PDA

View Full Version : Tình mẹ (Thích Hộ Giác)



bilu
08/09/2005, 12:53 PM
tình mẹ



Mùa thu buồn. Trời thu lạnh. Gió thu hắt hiu thì thầm như trao gởi, nhắn nhủ những kỷ niệm ân tình giữa hai miền sống, chết. Phải chăng mùa thu về nhắc nhở ta những ân tình chưa thỏa, những mộng đời chưa tan trong cái xoay vần của nhân duyên sanh diệt.

Nếu nơi đây, mặt trời đã không ngừng chứng kiến những cảnh dâu bể tang thương, những cảnh tương tàn tương sát, thì nơi kia, bóng đêm cũng không ngừng vây phủ những oan hồn ủy mỵ vừa kêu gào bi thương vừa lang thang thất thểu. Trong hai cõi sống và chết, sinh linh cũng chỉ là những đứa con lạc lõng giữa bụi đời tham vọng huyễn hư, hoặc cũng chỉ là những bóng ma vật vờ trong trường dạ u linh, tìm nước tĩnh bình để giải oan thoát khổ.

Mùa thu cũng là mùa tiêu biểu cho nỗi nhớ niềm thương : ngoài trời nào cảnh sụt sùi mưa dầm tháng bảy, nào cảnh xương khô lạnh ngắt heo may, nào cảnh lá vàng lìa cành xa cội, nào cảnh mưa sa lác đác mộ phần, tất cả ngoại cảnh nầy đều khiến nội tâm nhói đau nỗi niềm hoài cảm, nhất là những u hồn bên kia thế giới. Và mùa thu về cũng báo hiệu mùa Vu Lan báo hiếu : mùa của mẹ, mùa của cha, mùa của Tổ tiên gia tộc, mùa mà những đóa hoa hồng đỏ thắm nở trên áo của những ai may mắn còn mẹ, và những đóa hoa hồng trắng nhạt sẽ nở trên áo của những ai bất hạnh sớm mất mẹ hiền.

Nói đến tình mẹ thì quả thật trên quả đất nầy không có thứ tình nào đậm đà lai láng, thiêng liêng và bất diệt như tình mẹ.

Tình mẹ không chỉ ngọt ngào như dòng suối mà là những dòng máu đỏ khởi nguồn từ tim và reo chảy về tim; không chỉ là bầu trời trong sáng chiếu ánh trăng sao, mà là những tế bào mạch huyệt đang lưu lộ căng đầy và vận hành trong toàn thân; không chỉ là một kho tàng vô tận để cung cấp cho sự sinh tồn vạn loại.

Trên thế gian nầy có nhiều kỳ quan nhưng trái tim của mẹ mới thật là đệ nhất kỳ quan. Vì trái tim của mẹ là một thứ kỳ quan sống động linh hoạt. Trong khi các kỳ quan khác đều chết đứng bất động. Đối với kỳ quan nầy chúng ta không cần phải phí công tốn của để tìm kiếm quan chiêm, vì chính kỳ quan tuyệt bích ấy đã ở trong ta từ lúc mới tượng hình, và theo năm tháng kỳ quan nầy lại càng trở nên kỳ ảo, vĩ đại, vô tiền khoáng hậu.

Các kỳ quan trên thế giới đều kiến tạo bằng vật liệu kiến trúc gần giống nhau, chỉ khác mô hình, hình thể. Còn kỳ quan là trái tim của mẹ thì cách cấu trúc hoàn toàn dị biệt về cả hai phương diện : vật thể và tâm thể. Vật thể là điều kiện tổng hợp của thịt, máu, động mạch, các ống dẫn máu ra vào. Sự vận hành của không khí tức không đại; sự lưu chuyển của máu tức thủy đại; sự điều hòa ấm áp tức hỏa đại; các cơ thịt tự động cấu hợp của tim tức địa đại; và sự hô hấp tự nhiên của toàn bộ trái tim tức thức đại.

Về mặt tâm thể thì chúng ta có thể tìm được bốn thể tánh vô lượng, quảng đại, biến mãn trong trái tim mẹ, đó là : Từ Bi Hỉ Xả.

TỪ là trạng thái tâm ai mẫn, hiền hòa, sẵn sàng ban rải cho một đối tượng hoặc nhiều đối tượng mới bắt đầu tượng hình hay sắp sửa thành hình. Ở đây, thai bào là đối tượng tuyệt đối phải được ban rải cẩn trì, dù trong không gian hạn hẹp, dù qua thời gian lâu mau, dù đứng về mặt khách thể, dù trực thuộc phương diện chủ thể.Về thể cách ban rải thì có nguyện và hạnh.

Nguyện, tức dùng lực cầu nguyện van vái Phật Trời phò hộ thai bào được bình an vô sự suốt thời gian 9 tháng cưu mang và hằng tâm nguyện sao đến ngày khai hoa nở nhụy, thai nhi được mở mắt chào đời với thân hình nguyên vẹn cụ túc lục căn.
Hạnh, tức hành động cẩn trì trong oai nghi : đi đứng ngồi nằm; trong chánh hạnh : nói năng, ăn uống, cách nhìn, cách nghe, thậm chí luôn luôn chánh niệm không dám buông lung tà tâm, nóng giận sợ ảnh hưởng thai bào. Có những hiền mẫu phát tâm bố thí, cúng dường, trì trai, niệm Phật khi biết mình thọ thai. Tâm từ nầy của mẹ khởi phát chính thức ngay khi biết mình đã thực sự mang thai và cứ như vậy tiếp diễn cho đến ngày nở nhụy khai hoa.
BI là tâm vô lượng thứ hai của mẹ phát xuất cùng lúc với tiếng khóc chào đời của thai nhi. Tâm bi nầy khó mà diễn tả chính xác hết ý. Vì tâm bi được chuyển tiếp từ tâm Từ sau 9 tháng trông ngóng đợi chờ, mừng mừng sợ sợ, mặc dù lòng đã dặn lòng : "Tất cả đều diễn tiến tốt đẹp, mẹ tròn con vuông, trên có Phật Trời phò hộ, dưới có mẹ cha hướng dẫn và chính mình cũng hết mực dưỡng thai". Nhưng tránh không khỏi những phút giây bồi hồi, phập phòng, lo sợ, mặc dù đã tự cố gắng trấn an. Thế mà giờ đây tiếng khóc hài nhi đã kéo mẹ về thực tại sau những giờ phút đớn đau, bàng hoàng vì sanh nở thì bảo sao mẹ hiền không vui mừng, sung sướng cho được. Nhìn kỹ mặt con, mẹ càng thương yêu ngập lòng. Chính hai tâm vô lượng Từ và Bi nầy đã dung hợp, trợ duyên nhau một cách tương tục kỳ diệu nên đã biến máu hồng thành sữa trắng để nuôi con.

