không có chùa Pháp Vân. Trong bộ ĐNNTC mới sọan lại từ năm 1906, khắc in thời Duy Tân (18.1.1910), trong mục Tự Quán giới thiệu đến 39 ngôi chùa ở Thừa Thiên Huế nhưng không có một dòng nào dành cho chùa Pháp Vân. Trong lúc đó, cuộc biến động năm 1866 được Đại Nam thực Lục CB (Đệ tứ kỷ) và Bản Triều Bạn Nghịch Liệt Truyện (sọan năm 1901) của Kiều Oánh Mậu viết rất đầy đủ. Đến gần một thế kỷ sau, nhiều nhà nghiên cứu, nhà văn viết về sự kiện 1866 như Bùi Quang Tung (La Succession de Thieu Trị), Yoshiharu Tsuboi (viết Lọan Hồng Bảo, trong sách Nước Đại Nam Đối Diện Với Pháp Và Trung Hoa), Thái Vũ (viết Biến Động, tiểu thuyết lịch sử) thuật lại rất kỹ cuộc biến động năm 1866, nhưng không hề có một thông tin nào về ngôi chùa xuất phát ra cuộc biến động lịch sử ấy.

1. Chùa Pháp Vân có tự bao giờ ?

Sau nhiều năm tìm kiếm, tôi chỉ tìm được tên chùa Pháp Vân trong lược truyện Hòa thượng Giác Linh hiệu là Huyền Khê trong sách Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên (Q.6, tờ 26b) của Quốc Sử quán Triều Nguyễn (sọan từ năm 1841 đến 1852 mới xong). Đây là tài liệu cổ nhất có đề cập đến tên chùa Pháp Vân. Bản dịch (của Nxb Thuận Hóa) nguyên văn tài liệu cổ ấy như sau:

“Giác Linh hiệu là Huyền Khê hòa thượng, người Quảng Đông, chính phái Lâm Tế đời thứ 35. Lúc bé thích du hiệp, lại tài võ nghệ. Thường vì hiềm thù giết người, bèn trốn vào chùa làm sư. Vượt biển đến Đông Phố, làm sư ngao du. Rồi đến Thuận Hóa, cắm gậy tích thiếc, ở chùa Pháp Vân (sau đổi gọi là chùa Thiên Phúc ), tinh trì giới hạnh, đồ đệ ngày nhiều.

Mọi người nghe nói Giác Linh tinh thông võ nghệ, đến xin học, Giác Linh dạy mà không cự ai. Lâu ngày, học trò ngờ thầy còn có bí ẩn. Một hôm, sư đang ngồi ăn cơm ở bàn ăn, học trò ngầm cầm đùi sắt tự sau lưng giơ lên đánh. Sư nghe tiếng, cầm chiếc đũa gạt cái đùi sắt nảy ra. Võ nghệ tinh đến như thế”(3)

Về sau nhiều sử sách viết về Hòa thượng Giác Linh cũng đều sử dụng tài liệu của Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên mà sọan lại theo cách thức của mình chứ không có thông tin gì khác như Quốc Sử quán Triều Nguyễn viết Hòa thượng Giác Linh (Đại Nam Nhất Thống Chí, Thừa Thiên Phủ, tập Trung, Nha Văn Hóa bộ QGGD, SG.1961, tr.81); Nguyễn Hiền Đức, viết Hòa thượng Huyền Khê-Giác Linh (Lịch Sử Phật Giáo Đàng Trong, Nxb Thành phố HCM, 1995, tr.288-289); Nguyễn Lang, Thiền sư Huyền Khê, (Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, tập Hai , Nxb Văn Học và Ct Phát hành sách Hà Nội, HN.1992, tr. 338-339).v.v.

Tài liệu ĐNLT TB cho biết Ngài Huyền Khê “trác tích” tại chùa Pháp Vân, chứng tỏ khi Ngài Huyền Khê đến “trác tích” thì đã có chùa Pháp Vân rồi. Vậy muốn biết thời đại của chùa Pháp Vân trước hết phải biết hành trạng của Hòa thượng Huyền Khê.

