PDA

View Full Version : Nội Các Trần Trọng Kim Và Cách Mạng Tháng Tám



anmota
08/26/2010, 10:01 AM
TẠP CHÍ XƯA VÀ NAY Số 361 tháng 8 năm 2010


NỘI CÁC TRẦN TRỌNG KIM VÀ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM


Nội các Trần Trọng Kim ra đời ngày 17-4-1945 trong một bối cảnh lịch sử rất đặc biệt. Mặc dù chỉ tồn tại hơn 4 tháng trời (kể cả thời gian tạm chấp chính), Nội các này có một vị thế lịch sử rất đặc biệt bởi đó là một bộ phận trong kết cấu quyền lực thống trị ở Việt Nam sau cuộc đảo chính Nhật – Pháp (9-3-1945). Do đó, Nội các này và hệ thống chính quyền do nó lãnh đạo là đối tượng chủ yếu của cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cuộc Cách mạng tháng Tám 1945. Vì vậy, việc đánh giá Nội các Trần Trọng Kim có liên quan mật thiết đến đánh giá về cuộc Cách mạng tháng Tám.
PHẠM HỒNG TUNG

Đây chính là lý do mà trong suốt hơn 6 thập kỉ qua ở Việt Nam và nước ngoài đã có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau về Nội các Trần Trọng Kim. Trong một công trình mới được công bố gần đây, tôi đã có dịp điểm lại và trình bày ý kiến của mình về vấn đề này<sup>(1)</sup>. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ xin trao đổi về ý kiến của tác giả Mai Khắc Ứng trong bài Trần Trọng Kim với Việt Nam Sử lược đăng trên tạp chí Xưa&Nay, số 346 (12-2009) (http://anhbasam.com/2010/01/07/424-tr%E1%BA%A7n-tr%E1%BB%8Dng-kim-v%E1%BB%9Bi-vi%E1%BB%87t-nam-s%E1%BB%AD-l%C6%B0%E1%BB%A3c/) *.
Ngoài phần đánh giá tác phẩm Việt Nam sử lược, tác giả đã dành một phần quan trọng để đánh giá Nội các Trần Trọng Kim, mà theo tôi thì đây mới là cái đích của bài viết. Điều mà Mai Khắc Ứng muốn khẳng định là: Trần Trọng Kim và Nội các do ông đứng đầu không phải là bù nhìn, tay sai của Nhật, trái lại: “… Chính phủ Trần Trọng Kim là sản phẩm của tình thế với hoài bão bước đầu thực thi chính thể Quân chủ lập hiến đặt nền móng cho mô hình “Dân chủ Đại nghị” cổ điển về sau, của lớp nhân sĩ trí thức cũ biết lường trước họa binh đao nên tha thiết nhân nhượng, dung hòa”.
Tiếc rằng, để chứng minh cho quan điểm nói trên của mình, Mai Khắc Ứng đã phạm phải một loạt những sai lầm cơ bản xét về phương pháp luận. Ông khẳng định quan điểm của mình dựa trên những lý luận chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, Trần Trọng Kim là “một người viết sử rạch ròi, phân minh”, 1 học giả có nhân cách và uy tín, vì thế không thể là bù nhìn, tay sai của phát xít Nhật.
Thứ hai, “10 thành viên Nội các với 5 quan chức trọng trấn gắn bó chung quanh Trần Trọng Kim toàn là những người có học vị, có uy tín. Nghĩa là đủ trình độ nhận biết bản chất vị Thủ tướng của mình. Họ thực lòng cộng sự đã nói lên nhân cách và uy tín của Trần Trọng Kim”.