HỈ là tâm vô lượng thứ ba của mẹ. Tâm nầy được phát hiện cụ thể nhất là lúc cha mẹ nhìn con mấp máy đôi môi bập bẹ kêu "Ba" kêu "Má", và chập chững tập đi một mình từng bước không vững, rồi lần lần trở nên chững chạc, biết ăn, biết nói, biết cười, biết làm xấu. Con càng khôn lớn, mẹ càng vui mừng. Vì con là núm ruột, là hòn máu, là một phần trong cơ thể mẹ, là kho tàng vô giá, là nguồn hạnh phúc vô bờ. Giờ đây con đà khôn lớn, trưởng thành, bảo sao mẹ hiền không vui mừng cho được. Bất cứ cử chỉ nào, lời nói nào, hành động nào của con trẻ, dù vô tư, không đòi hỏi phải khôn ngoan, cũng đủ làm cho mẹ sung sướng ngập lòng. Vả lại niềm vui của mẹ là con, và mẹ thì cũng chỉ biết vui với con mà thôi. Con là nguồn an ủi duy nhất của mẹ. Do đó, con đau là mẹ xót, con mạnh là mẹ mừng. Có con một bên, mẹ cảm thấy cuộc đời là màu hồng, là bầu trời mùa xuân và tất cả hiện hữu đều có ý nghĩa, đáng yêu. Vắng con, mẹ cảm thấy lẻ loi, hiu quạnh, bầu trời là cả một mùa thu, tất cả hiện hữu trở nên vô nghĩa và mẹ tự thấy mình bạc phước vô phần.

XẢ là tâm vô lượng thứ tư của mẹ. Tâm nầy của mẹ tự động hiển lộ trong hai trường hợp nghịch cảnh hoặc thuận duyên. Tâm xả hiện lộ trong nghịch cảnh đó là những khi con giận, con hờn, con nặng lời lớn tiếng, con phụ rẩy mẹ cha, con ngỗ nghịch phạm thượng, trong tất cả tình huống ấy, mẹ cha chẳng những cam tâm cúi đầu chấp nhận, không hề oán giận nguyền rủa con mà còn sẵn sàng rộng dung tha thứ.

Còn tâm xả của mẹ được thấy trong thuận cảnh là khi con cái thành nhơn chi mỹ, cha mẹ thận trọng lựa chọn những gia đình hiền lương, đạo đức, có học, có hạnh để dựng vợ gả chồng, và sau khi con cái đã yên bề gia thất thì lòng cha mẹ bớt lo lắng, ưu tư, có thể tạm an tâm để sống những chuỗi ngày còn lại. Do vậy, tâm xả phải hiểu tận tường rằng xả không chỉ có nghĩa là cảm thông, xả bỏ, tha thứ, không chấp thủ như trường hợp nghịch cảnh; mà xả còn là một trạng thái tự tin, an tâm, vô thưởng vô phạt như vừa kể trong phần thuận cảnh.
Một thứ kỳ quan sinh động, linh hoạt, khế lý, khế cơ, nhất là biết cung ứng đầy đủ mọi thứ nhu cầu của con cái trên hai phương diện vật lý và tâm lý, thử hỏi như vậy trái tim của mẹ có đáng được công nhận là "đệ nhất kỳ quan" hay không. Chính vì cha mẹ có đủ bốn tâm vô lượng, nên đức Phật xưng tụng cha mẹ là "trời phạm thiên", là "giáo sư đầu đời", là "vị tiên ban đầu" và là "bậc đáng cúng dường".

Thật ra trên thế gian nầy, mối tình nào, chung cuộc, cũng đều phai mờ trong tim ta, trong ký ức ta. Duy nhất chỉ có tình mẹ là thiên thu bất biến. Sở dĩ tình mẹ tồn tại vĩnh viễn vì tình mẹ thương con như biển hồ lai láng, như trái đất bao dung, như bầu trời hiến dâng sự sống, như gió xuân ban rải sự mát mẻ cho muôn loài, không có bất cứ sự lựa chọn nào trong tình mẹ thương con, tình mẹ vượt thời gian, không gian, chỉ cho mà không cần nhận, cho vô điều kiện, cho bình đẳng không phân biệt đẹp xấu, trí ngu, giàu nghèo, có hiếu hay bất hiếu.
Chính vì tình mẹ như vậy nên không bao giờ bị ngoại cảnh chi phối. Nghĩa là tình mẹ thương con không có biên giới. Vậy, bạn nào còn cha còn mẹ thì bạn là người diễm phúc nhất đời. Vì không có niềm vui nào thiêng liêng, đậm đà bằng niềm vui còn mẹ và cũng không có nỗi buồn nào ray rứt xót xa bằng nỗi buồn mất mẹ.