1.1. Hòa thượng Huyền Khê sống vào thời nào ?

Tài liệu không cho biết năm sinh và năm mất của Ngài Huyền Khê. Khi viết về Ngài Huyền Khê vốn người Trung Hoa, Đại Đức Thích Hải Ấn và nhà nghiên cứu Hà Xuân Liêm (4) luận rằng: Năm 1662, Huyền Diệp (1662-1722) con của Thuận Trị nhà Thanh lên ngôi đặt niên hiệu Khang Hy, chữ Huyền ¥È phải đổi thành chữ Nguyên. Do đó, với pháp danh Huyền Khê thì ngài Giác Linh phải xuất gia và có pháp danh Huyền Khê trước thời điểm 1662, tức Hòa thượng đã ra đời vào nửa đầu thế kỷ XVII.

1.2. Hòa thượng Huyền Khê Giác Linh qua Việt Nam năm nào và đến chùa Pháp Vân xứ Thuận Hóa năm nào ?

Liệt truyện viết: Ngài Huyền Khê Giác Linh đã “Vượt biển đến Đông Phố, làm sư ngao du. Rồi đến Thuận Hóa, cắm gậy tích thiếc (trác tích), ở chùa Pháp Vân (sau đổi gọi là chùa Thiên Phúc)”. Sách Hòang Việt Giáp tý Niên biểu của Nguyễn Bá Trác cho biết: Năm Kỷ vị 1679 chúa Nguyễn Phúc Tần “cho bầy tôi nhà Minh chạy sang là bọn Dương Ngạn Địch gồm cả ba ngàn người ở tại Đông Phố” (tr.298). Có lẽ Ngài Huyền Khê đã cùng đến Đông Phố với đòan người tỵ nạn ấy. Và, Ngài ở Đông Phố không lâu. Ta có thể ước đóan Ngài đã ra Thuận Hóa vào thời gian sau năm 1680. Điều đó cho phép ta có thể nghĩ: Chùa Pháp Vân ra đời chậm nhất cũng phải vào năm 1680.

2. Bóng dáng chùa Pháp Vân trong lịch sử.

2.1.Pháp Vân - một ngôi chùa đẹp và thanh vắng:

Kể tội những người lãnh đạo cuộc biến động 1866, các sử thần triều Nguyễn có viết trong ĐNTL CB rằng :“Trước Trưng (người làng An Truyền) và em hắn là Đoàn Hữu Ái, Đòan Tư Trực cùng với Trương Trọng Hòa, Phạm Lương kết làm Hội Đông Sơn Thi Tửu...” (tập 35, tr.53). Cái Hội Thơ Rượu (Thi Tửu) nầy chọn chùa Pháp Vân do Thiền sư Nguyễn Văn Quý (người làng Dã Lê) trụ trì làm trụ sở. Chùa Pháp Vân phải là một ngôi chùa đẹp, phong cảnh thơ mộng mới hấp dẫn được tâm hồn người chưởng hội thơ rượu Đòan (Hữu) Trưng - một người trẻ tuổi được các ông hòang Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương rất mến tài. [Cũng vì mến tài mà Tùng Thiện Vương đã gả con gái trưởng Thức Huấn cho Trưng]. Chùa Pháp Vân cũng phải là nơi thanh vắng mới che giấu được một lượng người đông đảo đến chuẩn bị cho cuộc biến động mà triều đình nhà Nguyễn không hay biết gì. (Vì vùng đất dựng chùa Pháp Vân rất đẹp nên người xưa đặt là Tiên Tĩnh chăng ?) (5)