Thứ ba, Trần Trọng Kim và những người tham gia Nội các là những người yêu nước, đã dũng cảm xông ra cứu nước theo cách của họ trong một tình thế “chẳng đặng đừng”. Mai Khắc Ứng viết: “Nước ta trong khoảnh khắc đó giống như một con thuyền giữa sóng gió giông bão chưa rõ người chống chèo. Trong lúc nguy nan, ai dám nhảy ra nên được coi là tiên phong dũng cảm. Bởi nước là của chung. Mọi người đều có quyền cứu nước theo suy nghĩ, hiểu biết, tấm lòng và năng lực của mình”. Và ông khen: “Tạm thời bắt tay với Nhật để yên thân thành lập một Chính phủ hợp hiến tìm sự ủng hộ của công luận trong và ngoài nước, trước khi Pháp gây hấn là một toan tính khôn khéo của Trần Trọng Kim và Chính phủ”. Do vậy, ông đề nghị: “Xin đừng coi sự lựa chọn trong tình cảnh chẳng đặng đừng để nhờ vả mà tìm một lối thoát cho quốc gia dân tộc là cúi đầu làm tay sai”.
Hai cách lập luận đầu của Mai Khắc Ứng rõ ràng chỉ dựa trên sự suy diễn chủ quan của ông mà không dựa trên bất kì một cơ sở dữ liệu nào. Thứ nhất, cho dù Trần Trọng Kim có thực sự là nhà sử học “rạch ròi, phân minh”, “công bằng và khách quan” như ông nhận định hay không thì điều đó cũng không thể là cái đủ đảm bảo cho việc Trần Trọng Kim không phải là bù nhìn và tay sai cho Nhật hay một thế lực nào khác. Thứ hai, nhân cách và uy tín của các nhân sĩ, trí thức tham gia vào Nội các Trần Trọng Kim cũng không thể là căn cứ đảm bảo cho việc Trần Trọng Kim và Nội các do ông ta đứng đầu có phải là bù nhìn và tay sai của người Nhật hay không. Muốn làm rõ điều này thì phải dựa vào những cơ sở sử liệu. Hơn thế nữa, phải chứng minh được tính xác thực, đáng tin cậy của những sử liệu đó. Còn suy diễn như Mai Khắc Ứng thì lại chính là làm cái điều mà ông đã kịch liệt lên án, coi là “vũ đoán, đồn đại, không có cơ sở… vu vạ kiểu ‘cả vú lấp miệng em’” đó thôi.
Lập luận thứ ba của Mai Khắc Ứng, rằng “Chính phủ Trần Trọng Kim là sản phẩm của tình thế” rất đáng lưu ý. Thực ra đây không phải là điều gì mới mẻ, bởi ý kiến này đã được một số người nêu ra. Điều quan trọng là nhận thức của nhà nghiên cứu về cái gọi là “tình thế” hay “bối cảnh lịch sử” dẫn đến sự ra đời của Nội các Trần Trọng Kim ra sao.
Cách trình bày và phân tích về “tình thế chẳng đặng đừng” của Mai Khắc Ứng, theo tôi, là rất giống với cách trình bày và biện bác của Trần Trọng Kim và một số thành viên của Nội các trong các hồi kí, hồi tưởng của họ sau này. Đây chỉ có thể được coi như 1 nguồn thông tin mà thôi. Để hiểu đầy đủ “tình thế” đó, cần phải tham khảo nhiều nguồn sử liệu khác nhau nữa, chẳng hạn như các sử liệu liên quan đến sự phát triển của phong trào cách mạng do Việt Minh lãnh đạo, dự định của các tổ chức khác của người Việt Nam, kể cả các nhóm thân Nhật khác, và đặc biệt là kế hoạch đảo chính và cai trị Việt Nam của người Nhật và các kế hoạch đối với Đông Dương lúc đó của Pháp và các nước khác trong phe Đồng minh… Tiếc rằng Mai Khắc Ứng đã bỏ qua điều này, cho nên lập luận của ông không khác bao xa so với những biện bác về sau của Trần Trọng Kim và một số thành viên khác của Nội các. Ý kiến của ông, vì vậy, không đảm bảo được tính khách quan khoa học của người nghiên cứu lịch sử.