Một Phật tử ở Phan Thiết, đạo hữu Lê Minh Hớn, đã làm sống dậy tình mẹ trong chúng ta vô cùng ý nhị : "Ta còn có mẹ, mẹ hát đưa ta, tiếng hát xa xưa buồn quá đỗi, nhà ai giã gạo trưa hè. Mẹ hát à ơi ! võng trời kẽo kẹt, da trời xanh ngắt cửa đông. Người đâu có biết : Mẹ bồng ta cả tuổi ban đầu. Câu hát ngày xưa chín vàng chín đỏ. Ba mươi tuổi đời lăng lắc đong đưa. Ba mươi tuổi đầu mẹ còn coi nhỏ, đưa từng trái bắp củ khoai. Ngày đó ta về, mẹ còn vuốt tóc. Người biết không, ta khóc trong lòng !".

Do đó, nếu chúng ta vì miếng mồi đỉnh chung ngắn ngủi, vì tương lai sự nghiệp mơ hồ mà quên bổn phận thần tỉnh mộ khang, quạt nồng đắp lạnh, thì thật là lỗi đạo làm con, nếu không nói là bất hiếu.


Thích Hộ Giác

QuangXaXu
08/09/2005, 03:20 PM
Cảm ơn bilu đã posted bài này của Thầy Hộ Giác lên đây nhân mùa Vu Lan Báo Hiếu. Thật là sâu sắc và đầy ý nghĩa quá phải không bà con.

anmota
08/13/2005, 10:21 AM
TUCSON, Arizona (AP) -- An 83-year-old woman is recovering after being stung 400 times by bees, authorities said.

The woman, whose name was not released, was attacked Friday by bees coming from the wall of a storage building outside her home, said Fire Department Capt. Paul McDonough.

A handyman sprayed her with water from a hose until the bees turned on him. He ran and called 911.

Firefighters found the woman lying face down and unconscious in the street. They sprayed the bees with foam, then took her to the hospital, McDonough said.

She was out of intensive care and in fair condition Friday night.

"She was stung 400 times," said University Medical Center clinical supervisor Kim Hilty. "Everyone was surprised how well she's doing."

bilu
08/15/2005, 08:29 PM
Lễ Vu Lan và hiếu đạo của người Việt

2005.08.15

Thy Nga, phóng viên đài RFA (http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2005/08/15/Music2549thBuddhistUllambana_TNga/)

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2005/08/15/vmusic081405a.mp3




http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2005/08/15/PhatBa150.jpg
Chùa Việt Nam ở Houston, Hoa Kỳ. Photo by ThyNga/RFA

Thứ Sáu tới đây nhằm ngày rằm tháng Bảy âm lịch, là lễ Vu Lan. Mùa lễ Vu Lan theo đạo Phật và truyền thống văn hóa Việt Nam, còn là mùa báo hiếu.

Nhân lễ Vu Lan, trong cuộc điện đàm với chúng tôi, Thượng Tọa Thích Hải Tạng trụ trì tại chùa Long An ở Quảng Trị nhắc nhở về những điều thiết thực mà người con nên thể hiện với Cha Mẹ, về bổn phận mà trong cuộc sống bận rộn thời nay, nhiều người trong chúng ta thiếu sót với bậc sinh thành.

Về hiếu đạo, thày nói tiếp: (Xin theo dõi trong phần âm thanh bên trên)

“Tiếng kinh chùa tôi” ...

Có bài phóng sự tựa đề là “Saigon mùa Vu Lan” của Thu Thủy và Pha Lê đăng trên Nguyệt san Liên Hoa số ra tháng này, Thy Nga đọc thấy hay hay nên xin trích để chia xẻ cùng quý thính giả.

“Mưa ngâu” …

“Ông bà ta xưa vẫn thường nhắc nhau
“dù ai buôn bán đâu đâu
cứ rằm tháng Bảy mưa Ngâu thì về”

Khi những cơn mưa nhẹ rả rích kéo dài, những cơn ngâu phủ xuống đất trời, chính là lúc nhắc mọi người một mùa Tết Trung Nguyên lại đến, mùa của những ngày “xá tội vong nhân”, của lễ Vu Lan báo hiếu.

“Tháng Bảy Vu Lan” Võ Tá Hân phổ thơ Hàn Trúc, Trung Hậu hát …


Theo tín ngưỡng truyền thống của người Việt thì rằm tháng Bảy là ngày các tội nhân ở cõi âm được tha tội bởi vậy, các gia đình ở dương gian bày mâm cúng gia tiên, đốt vàng mã và cầu cúng tụng kinh độ trì cho họ. Phật tử và khách thập phương đến chùa để tưởng nhớ, tôn vinh công sinh thành dưỡng dục, cầu nguyện cho cha mẹ, cho vong hồn người thân và các “cô hồn thập phương” được siêu thoát.

Tục lệ này đã thành một nếp sinh hoạt văn hóa tinh thần của dân tộc Việt từ nhiều đời nay chứ không chỉ dành riêng cho giới Phật tử. Người ta mong là trong ngày này, không ai phải đói khát, khổ sở. Các cửa chùa đều rộng mở, phân phát cơm chay cho mọi người, trẻ mồ côi, người nghèo, kẻ hành khất, những người sống lang thang khắp nơi đều được hưởng lộc Phật.

Tháng Bảy, bên cạnh một Sàigòn với nhịp sống sôi động không dứt thì có một điểm xuyết của một Sàigòn với ý nghĩa tâm linh, cùng song hành: nhiều người dành thời gian tìm tới cửa Phật để cầu nguyện cho người thân đã khuất, cầu an cho gia đình, đất nước.

Họ tạm quên đi những đua chen vất vả để được thả hồn vào những câu kinh báo hiếu mẹ cha, cứu độ chúng sinh.

Tại chùa Xá Lợi, Vu Lan là mùa khách thập phương kéo đến đông nhất trong năm. Từ mùng 8 đến ngày rằm tháng Bảy, chùa tổ chức tụng kinh báo hiếu ở nhiều thời khắc khác nhau. Đêm 14, ngoài lễ chính còn có giảng kinh, và đêm rằm có tổ chức văn nghệ mừng mùa Vu Lan báo hiếu.