2.2. Pháp Vân - một ngôi đại tự:

Vì không có tài liệu về chùa Pháp Vân nên không thể biết được tầm cỡ của chùa Pháp Vân so với các chùa đồng thời khác như thế nào. Nhưng gián tiếp qua hành trạng của Hòa thượng Huyền Khê Giác Linh so với hành trạng của các Hòa thượng trước và sau ông, ta có thể hình dung được hình ảnh của chùa Pháp Vân ra sao. Trong mục Tăng Thích, sách Đại Nam Nhất Thống Chí (thời Duy Tân) dành cho Phủ Thừa Thiên Phủ, Quốc Sử quán Triều Nguyễn chỉ viết có ba người (tr.80-81). Đó là các ngài Tạ Nguyên Thiều, Giác Linh và Nguyễn Mật Hoằng. Ngài Tạ Nguyên Thiều lập chùa Quốc Ân (vào khỏang 1682-1684), Ngài Giác Linh ở chùa Pháp Vân (vào khỏang 1680), ngài Nguyễn Mật Hoằng trụ trì chùa Thiên Mụ (lập từ 1601). Chùa Quốc Ân và chùa Thiên Mụ là hai ngôi chùa tổ to lớn tồn tại cho đến ngày nay. Qua đó, ta có thể nghĩ chùa Pháp Vân thời Giác Linh Huyền Khê xưa có tầm cỡ ở giữa chùa Thiên Mụ và chùa Quốc Ân.

Sách ĐNTL CB nêu trên, các sử thần triều Nguyễn cũng cho biết: Chuẩn bị cho cuộc biến động, những người lãnh đạo đã :“đến chùa Pháp Vân lập đàn chay cúng ba ngày, thuê mượn dân phu sở tại 100 người để làm đàn sở”. Hằng ngày có hàng ngàn người lui tới ăn uống chuẩn bị biến động. Chùa Pháp Vân phải rộng mới có chỗ để 100 người làm đàn sở, và phải rộng mới chứa được hàng ngàn người lui tới ăn uống hằng ngày.

Hai dẫn chứng trên cho phép ta có thể ước đóan rằng: ngòai chùa Thiên Mụ và chùa Quốc Ân, không một ngôi chùa cổ nào trên đất Huế còn lại đến ngày nay có thể sánh được với chùa Pháp Vân lúc ấy.

Chùa Pháp Vân là một danh lam cổ tự sáng giá. Chùa bị mất tích là một khỏan trống lớn trong lịch sử Phật giáo Thuận Hóa Phú Xuân.

3. Dấu tích chùa Pháp Vân.

Chùa Pháp Vân ở phía tây nam Kinh Thành Huế, tọa lạc trên một ngọn đồi cao khỏang 50 m so với mặt nước sông Hương , thuộc thôn Hạ 2 xã Thủy Xuân, cách lăng Tự Đức chừng 2 km. Tuy chùa đã bị triệt hạ từ lâu, nhưng bốn con đường bao bọc khuôn viên chùa ngày xưa vẫn còn và người ta có thể ước tính diện tích đất của chùa Pháp Vân rộng đến 4 mẫu Tây. Trải qua gần một thế kỷ rưỡi bỏ phế, trong khuôn viên đầt chùa mọc lên một số lăng mộ của bá tánh. Đặc biệt từ sau năm 1975, chính quyền địa phương đã cho hai gia đình dân nghèo dựng nhà ở tạm trên đất chùa cũ. Đi tìm dấu tích chùa Pháp Vân người ta có thể đi bằng nhiều đường, duy con đường làng thẳng góc với đường Bùi Thị Xuân (Phường Đúc) ở trước Khuôn hội Bảo Hương là gần và dễ đi nhất.

Dân địa phương không gọi chùa Pháp Vân mà gọi là chùa Khoai. Có ba cách giải thích về cái tên Chùa Khoai.

a) Theo ông Ưng Trình (cháu gọi bà Thức Huấn - vợ của Đòan Trưng, người đứng đầu cuộc biến động năm 1866, bằng cô ruột) cho rằng chùa Pháp Vân ở “gần chợ khoai làng Dương Xuân” (6) nên có tên Chùa Khoai.