Qua những gì ông viết, tôi đoán rằng Mai Khắc Ứng có đọc và sử dụng những thông tin trong cuốn hồi kí Một cơn gió bụi của Trần Trọng Kim<sup>(2)</sup>. Trong cuốn hồi kí này, Trần Trọng Kim đã cố biện bác, chứng minh rằng bản thân mình không có tham vọng chính trị và cũng không chủ động tham chính, do vậy không phải là một phần tử hợp tác với người Nhật, không phải là bù nhìn của Nhật. Nhưng chính những thông tin mà Trần Trọng Kim cung cấp trong cuốn hồi ký nói trên đã cho thấy ông là một trong những quân bài đã được người Nhật chuẩn bị, ít nhất từ tháng 10-1943, cho một trong những phương án chiếm đóng Việt Nam của họ sau khi đã gạt bỏ người Pháp<sup>(3)</sup>. Dựa trên những nguồn tài liệu từ phía Nhật, trong nghiên cứu của mình được công bố gần đây, tôi đã chỉ ra rằng tại sao sau khi lật đổ người Pháp, người Nhật đã gạt bỏ Cường Để, Ngô Đình Diệm và tất cả các nhóm người Việt Nam thân Nhật khác để lựa chọn phương án Bảo Đại – Trần Trọng Kim. Có đầy đủ cơ sở sử liệu để chỉ ra rằng Trần Trọng Kim được người Nhật chuẩn bị và lựa chọn để đứng ra thành lập 1 chính phủ bù nhìn, thân Nhật sau cuộc đảo chính 9-3-1945, và hơn nữa, Trần Trọng Kim biết rất rõ điều này. Đương nhiên, ông có thể từ chối sự lựa chọn của người Nhật, nhưng sự thực lịch sử là ông đã không từ chối<sup>(4)</sup>.
Được người Nhật lựa chọn và ủng hộ, nhưng không nhất thiết là vì vậy mà khi làm Tổng trưởng Nội các, Trần Trọng Kim đã thực sự là tay sai của Nhật. Về điều này, tôi cũng đã cố gắng làm rõ, không chỉ đối với cá nhân ông ta mà còn đối với toàn thể Nội các với tính cách là một bộ phận trong kết cấu quyền lực thống trị ở Việt Nam sau ngày 9-3-1945. Vì vậy mà tôi đã đi đến kết luận rằng Trần Trọng Kim và Nội các do ông đứng đầu là bù nhìn thụ động của người Nhật, nhưng không thể coi ông Kim và Nội các này là tay sai của người Nhật<sup>(5)</sup>.
Còn về các nhân sĩ, trí thức yêu nước (như Hoàng Xuân Hãn, Vũ Văn Hiền, Phan Anh..) tham gia vào Nội các, cho đến nay đã có nhiều ý kiến khác nhau. Căn cứ vào những gì các ông đã làm trong thời gian trước, trong và sau khi tham gia vào Nội các Trần Trọng Kim, các nhà nghiên cứu nhìn chung đều nhất trí coi các ông là những trí thức yêu nước thực tâm. Còn việc các ông lựa chọn nhận lời mời của Bảo Đại tham gia vào Nội các thì phải được đánh giá trên cơ sở phân tích khách quan, khoa học “tình thế” lịch sử như tôi đã nói ở trên, và nhất là phải căn cứ vào những hoạt động của các ông trong thời gian tham chính đó.