“Tôi lên chùa” Mộng Lan phổ thơ Huệ Thu và trình bày … Ngoài việc đến chùa lễ Phật, tại nhà, người ta còn tiến hành nhiều nghi lễ khác. Đầu tiên là lễ cúng cô hồn. Với lễ này, người sống muốn gửi chút lòng thành tới người đã khuất, dành cho những vong linh vất vưởng không ai chăm lo, cúng giỗ.

Ngay từ những ngày đầu tháng Bảy âm lịch, tập trung nhất là vào các ngày mười bốn và rằm, trên các đường phố buôn bán sầm uất của Sàigòn, đặc biệt là khu vực Chợ Lớn, hình ảnh đặc trưng nhất là những mâm cúng cô hồn đặt trước cửa nhà, thường là vào buổi tối.

Trên mâm có gạo, muối, trái cây, vàng mã, … Nhà khá giả có khi còn có cả heo quay, vịt quay, tiền lẻ hoặc một nồi cháo bốc hơi nghi ngút.

Khi những nén nhang vừa tàn, bầy trẻ con lao vào giật các món trên mâm cúng, tiếng reo hò vang dội cả một góc phố. “Giật cô hồn” là một thú vui của trẻ con, còn người cúng thì cũng cười vui, nhìn lũ trẻ lao vào “dọn sạch” mâm cúng, điều đó chứng tỏ là Trời Phật và những vong hồn đã về chứng giám cho lòng thành của họ.

Tháng Bảy là tháng mà mọi người thường ăn chay để tích đức cho cả năm vì thế đây cũng là dịp để các nhà hàng, quán ăn chay ra sức trổ tài. Trong khi ấy, những bữa cơm chay của gia đình trong các ngày mười bốn và ngày rằm cũng là dịp để cả nhà đoàn tụ, chúc thọ mẹ cha.

“Ơn nghĩa sinh thành” (hợp ca thiếu nhi) …

Trong nhiều gia đình, thường có lệ tặng quà cho cha mẹ để tỏ lòng biết ơn công lao sinh thành, dưỡng dục. Quà tặng trong ngày lễ báo hiếu là áo quần và các loại bánh trái. Nhiều người còn dành cho cha mẹ món quà bất ngờ và độc đáo hơn như đưa cha mẹ đi vãn cảnh chùa tại Vũng Tàu, Nha Trang hay Đà Lạt.

Đúng ngày rằm tháng Bảy, những ai đến viếng chùa còn được gắn một bông hồng, bông hồng màu đỏ thắm gắn cho ai còn đủ cả mẹ cha; bông hồng màu hồng gắn cho những người chỉ còn cha hoặc mẹ; những ai đã mất cả cha lẫn mẹ thì gắn bông hồng trắng. Đây là một phong tục rất đẹp có nguồn gốc từ Nhật Bản, đã du nhập vào nhiều nước châu Á trong đó có Việt Nam.

Việt Dzũng đang gởi đến quý vị ca khúc “Bông hồng cài áo” Phạm Thế Mỹ phổ từ ý thơ Nhất Hạnh …

Phóng sự này, tác giả (và cả Thy Nga nữa) mong quý vị xem đây là một bông hồng đỏ để cài lên áo, một bông hồng đỏ thắm cho tất cả mọi người mặc dù không phải ai ai trong chúng ta đều có được niềm hạnh phúc còn đủ mẹ cha.

Một bông hồng đỏ thắm để nhắc chúng ta rằng những ngày Vu Lan đẹp nhất, chính là những ngày ta được sống bên mẹ, bên cha, bên những người thân yêu nhất của mình.

Trong âm thanh ca khúc “Bông hồng cài áo” qua giọng hát Việt Dzũng, Thy Nga xin kết thúc chương trình kỳ này, cầu mong quý vị hưởng mùa lễ Vu Lan trong niềm an lạc.

“Bông hồng cài áo” …

anmota
08/15/2005, 09:12 PM
http://perso.wanadoo.fr/dang.tk/poesie/nguyendu/chieuhon.htm

anmota
08/15/2005, 09:19 PM
Vu Lan Bồn
HT. Thích Thiện Hoa
(Trích từ Phật Học Phổ Thông)


A. MỞ ĐỀ
1. Công ơn sanh thành dưỡng dục rất lớn lao

Chúng ta thương nghe câu ca dao:

"Công cha như núi Thái sơn;
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra".
(Công ơn cha mẹ thật qúa lớn lao như núi cao, bể cả).

Mẹ thì chín thàng cưu mang, ba năm cho bú mớm, suốt đời chỉ biết hy sinh cho con. Khi đang ăn cũng như khi ngủ nghỉ, hễ con cần đến là có mẹ ở bên cạnh. Con lỡ đại, tiểu tiện ở trên mình, mẹ vẫn vui cười không chút hờn giận. Gặp cảnh nghèo hèn, mẹ nhịn bớt cơm cho con ăn, dành chỗ khô ráo cho con nằm (bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn). Rủi khi con đau ốm, mẹ ngồi bên cạnh, năm canh thao thức lo âu; chỉ khi con khỏe mạnh tươi cười, mẹ mới vui tươi hớn hở. Ca dao có câu:

" Lên non mới biết non cao,
Nuôi con mới biết công lao mẫu từ".

Còn cha mẹ phải lo làm lụng vất vả để nuôi con. Nếu gặp cảnh nghèo khó, cha phải làm thuê, ở mướn, mua tảo bán tần, đổ mồ hôi lấy bát cơm, manh áo cho con. Ngoài cha còn dạy dỗ cho con học hành, ngày đêm lo lắng đào tạo cho con thành người hữu dụng, khôn ngoan, khỏi thua chúng kém bạn.

Công ơn cha mẹ nói ra bao nhiêu cũng không cùng.