b) Bà Trần Thị Tùng (sinh năm 1921), người làng Thanh Lương, hiện đang dựng nhà ở trên nền cũ chùa Pháp Vân, từ nửa thế kỷ trước ông nội bà làm lính hộ lăng và sinh con đẻ cháu trong vùng nầy, bà được nghe ông cha kể lại rằng: Ngày xưa ở vùng chung quanh chùa Pháp Vân dân chúng trồng rất nhiều khoai. Mỗi lần dân Huế bị đói thì họ tìm lên chùa Pháp Vân xin khoai ăn hoặc mua khoai đem về. Vì thế họ gọi chùa Pháp Vân là chùa Khoai.

c) Sau biến động 1866, chùa Pháp Vân bị đổi tên thành chùa Thiên Phúc, dân chúng không được nhắc đến tên Pháp Vân và cũng chưa quen với tên Thiên Phúc nên theo dân gian họ cứ gọi cái nền cũ của chùa Pháp Vân ấy là Chùa Khoai cho tiện. Nhờ thế cái tên Chùa Khoai tồn tại cho đến ngày nay.

4. Nhà sư Nguyễn Văn Quý.

Đòan (Hữu) Trưng - con rể ông Hòang Tùng Thiện Vương, là người đứng đầu cuộc biến động 1866. Thế nhà sư Nguyễn Văn Quý ( ? -1866), đạo hiệu không rõ, người làng Dã Lê (7), huyện Hương Thủy, Phủ Thừa Thiên đã giữ vai trò gì trong biến động 1866 ?

4.1. Nhà sư Nguyễn Văn Quý cho Đông Sơn Thi Tửu Hội sinh họat trong chùa Pháp Vân do ông trụ trì và cho anh em Đòan (Hữu) Trưng Đòan Tư Trực chế tạo binh khí, huấn luyện võ nghệ, tập họp nhân lực, tổ chức cuộc biến động 1866 tại chùa;

4.2.Vai trò quân sư. Sách Bản Triều Bạn Nghịch viết :“Sư trụ trì (chùa Pháp Vân) tên Quý ngụy xưng là quân sư”. Trụ trì danh Quý giả, ngụy xưng quân sư) (8). Những người trong cuộc thì không xưng Nguyễn Văn Quý là quân sư, nhưng nói rõ vai trò lãnh đạo quan trọng của Nguyễn Văn Quý trong cuộc biến động ấy. Trong tác phẩm Trung Nghĩa Ca, Đòan (Hữu) Trưng cho biết:

“Dương Xuân chùa gọi Pháp Vân,
Trụ trì Nguyễn Quý mười phần biết quen
Đêm khuya riêng nghị trước đèn
Kẻ chiêu quân sĩ người rèn đao thương” (câu 233-236)
Bốn câu thơ minh chứng cho nội dung 41) vừa nêu, và khẳng định vai trò “quân sư” của Nguyễn Văn Quý “Đêm khuya riêng nghị trước đèn”. “Nghị trước đèn” có thể hiểu là bàn tính sọan thảo kế họach cuộc biến động. Đọc suốt 502 câu thơ Trung Nghĩa Ca và các tài liệu khác không hề thấy Đòan (Hữu) Trưng “nghị trước đèn” với ai cả.

43) Nhà sư Nguyễn Văn Quý tổ chức cho nhiều anh em họ Nguyễn Văn của ông tham gia cuộc biến động như các nhà sư Nguyễn Văn Viên, Nguyễn Văn Lý, và ông Nguyễn VănVũ.

44) Đến khi tổ chức thực hiện cuộc biến động, Nguyễn Văn Quý chỉ huy lực lượng Hậu quân.