Thực tế là việc các ông tham gia Nội các và thậm chí kiên quyết – ủng hộ Nội các đến tận những ngày tháng cuối cùng, trước hết xuất phát từ ý thức đầy đủ của trí thức chân chính trước vận mệnh quốc gia, dân tộc. Nhưng đồng thời, sự tham chính của các ông cũng dựa trên những toan tính chính trị với niềm tin duy lí<sup>(6)</sup>. Các ông cho rằng có thể dựa vào người Nhật để tranh thủ cơ hội gây dựng, củng cố những cơ sở cần thiết cho một nền độc lập thực sự, nhất là tranh thủ điều kiện lúc đó cổ vũ tinh thần yêu nước của nhân dân. Điều cần phải chỉ ra chính là ở chỗ: việc chọn lựa tham gia Nội các Trần Trọng Kim và dựa vào người Nhật (dù chỉ trên danh nghĩa) là sai lầm của các ông, bởi trong thế cuộc Chiến tranh Thế giới II khi đó, chắc chắn Nội các Trần Trọng Kim bị phe Đồng minh coi là một chính phủ thân phe Trục. Vì vậy, khi phe Trục bại trận thì Nội các cũng mất đi tính chính đáng chính trị (politi- cal legitimation ), vì thế nó không có cơ sở pháp lý quốc tế để “nói chuyện” với phe Đồng minh. Hơn nữa, rất có thể nó sẽ bị trừng phạt vì đã hợp tác với phe Trục. Đó là chưa kể đến một thực tế, như tôi đã làm rõ trong nghiên cứu của mình, rằng Nội các Trần Trọng Kim hầu như bất lực trong phần lớn những nhiệm vụ do nó tự đề ra. Trong “tình thế” như vậy, con đường duy nhất để đi tới nền độc lập dân tộc thực sự và để củng cố những cơ sở, cả về thực lực quốc nội và pháp lý quốc tế, là con đường mà nhân dân Việt Nam đã lựa chọn: Tổng khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân.
Sau 65 năm nhìn lại, có thể thấy thời điểm từ giữa tháng 4 đến cuối tháng 8-1945 thì lựa chọn, toan tính của một số nhân sĩ trí thức tham gia vào chính phủ Trần Trọng Kim, tuy xuất phát từ tinh thần yêu nước chân thành và ý thức trách nhiệm nghiêm túc đối với vận mệnh dân tộc, nhưng không phải là lựa chọn đúng, phù hợp với điều kiện lịch sử khách quan lúc đó. Vì vậy, không thể coi đó là lựa chọn do “lớp nhân sĩ trí thức cũ biết lường trước họa binh đao nên tha thiết nhân nhượng, dung hòa” – như ý kiến của Mai Khắc Ứng. Nói như vậy là gián tiếp quy kết nguyên nhân gây họa binh đao kéo dài trên đất nước Việt Nam suốt 30 năm sau đó cho Đảng Cộng sản Đông Dương (ĐCSĐD), Mặt trận Việt Minh và hàng triệu người Việt Nam yêu nước đã tham gia vào cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền hồi tháng Tám 1945, đồng thời cũng gián tiếp “chạy tội” cho những thế lực ngoại xâm đã gây ra các cuộc chiến tranh phi nghĩa trên đất nước ta từ 1946 đến 1975.
“Để cùng lớn lên xin đừng sợ sự thật” – Xin trân trọng trả lại cho nhà sử học Mai Khắc Ứng những lời chí lý mà ông dùng để khép lại bài viết của mình, và nhân đây, tôi chỉ xin thưa thêm rằng: muốn tiếp cận sự thật lịch sử thì cần dựa trên sự phê phán sử liệu và phân tích các quá trình lịch sử một cách khoa học, chứ không phải là dựa trên những suy đoán chủ quan, tư biện của mình<sup>(7)</sup>.
CHÚ THÍCH:
(1) Xem: Phạm Hồng Tung, Nội các Trần Trọng Kim: bản chất, vai trò và vị trí lịch sử, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009 (tái bản lần thứ nhất 2010).
(2) Tôi buộc phải “đoán”, vì trong bài viết của mình Mai Khắc Ứng không hề dẫn ra 1 nguồn sử liệu nào để minh chứng cho ý kiến của ông.
(3) Xem: Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Vĩnh Sơn, Sài Gòn, 1969, tr.22.
(4) Xem: Phạm Hồng Tung, Sđd, tr.119, 176-179.
(5) Như trên, tr.350-355.
(6) Xem thêm: Vũ Đình Hòe, Hồi kí Vũ Đình Hòe, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2004, tr.188, 190-192.
(7) Cần phải nói thêm rằng trong bài viết của mình, do không tuân thủ những nguyên tắc xử lí sử liệu và do phạm phải những sai lầm về phương pháp khác mà Mai Khắc Ứng mắc phải những sai sót không đáng có. Chẳng hạn ông cho rằng “Quốc trưởng” đã chỉ định Trần Trọng Kim làm “Thủ tướng”. Thực ra lúc đó ở Việt Nam không có ai là Hoàng đế. Còn danh vị của Trần Trọng Kim là “Tổng tưởng Nội các”, có thể hiểu là Thủ tướng. Ông Ứng còn đưa ra hai giả định lịch sử hết sức vô lý: “Giá như Hoàng Xuân Hãn hoặc Phan Anh, Trịnh Đình Thảo hay Phan Kế Toại, thậm chí Trần Văn Lai, Kha Vạn Cân làm Thủ tướng thì Trần Trọng Kim tránh được “búa rìu dư luận”. Nói như thế chứng tỏ ông Ứng không hề nghiên cứu gì về âm mưu và các kế hoạch đảo chính và chiếm đóng Việt Nam khi đó của Nhật Bản – điều mà các học giả Việt Nam và nước ngoài đã viết khá kĩ rồi. Còn nữa, ông còn giả định, rằng “nếu như Trần Trọng Kim thành lập Chính phủ bù nhìn thân Nhật sau ngày 19-8-1945…”. Đây là giả định tuyệt đối không có khả năng hiện thực, nên nó hoàn toàn chẳng có giá trị gì trong việc giúp cho người đọc hiểu rõ sự thực lịch sử đã diễn ra.
—-
* Mời đọc: 424. Trần Trọng Kim với Việt Nam Sử Lược (http://anhbasam.com/2010/01/07/424-tr%e1%ba%a7n-tr%e1%bb%8dng-kim-v%e1%bb%9bi-vi%e1%bb%87t-nam-s%e1%bb%ad-l%c6%b0%e1%bb%a3c/) (Mai Khắc Ứng, Tạp chí Xưa & Nay)
Đăng trong Lịch sử (http://vi.wordpress.com/tag/l%e1%bb%8bch-s%e1%bb%ad/) | Tagged: Bảo Đại (http://vi.wordpress.com/tag/b%e1%ba%a3o-d%e1%ba%a1i/), Cách mạng tháng Tám (http://vi.wordpress.com/tag/cach-m%e1%ba%a1ng-thang-tam/), Nhật (http://vi.wordpress.com/tag/nh%e1%ba%adt/), Trần Trọng Kim (http://vi.wordpress.com/tag/tr%e1%ba%a7n-tr%e1%bb%8dng-kim/) | 9 phản hồi (http://anhbasam.com/2010/08/26/633-n%e1%bb%99i-cac-tr%e1%ba%a7n-tr%e1%bb%8dng-kim-va-cach-m%e1%ba%a1ng-thang-tam/#comments)
================================================== =====================
Bây giờ, mỗi lần gặp một nhân chứng của thời xưa, nghe chuyện họ kể, tôi lại bần thần hồi lâu. Tôi tự hỏi, các nhà lãnh đạo nói riêng hay tất cả những người tự nhận là “trung thành với Đảng, với lý tưởng cộng sản” nói chung, họ có biết họ đã đánh mất một thứ quý giá lắm hay không? Thứ mà ngày xưa họ đã từng có. Thứ mà giờ đây cực kỳ khó lấy lại.