2. Vậy làm con phải báo đền ơn cha mẹ

Bất luận luân lý đạo đức nào, Đông hay Tây, xưa hay nay; đều lấy cữ:Hiếu" làm đầu. Một người con đã bất hiếu với cha mẹ, thì không còn việc xấu xa gì mà không làm được. Một kẻ vong ơn bội nghĩa như thế, thì không còn biết nhân nghĩa, bác ái, công bằng là gì nữa. Bởi vậy cho nên, người xưa có câu:

"Thiên kinh vạn quyển, Hiếu nghĩa vi tiên",
(Ngàn quyển kinh, vạn quyển sách, đều lấy Hiếu làm đầu).

Kinh Thi có nói một câu rất cảm động:

" Phụ hề sanh ngã, mầu hễ cúc ngã,
Ai ai phụ mẫu, sanh ngã cù lao,
Dục báo thâm ân, hiệu thiên võng lạc".

Nghãi là cha sanh ta, mẹ nuôi ta. Hỡi ôi, cha mẹ sanh ta cực nhọc. Muốn đền đáp ân đức của cha mẹ, như vói lên trời cao chẳng cùng.

Phật cũng dạy: "Phụ mẫu tại đường như Phật tại thế".

Nghĩa là cha mẹ còn sinh tiền, cũng như Phật còn ở đời. Xem thế, Phật đã đề cao biết bao sự hiện diện quí trọng của cha mẹ. Vì cha mẹ quí trọng như thế, nên Ngài dạy thêm:

" Hiếu vi vạn hạnh chi tiên".
(Hiếu thảo đứng đầu trong mọi việc).

Để Phật tử làm tròn nhiệm vụ hiếu đạo, nên đức Phật dạy pháp Vu Lan Bồn dưới đây.

B. CHÁNH ĐỀ

Vu Lan Bồn là một phương pháp báo hiếu có hiệu quả nhất. Nhưng trước tiên, chúng ta hãy hiểu nghĩa Vu Lan Bồn thế nào đã.

I. ĐỊNH NGHĨA

Vu Lan Bồn là phiên âm theo tiếng Phạn. Người Trung Hoa dịch là: " giả đảo huyền", nghĩa đen là cổi trói người bị treo ngược; nghĩa bóng là cứu vớt những kẻ đau khổ nặng nề như đang bị treo ngược.

II. NGUYÊN NHÂN PHẬT DẠY PHÁP VU LANBỒN

Ngài Đại hiếu Mục Kiền Liên, sau khi tu hành chứng được 6 phép thần thông, ngậm ngùi nhớ đến công ơn cha mẹ, Ngài tìm cách báo đáp. Dùng đạo nhãn xem trong thế gian, Ngài nhận thấy mẹ mình sanh làm loài ngạ quỷ, than thể ốm gầy, da bọc xương, thân hình tiều tụy, bụng lớn, đầu to, cổ nhỏ như ống chỉ, đói khát suốt năm không được ăn uống. Thương xót quá, Ngài liền đem bát cơm đang ăn dâng mẹ. Ngài vận thần thông, bưng bát cơm đi đến chỗ mẹ ở. Bà mẹ khát khao, nên khi được cơm, lòng tham nổi lên, sợ người cướp giựt, lấy tay trái che giáu bát cơm, tay mặt bốc ăn. Bởi lòng tham lam độc ác trong tiền kiếp trước nổi bừng lên, nên cơm mới đưa vào miệng, thì hóa thành ra lửa, bà chẳng ăn được.

Ngài Mục Kiền Liên thấy thế, hết sức đau buồn kêu khóc thảm thiết. Ngài liền trở về bạch Phật, thuật lại như trên và cầu Phật chỉ dạy cho phương pháp cứu độ thân mẫu.

III. PHẬT DẠY PHÁP VU LAN BỒN CHO NGÀI MỤC KIỀN LIÊN

Sau khi nghe Ngài Mục Kiền Liên thỉnh cầu phương pháp báo hiếu, Phật dạy rằng:

" Nầy Mục Kiền Liên! Mẹ của ông do lòng tham lam, độc ác đã tạo ra tội lỗi nặng nề trải qua nhiều kiếp, nay sanh trong ác đạo, làm loài ngạ quỷ nên không thẻ một mình ông cứu độ được. Mặc dù lòng hiếu thảo của ông vô cùng lớn lao, cũng không sao chuyển được hoàn cảnh, chẳng khác gì chiếc thuyền con, không thể chở được tảng đá lớn. Vậy ông phải nhờ oai thần của chúng Tăng trong mười phương, đức lớn như biển, mới cứu độ mẹ ông được giải thoát. Ta nay sẽ vì ông, chỉ dạy phương pháp cứu rồi, khiến cho cha mẹ ông xa lìa được các điều tội lỗi.

Nầy Mục Kiền Liên ! Ngày rằm tháng 7 là ngày Tự Tứ của chư Tăng trong mười phương, sau ba tháng an cư kiết hạ, sách tân tu hành. Ngày ấy cũng là ngày hoan hỷ của các chư Phật , vì thấy chư Tăng sau ba tháng an cư kiết hạ, đã tiến bộ rất nhiều trên đường tu học, các nghiệp được thanh tịnh, ba món vô lậu học được tăng trưởng, công đức thêm nhiều và đến ngày viên mãn. Vậy ông nên nhân ngày ấy làm lễ Vu Lan Bồn để báo hiếu cho mẹ ông.