Với bốn hành vi trên chứng tỏ nhà sư Nguyễn Văn Quý là nhân vật số 2 của cuộc biến động 1886. Bởi thế, khi cuộc biến động bất thành, Nguyễn Văn Quý đã phải chịu cực hình như Kiều Óanh Mậu đã viết:“ Sư trụ trì Quý lâu nay mượn chốn trước đài Phật Quan âm, không quen sống dưới bệ của Diêm chúa, nay phải chịu khá nhiều khổ cực dao tra cưa cắt...” (9). Nhà sư Nguyễn Văn Quý bị xử tội chết cùng chung số phận với tất cả những người lãnh đạo cuộc biến động như sử triều Nguyễn còn ghi: “Giặc phạm đều đem xử tội, thủ phạm là lũ Trưng, Trực, Hòa, Quý và yếu phạm 13 tên đều lăng trì, bêu đầu, và bắt thân thuộc, tịch gia sản sung công, còn 8 tên đều chém, đều đem bêu”(10). Xác nhà sư Nguyễn Văn Quý được những người theo Phật bí mật đem về táng trong vườn sau chùa. Gần một thế kỷ sau, sau khi nhà Nguyễn cáo chung (8.1945), Hòa thượng Thích Tịnh Khiết - trù trì chùa Tường Vân cải táng hài cốt của sư về chôn trong khu đất của chùa Quốc Ân ở xế sau lưng núi Bân. Tuy nhiên, bia đá gắn vào tháp mộ của Sư vẫn không tiện nêu tên sư mà chỉ ghi “Thiên Phúc Tự Trụ Trì Giác Linh Chi Mộ”, tức Giác linh của Ngài trụ trì chùa Thiên Phúc). Thiên Phúc là tên chùa Pháp Vân sau biến cố 1866.

*
* *
Nhà sư “trác tích” tại chùa Pháp Vân là Huyền Khê Giác Linh - một trong ba danh tăng số một của Thuận Hóa Phú Xuân xưa (linh vị của Ngài hiện đang thờ ở chùa Báo Quốc). Nhớ ơn Huyền Khê Giác Linh cần phải lưu dấu ngôi cổ tự - nơi Ngài đã “trác tích”.

Chùa Pháp Vân là một danh lam thời các chúa Nguyễn, làm nơi xuất phát cuộc biến động lịch sử có một không hai trong triều đình nhà Nguyễn. Đứng trên quan điểm dân tộc, chùa Pháp Vân là một di tích văn hóa lịch sử quý hiếm. Tìm lại dấu tích chùa Pháp Vân là việc làm thuộc đạo lý uống nước nhớ nguồn.

Nhà sư Nguyễn Văn Quý dù đã xuất gia nhưng đứng trước thế nước :

“Ngòai biên rối tợ tơ vò
Xem trong triều sĩ như trò trẻ ranh”
(Trung Nghĩa Ca, câu 73-74)
hay

“Ngòai trời Tây tặc lưới giăng
Trong thêm tả đạo chạy quanh bốn bề
Xâu bơi đóng góp nặng nề
Cực thay lính dưới sướng bề quan trên”
(Trung Nghĩa Ca, từ câu 99 đến câu 102)
ông không thể ngồi yên nên đành phải giúp anh em Đòan Trưng Đòan Trực thực hiện cuộc biến động để cứu nước. Mặc dù việc tổ chức cuộc biến động còn nhiều hạn chế, song đây là một cuộc nổi dậy của lính thợ đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, được hàng vạn người hưởng ứng, có “nội công ngọai kích”, chiếm lĩnh được Hòang Thành Huế, việc bắt vua Tự Đức phải nhường ngôi để cứu nước có thể xảy ra trong gang tấc. Sự nghiệp không thành chính vì “lòng trời chưa cho” chứ không phải vì những người lãnh đạo bất tài.

Đối với cuộc biến động 1866, nếu người anh hùng số Một là Đòan (Hữu) Trưng, thì người số Hai là nhà sư Nguyễn Văn Quý. Nhưng cho đến nay tại Thành phố Huế đã có tên đường mang tên Đòan Hữu Trưng, mà sự nghiệp của sư Nguyễn Văn Quý vẫn chưa được xã hội quan tâm. Câu chuyện lịch sử anh hùng nầy xảy ra đã gần một thế kỷ rưỡi, thế lòng người còn thơ ơ với sư Nguyễn Văn Quý đến bao giờ nữa ?