Đó là lòng dân.

Họ có biết không nhỉ? Biết quá đi chứ. Nhưng chắc đối với họ, mất thì làm sao nào, quan trọng gì?

* * *

… Trời vào thu, Việt Nam buồn lắm em ơi…

anmota
08/26/2010, 11:11 AM
Thứ tư, ngày 04 tháng tám năm 2010

65 năm một mùa thu... (http://trangridiculous.blogspot.com/2010/08/65-nam-mot-mua-thu.html)


Hà Nội sắp vào thu. Trời rất xanh và nắng rất trong, không còn dấu vết gì của những ngày nóng 40 độ C vừa qua.

Người ta hay bảo mùa thu là mùa của thi sĩ, văn sĩ. Nhắm mắt lại cũng nhớ ra bao nhiêu câu thơ, câu văn, câu hát về mùa thu:

“Em không nghe mùa thu
Lá thu rơi xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô” (Lưu Trọng Lư)

“Ta biết ngươi buồn sáng hôm nay
Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay” (Thâm Tâm)

“Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới” (Nguyễn Đình Thi)

Riêng tôi đặc biệt thích đến thuộc lòng một đoạn trích từ truyện ngắn “Chiếc mỏ neo” của Nguyễn Phượng Cầu. Nhân vật chính của truyện là một nhà báo u sầu. Truyện làm tôi thích và do đó, nhớ rất lâu, tuy chẳng hiểu gì:

“Trời lại vào thu năm 1993. Giữa những ngày mưa có vài ngày nắng ráo. Nắng trong và sánh lại vàng như mật. Cây lá trong vườn biếc xanh. Tôi lại đi qua những khu vườn vắng, trên bãi cỏ lấm chấm một loài hoa dại màu tím và từ đấy chập chờn màu vàng cánh bướm. Trong một khoảnh khắc, tôi lại thấy Anna với khuôn mặt ngời sáng cùng những đường nét thanh xuân đang ngồi trên cỏ. Tôi vụt chạy đến, đàn bướm tỏa ra và bay lên, một lúc sau màu vàng tụ lại trên một đám cỏ khác. Tôi có bắt được con cá vàng nào trong cuộc đời này? Tôi còn có thể bắt được con cá vàng nào trong cuộc đời này? Trong một buổi chiều tôi đi qua bến đò, cầu tre đã bị nước lũ cuốn trôi từ trước đó, một mình lên núi Vạn. Trên chỗ cao nhất, nơi ngày xưa từng đứng, tôi nhìn xuống thị trấn Sông Lại, tôi nhìn vào trời mây, cặp bồ câu xưa giờ ở nơi đâu?

Gió núi cuộn lên từ lũng xa sau một lúc rung từng tán lá xào xạc giờ đã lặng hẳn. Tôi đứng yên, hai tay chắp trước ngực, chờ nghe lời mẹ gọi: “Dậy! Dậy học bài đi con!”…”.


* * *

Và mùa thu cũng là mùa gợi cho người ta nhớ lại “những ngày thu năm xưa”, năm 1945. Là kẻ hậu thế, không có được dù chỉ một bức ảnh rõ ràng về “mùa thu cách mạng” ấy, nhưng đã nhiều năm nay, gần như tháng 8 nào, tôi cũng lần mò tìm gặp lại những người từng sống qua năm 1945 lịch sử. Nhiều khi cũng chẳng để làm gì, vì bài viết ra đâu có được đăng tải – lý do nhạy cảm chỉ là một phần, phần còn lại là do độc giả của báo chí được mặc định là không thích những đề tài lục lọi quá khứ. Tôi cũng chẳng biết có phải như thế không.

Nhưng tôi vẫn muốn tìm gặp những nhân vật ấy, để nghe những câu chuyện của họ, để lục lại những mẩu ký ức xa vời trong đầu họ. Và xót xa thấy cứ mỗi năm, số gương mặt từng chứng kiến mùa thu lịch sử 1945 lại vơi đi dần.

Họ có thể là những ai? Là cô thiếu nữ Hà Thành ngây thơ trong sáng, trốn bố mẹ đi “làm cách mạng”, mà khi tôi hỏi: “Đi làm cách mạng là đi đâu hả bác?”, thì cô thiếu nữ năm xưa trả lời: “Hồi đó tôi đâu có biết, người ta giao cho tôi báo Cứu Quốc rồi bảo tôi đi phát, rồi gọi đấy là “làm cách mạng” thôi”.

Họ là cậu thiếu niên 14-15 tuổi, người duy nhất trong vùng được đi học trường Tây, nhưng rất căm thù thực dân Pháp. “Hồi đó ai mà chả ghét Pháp? Bọn nó khinh mình, coi mình là An Nam mít, chửi mình, đá đít mình. Ai cũng ghét Pháp, muốn đuổi nó đi”.