Ông hãy sắm đủ các món trai diên trăm mùi, năm thứ trái, cùng hương dầu đèn nến, giường chõng, chiếu chăn, mùng mền, quần áo, thau rửa mặt, khăn lau tay; tóm lại là đủ bốn món cúng dường quí báu trong đời. Rồi ông phải thân hành đi rước các vị Đại Đức Tăng trong mười phương, hoặc những vị thiền định trong núi rừng, chứng được bốn quả Thánh, hoặc có vị kinh hành dưới cội cây được sáu phép thầ讠thông tự tại hàng Thanh Văn, Duyên Giác, các vị Thánh Tăng, hoặc các vị thập địa Bồ Tát thị hiện làm thầy Tỳ kheo v.v...Ông phải thành tâm kính lễ trai Tăng cúng dường và thỉnh cầu chư Tăng chú nguyện cho vong linh mẹ ông được thoát khổ. Nhờ công đức chí thành chú nguyện, vong linh mẹ ông đã được siêu thoát. Cũng như tảng đá dù nặng trăm cân, song có nhiều người khiêng, thì dời đi đâu cũng được".

Ngài Mục Kiền Liên vâng lời Phật dạy, đến ngày rằm tháng 7 làm lễ Vu lan, sắm đủ các vật liệu, rước chư Tăng trong mười phương thành tâm kính lễ trai Tăng cúng dường, nên vong mẫu của Ngài được thoát khỏi kiếp ngạ quỷ, sanh về cảnh giới lành.

IV. NGÀI MỤC KIỀN LIÊN HỎI PHẬT: CÁC HÀNG PHẬT TỬ ĐỜI SAU CÓ THỂ LÀM LỄ VU LANBỒN ĐƯỢC KHÔNG?

Sau khi thấy thân mẫu được thoát khổ, Ngài Mục Kiền Liên hết sức vui mừng, liền đến trước Phật chấp tay bạch rằng:

Bạch Thế Tôn! Thân mẫu của con được nhờ công đức Tam Bảo và oai thần của chư Tăng, nên được thoát ly kiếp ngạ quỷ khổ não. Vậy về đời sau, trong hàng Phật tử , nếu có người muốn làm lễ Vu Lan Bồn nầy, để cứu độ cha mẹ hiện tại cũng như cha mẹ nhiều kiếp trước, chẳng biết có được không?

Phật dạy rằng:

"Quý lắm! Nầy Mục Kiền Liên! Đời sau, nếu có được các thầy Tỳ kheo và Tỳ kheo ni, vua, Thái Tử, các quan tể tướng, những hàng tam công cho đến tứ dân, vì lòng hiếu thảo muốn đền đáp công ơn cha mẹ hiện tại hay quá khứ, thì cứ ngày rằm tháng 7 là ngày "Phật hoan hỷ", làm lễ Vu Lan nầy, để cúng dường trai Tăng. nhờ công đức của chư Tăng chú nguyện, cha mẹ hiện tại được tăng long phước thọ, khỏi những điều tai hoạn, khổ não,, còn cha mẹ bảy đời trước thì khỏi bị khổ ngạ quỷ, được sanh trong cõi nhơn thiên, hưởng phước vui vẻ không cùng".

Khi đó Ngài Mục Kiền Liên và bốn chúng Đệ tử hoan hỷ vâng làm. Và từ đó về sau, mỗi năm cứ đến ngày Rằm tháng 7, các hàng Phật tử chí hiếu, đều có làm lễ Vu Lan để đền đáp công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ.

V. Ý NGHĨA ĐÚNG ĐẮN VÀ ĐẦY ĐỦ CỦA SỰ BÁO HIẾU THEO QUAN NIỆM ĐẠO PHẬT

Tất nhiên sự báo hiếu không những chỉ nhắm vào một lễ Vu Lan. Không phải mỗi năm chỉ tổ chức một lễ Vu Lan, là đã tự cho mình là người con chí hiếu vì đã làm đầy đủ hiếu đạo.

Như trên đã nói, công ơn cha mẹ rộng như trời bể, làm con suốt đời báo ơn cha mẹ vẫn chưa vừa. Nhưng trong lúc báo hiếu, phải có quan niệm sáng suốt, đúng đắn mới thật có lợi ích và hiệu quả.

Báo hiếu có nhiều cách, nhưng không ngoài hai phương diện: vật chất và tinh thần.

1. Báo hiếu về vật chất: Người Phật tử phải hầu hạ vâng thờ, thay làm các việc nhọc săn sóc miếng ăn thức uống, áo quần, chiếu giường, chỗ nghỉ ngơi, không để cho cha mẹ thiếu thốn, lo nghĩ. Song người Phật tử phải sáng suốt trong khi báo hiếu, không nên quá chiều theo ý muốn của cha mẹ mà tạo những nghiệp dữ, như sát nhân, hại vật, gây tội lỗi để làm cho cha mẹ sung sướng trong vật chất. Làm như thế không phải là báo hiếu mà chính là bất hiếu, vì đã gây tạo tội lỗi thêm cho cha mẹ và cho mình.

Vả lại, báo hiếu về vật chất, dù đầy đủ cho mấy đi nữa, cũng chẳng qua làm việc cho cha mẹ được vui vẻ thỏa mãn trong một kiếp hiện tại mà thôi. Cái vui vật chất là vui giả tạm, vui trong vòng sanh tử luân hồi. Vậy sự báo hiếu về vật chất chưa phải là đủ.

2. Báo hiếu về tinh thần. Người Phật tử phải tiến lên một tầng nữa, là lo báo hiếu về tinh thần. Báo hiếu về tinh thần là làm sao cho tinh thần của cha mẹ được nhẹ nhàng, cao thượng và đi dần đến chỗ giải thoát. Phật tử phải khuyên cha mẹ tin nhơn quả tội phước và quy y Tam Bảo, bố thí phóng sinh, niệm Phật , làm các việc lành, giữ giới và tu nhơn giải thoát. Có như thế, thì không những trong hiện tại cha mẹ được yên vui, thanh tịnh và đời sau cungx được nhiều phước báo, và sinh trong cảnh giới sáng sủa nhẹ nhàng.