Gác Thọ Lộc, 20 tháng 3 năm 2003

Chú thích:

(1) Bạn nghịch là làm phản, làm lọan

(2) Tên họ của Đòan Trưng hay Đòan Hữu Trưng, nhiều tài liệu viết khác nhau, vì thế chúng tôi viết Đòan (Hữu) Trưng để thích hợp với các tài liệu. Khi nào có dịp được nghiên cứu gia phả họ Đòan chúng tôi sẽ hiệu đính lại cho chính xác sau. (3) Quốc Sử quán Triều Nguyễn, Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên, Q.6, tờ 26B, Bản dịch, Tập 1, Nxb Thuận Hóa, 1993, bài Giác Linh, tr. 196

(4) Lịch sử Phật giáo xứ Huế, Nxb Thành phố HCM, 2001, tr.113- 115

(5) Theo ông Lê Văn Lễ 82 tuổi, sinh trưởng và hiện còn sống tại vùng chùa Pháp Vân cũ

(6) Nguyễn Phúc Ưng Trình và NP Bửu Dưỡng, Tùng Thiện Vương (1819-1870), Huế Sài Gòn 1970, tr.143

(7) Đại Nam Thực Lục CB, tập 35, tr.53

(8) Kiều Oánh Mậu, Bản Triều Bạn Nghịch Liệt truyện , bộ QGGD, SG 1963, tr.158-159

(9) Kiều Óanh Mậu Sđd. Tr. 167

(10) ĐNTL CB, tập 31, tr.56

Thư mục tham khảo:

Bùi Quang Tung, La Succession de Thieu Trị, B.S.E.I N.S. Tome XLII, No 1 & 2 , 1er et 2è trim.1967

Kiều Oánh Mậu, Bản Triều Bạn Nghịch Liệt truyện, bộ QGGD, SG 1963, Đòan Trưng, tr.151, 157-171;

Nguyễn Bá Trác, Sách Hòang triều Giáp tý Niên biểu, Bộ QGGD, SG. 1963

Nguyễn Hiền Đức, Lịch Sử Phật Giáo Đàng Trong, Nxb Thành phố HCM, 1995, Hòa thượng Huyền Khê-Giác Linh (Phái Thiền Lâm tế, đời 35); tr.288-289;

Nguyễn Lang, Việt nam Phật Giáo Sử Luận, tập Hai, Nxb Văn Học va Ct Phát hành sách Hà Nội, HN.1992, Thiền sư Huyền Khê, tr. 338-339

Nguyễn Phúc Ưng Trình và NP Bửu Dưỡng, Tùng Thiện Vương (1819-1870), Huế Sài Gòn 1970, Đòan Hữu Trưng, tr.143

Quốc Sử quán Triều Nguyễn, Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên, Q.6, Bản dịch, Tập 1, Nxb Thuận Hóa, 1993, mục Giác Linh, tr. 196;

Quốc Sử quán Triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí, (bản dịch) Thừa Thiên Phủ, tập Trung, Nha Văn Hóa bộ QGGD, SG.1961, Giác Linh, tr.81;

Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Đại Nam thực Lục CB, Đệ tứ kỷ, q.35, bản dịch của Viện Sử học, tập XXXI, Nxb KHXH, HN. 1974, tr. 53 đến 56

Thái Vũ, Biến Động (tiểu thuyết lịch sử), Nxb Thuận Hóa, Huế.1984, tr.369

Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm, Lịch sử Phật giáo xứ Huế, Nxb Thành phố HCM, 2001, Ngài Huyền Khê ( ?-?), tr.113- 115

Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược Quyển II, Bộ Giáo Dục TTHL xuất bản, SG 1971, Sự Phản Nghịch Ở Kinh Thành, tr. 272-273

Yoshiharu Tsuboi, Nước Đại Nam Đối Diện Với Pháp Và Trung Hoa, Ban KHXH Thành ủy TP HCM, 1990, Lọan Hồng Bảo, tr.246-248

Và nhiều tài liệu điền dã khác.