Họ là người trí thức thành phố, chưa biết sử dụng súng đạn, nhưng một lòng đi theo Cách mạng: “Hồi đó, chúng tôi dũng khí thì có dư mà kinh nghiệm trận mạc, tổ chức đội ngũ chả có gì. Cướp được súng của Nhật, của Pháp, súng bự quá lại không biết cách tháo ra, cả chục người phải xúm lại khiêng một khẩu”.

Họ là nhà tư sản (mà sau này sẽ được/bị phân loại rõ ràng, hoặc là tư sản mại bản, hoặc là tư sản dân tộc) đã đổ công đổ của nhà ra để phục vụ cách mạng, từ bữa cháo gà cho các nhà cách mạng (miễn phí, tất nhiên) đến khoản “tài trợ” hàng triệu đồng Đông Dương, quy ra vàng lúc đó là hơn 5000 lượng.

Họ là những người đã hoạt động nội thành, trong vùng bị tạm chiếm, đầy căng thẳng và nguy hiểm. Không điện thoại di động, Internet – thời đó cơ sở hạ tầng thông tin làm gì được như ngày nay – họ chỉ có thể thỏa thuận trước với nhau tín hiệu riêng: Khi nào mở cánh cửa sổ bên trái là có lính Pháp đi càn, khi nào đóng nghĩa là an toàn. Cũng những con người ấy, khi chiến tranh kết thúc, họ lúng túng, sượng sùng trước mặt các đồng chí công an nghiêm khắc:

- Biệt thự này, các ông các bà bóc lột ai mà có được?

Thế đấy. Tất cả những gương mặt ấy đã và đang nhòa dần vào lịch sử đau thương của dân tộc.


* * *

Tôi có thể nói gì về những câu chuyện ấy, con người ấy?

Tôi không đủ tư cách để nói gì nhiều. Tôi chỉ dám nói một điều thôi, cũng là điều rất nhiều người đã nói: Đó là, dù thế nào, lịch sử Việt Nam thế kỷ 20 cũng đã có một thời kỳ rất đẹp – theo cái nghĩa là toàn dân thống nhất một lòng chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Thời kỳ ấy đầy khói lửa, máu xương, chết chóc, nhưng “đẹp” là vì sự đoàn kết, vì tình người. Nhạc sĩ Phạm Duy gọi đó là những năm “cả nước lên đường”. Trước khoảng thời gian ấy, ở Việt Nam, nhiều người ghét thực dân, nhưng thật ra cũng sợ thực dân nữa. Chưa bao giờ cả một dân tộc nhỏ bé, nghèo nàn lạc hậu, vùng lên chiến đấu như thế.

Và thời kỳ đẹp đẽ ấy, như thói thường, rất ngắn ngủi. Từ đó cho đến nhiều năm về sau, cho đến… tận bây giờ, Việt Nam không có được một giai đoạn nào “cả nước đứng lên”, “toàn dân như một” nữa. Bây giờ, lãnh đạo có kêu gào khản cổ “chống tham nhũng”, cũng chẳng ai buồn đáp lại bằng hành động, và thật lố bịch nếu nghĩ rằng các cháu học sinh, các em sinh viên sẽ cắm đầu vào học sau khi được kêu gọi “học cho giỏi để mai sau kiến thiết nước nhà”. Cũng lố bịch không kém nếu ai đó tưởng rằng các doanh nhân - những nhà tư sản dân tộc của ngày hôm nay – sẽ hăng hái “thi đua sản xuất” để cạnh tranh với hàng ngoại nhập, đưa nền kinh tế đất nước vươn lên.

Bây giờ, mỗi lần gặp một nhân chứng của thời xưa, nghe chuyện họ kể, tôi lại bần thần hồi lâu. Tôi tự hỏi, các nhà lãnh đạo nói riêng hay tất cả những người tự nhận là “trung thành với Đảng, với lý tưởng cộng sản” nói chung, họ có biết họ đã đánh mất một thứ quý giá lắm hay không? Thứ mà ngày xưa họ đã từng có. Thứ mà giờ đây cực kỳ khó lấy lại.

Đó là lòng dân.

Họ có biết không nhỉ? Biết quá đi chứ. Nhưng chắc đối với họ, mất thì làm sao nào, quan trọng gì?