VI. QUYẾT NGHI

1. Có người nghi: Chư Tăng chỉ tụng kinh chú nguyện làm sao vong linh được siêu độ?

Đáp: Tinh thần của người ta rất mạnh, mỗi khi chúng ta tập trung tư tưởng, chăm chú vào một việc gì, thì sẽ thấy sức mạnh của nó phi thường. Kinh nói: "Chế tâm nhứt xứ, vô sự bất biện"; nghĩa là: để tâm định lại một chỗ, thì không việc gì làm không thành tựu. Chúng ta thấy như các nhà thôi miên, dùng tinh thần sai sử người đi, đứng, nằm, ngồi, v.v...đều được cả. Người thế gian dụng tâm còn được như thế, huống chư Tăng trị trai giữ giới thanh tịnh tu hành, tất nhiên tinh thần phải sáng suốt, mạnh mẽ hơn. Như thế mà các vị lại tập trung tư tưởng, thành tâm chú nguyện thì vong linh quyết nhờ sức mạnh của chư Tăng mà được siêu sanh. Laiữa, Phật và Bồ Tát sẵn có làng từ bi tế độ, thương tất cả chúng sanh như mẹ thương con. Chúng ta cảm, thì lo gì các Ngài không ứng hiện? Cúng như mặt trăng luôn luôn sẵn có ánh sáng, nếu nước hồ không xao động và lóng trong , thì trăng kia sẽ chiếu xuống tận đáy hồ.

2. Có người hỏi: "Y như lời Phật dạy trong kinh Vu Lan, thì phải sắm cho đủ các thứ thực phẩm và vật dụng quý báu để cúng dường chư Tăng. Như thế đối với những người nghèo hèn thì sao?

Đáp: Bổn ý của Phật dạy chúng ta là phải chí thành và tận lực trong việc lo sắm đủ những thứ ấy. Đối với những kẻ nghèo khó, nếu họ đã tận lực mà chỉ mua được một nén hương hay đĩa quả, nhưng có lòng chí thành, thì cũng đủ lắm rồi. Trái lại, nếu có người sắm dư giả các vật mà chưa chí thành, thì cũng chưa có thể gọi là đầy đủ.

3. Có người hỏi: Ngài Mục Kiền Liên thần thông đệ nhấ鴬 tự mình có thể cứu vớt cha mẹ được , cần gì phải nhờ đến chư Tăng. Cũng như các ông quan lớn trong xứ, đủ thế lực, có thể cứu bà con có tội được rồi, cần gì phải nhờ đến các quan khác?

Đáp: Bà Thanh Đề bị tội khổ, do trước kia tâm bà gây nên. Hôm nay nhờ Ngài Mục Kiền Liên là con hiếu thảo, sắm các lễ vật cúng dường Phật , Tăng, lúc ấy bà sanh lòng hoan hỷ cũng muốn cúng dường Phật , Tăng. Do đổi niệm bỏn sẻn, trở lại tâm rộng rãi, mà bà được giải thoát. Nếu như chỉ nhờ đức chúng Tăng mà tâm bà không hoan hỷ mở rộng, thì cũng khó mà cứu vớt được.

C. KẾT LUẬN

Chúng ta đã rõ biết hiệu quả tốt đẹp của lễ Vu Lan. Vậy chúng ta nên noi theo gương của Ngài Đại hiếu Mục Kiền Liên mà báo hiếu, thì chắc chắn cha mẹ hiện tại và bảy đời trước đều được thoát khổ ngạ quỷ u đồ, và hưởng vui giải thoát. Chuyện "Mục Liên, Thanh Đề" không có gì là hoang đường, huyền bí, mà là một hiện tượng có thể giải thích được. Đó là do lòng hiếu thảo chí thành của người con và công đức trì trai, giữ giới thanh tịnh trong ba tháng ạh, thúc liễm tu hành của chư Tăng, thành tâm chú nguyện, nên có sức mạnh cảm thông và kích thích đên stâm hồn người đau khổ, làm cho họ thức tỉnh cơn mê, xoay chuyển tâm niệm ác, hướng về nẻo thiện. Nhờ sự chuyển hướng của cái tâm này, mà họ thoát khỏi sự hình phạt đau khổ mà trước kia chính cũng do cái tâm ấy tạo ra. Trong kinh có nói: "Tâm có thể tạo nghiệp, mà tâm cũng có thể chuyển nghiệp". Kìa, như nhà thôi miên học, chỉ tập trung tư tưởng mà còn có thể xoay chuyển sự vật được , huống chi sự chú nguyện của chư Tăng, là kết tinh của bao nhiêu phước đức trí huệ, thanh tịnh, lại không thông cảm đến người ở chốn tội khổ hay sao? Nghiệp lực sâu thẳm vô biên, thì tự lực và nguyện lực cũng dõng mãnh vô lượng, có thể chuyển được tâm người tạo nghiệp, đập vở được lao ngục xiềng xích khổ hình ở chốn u đồ.

Pháp Vu Lan nầy chính là phương pháp thần diệu để cứu rỗi vong linh cha mẹ trong cảnh khổ tối tăm.

Nhưng chúng ta phải luôn luôn nhớ rằng; báo hiếu không phải chỉ đời khi cha mẹ đã khuất bóng và mỗi năm chỉ một lần cử hành lễ Vu Lan là đủ.

Người con chí hiếu, bao giờ cũng vui sướng khi thấy cha mẹ còn ở bên mình và tận lực phụng dưỡng cha mẹ, để cha mẹ được thảnh thơi về cả hai phương diện vật chất và tinh thần.

Như thế mới khỏi hối hận và than thở như Thầy Tử Lộ:

"Mộc dục tịnh nhi phong bất đình !
Tử dục dưỡng nhi thân bất tại".

(Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng ! Con nuôi dưỡng báo hiếu mà cha mẹ chẳng còn sống).

anmota
08/15/2005, 09:29 PM
Don't make me think !
http://www.chinapage.com/confucius/xiaojing-be.html
I will follow !
anmota

bilu
08/16/2005, 10:46 AM
Dáng mẹ hiền khoai sắn chân quê

Tiếng ai còn đọng sau hàng tre

Vàng thu mới đó mà xa cũ

Mơ bóng Vu Lan có mẹ về


Những nỗi đau đời không hẹn trước
Mẹ già, sông núi lở... con đi
Tha hương cố lý đời xuôi ngược
Nước mắt buồn thiu đọng những gì

Đợi mõi mòn mẹ về quê hương
Quê hương của mẹ trời Tây Phương
Chẳng phải bên trời xe ngựa ấy
Lối thiên thu xa khuất dặm trường

Hàng cau trước ngõ, bụi chuối sau hè
Nhớ mẹ quê tất tả con về
Cửa tre đôi cánh con lay gọi
Mẹ mất rồi chẳng có ai nghe

Con đổi gì đây trong nắm tay
Mẹ ơi! Thu trước chẳng về đây
Bầu xưa sữa mẹ tìm đâu thấy
Mẹ bỏ mình con đứng giữa đời

Tóc con đã bạc trong lòng mẹ
Con vẫn là con đứa trẻ thơ
Giàu sang danh vọng mây đầu núi
Mẹ mất rồi vẫn thấy bơ vơ

Rồi những Vu Lan Rằm Tháng Bảy
Mắt trầm hương vẳng tiếng chuông chùa
Nhắc Mục Kiền Liên con nhớ Mẹ
Con, một đời, vọng mãi thu xưa.

Trần Kiêm Đoàn, Cali, mùa Vu Lan 2005

Thiên lý
08/16/2005, 11:41 AM
Lòng Mẹ

Y Vân

I.

Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào,
Tình Mẹ tha thiết như giòng suối biển ngọt ngào,
Lời Mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào.
Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng Mẹ yêu.

Lòng Mẹ thương con như vầng trăng tròn mùa thu.
Tình Mẹ yêu mến như làn gió đùa mặt hồ.
Lời ru man mác êm như sáo diều dật dờ.
Nắng mưa sớm chiều vui cùng tiếng hát trẻ thơ.

Thương con thao thức bao đêm trường,
Con đà yên giấc Mẹ hiền vui sướng biết bao.

Thương con khuya sớm bao tháng ngày.
Lặn lội gieo neo nuôi con tới ngày lớn không.

Dù cho mưa gió không quản thân gầy Mẹ hiền.
Một sương hai nắng cho bạc mái đầu buồn phiền.
Ngày đêm sớm tối vui cùng con nhỏ một niềm.
Tiếng ru êm đềm mẹ hiền năm tháng triền miên.

II.

Lòng Mẹ chan chứa trên bao xóm làng gần xa.
Tình Mẹ dâng tới trăng ngàn đứng lặng để nghe,
Lời ru xao xuyến núi đồi suối rừng rặng tre.
Sóng ven Thái Bình im lìm khi tiếng Mẹ ru.

Một lòng nuôi nấng vỗ về những ngày còn thơ.

Một tình thương mến êm như tiếng đàn lời ca.
Mẹ hiền sớm tối khuyên ngủ bao lời mặn mà.
Khắc ghi bên lòng con trẻ muôn bước đường xa.

Thương con Mẹ hát câu êm đềm,
Run lòng thơ ấu quản gì khi thức trắng đêm.
Bao năm nước mắt như suối nguồn.
Chảy vào tim con mái tóc chót đành đẫm sương.

Dù ai xa vắng trên đường sớm chiều về đâu.
Dù khi mưa gió tháng ngày trong đời bể dâu.
Dù cho phai nắng nhưng lòng thương chẳng lạt mầu.
Vẫn mong quay về vui vầy dưới bóng mẹ yêu.

bilu
08/17/2005, 02:14 PM
Lần đầu tiên tổ chức đại đàn siêu độ trên biển Thái Bình ở quận Cam
Tuesday, August 16, 2005

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/articlefiles/30779-DP_vong%201x.jpg http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/articlefiles/30779-DP_vong%202x.jpg


QUẬN CAM 16-8 (NV)

“Hỡi cô hồn trước sau tề tựu,


Họ đã bất chấp nguy hiểm của sóng bão, của hải tặc, của đói khát và họ đã không may mắn đến bến bờ tự do như bao nhiêu người khác.

“Cầu cho các hương linh đi về cõi đó, với đại bi, đại nguyện, đại thể của chư Phật... Xin cầu nguyện thập loại cô hồn, nương vào tinh thần Vu Lan, thành tựu công đức...” Thượng Tọa Thích Vân Ðàm, xuống dự “Ðại đàn Siêu Ðộ trên biển” nói với các cô hồn bất hạnh.

“Mẹ tôi chết hồi Tháng Hai vừa qua. Gia đình chúng tôi đem tro cốt mẹ rải trên biển để cụ sớm siêu thoát.” Chị Nguyễn Thúy Giao, nước mắt vẫn đầm đìa khi nói như vậy về người mẹ 83 tuổi mà chị nói tận tụy và hy sinh trọn đời cho chồng cho con. Anh chị em của chị Thúy Giao là người cha là cụ Nguyễn Ðình Hồng, 84 tuổi, đang nằm “như cỏ cây” trong nhà nuôi dưỡng người bệnh. Cụ Hồng, một nhiếp ảnh gia nổi tiếng và cũng là một trong những sáng lập viên ra Hội Nhiếp Ảnh Việt Nam cũng với các ông Cam Ðào, Cao Lĩnh mấy chục năm về trước, bị tai biến mạch máy não, bây giờ, tuy được cứu sống nhưng toàn thân không cử động được. Thực phẩm được chuyển qua một cái ống vào hệ thống tiêu hóa và không biết khi nào thì cụ ra đi.


Thượng Tọa Thích Minh Dung, từ chùa Quang Thiện ở Ontario, California, tháp tùng phái đoàn để cùng tụng kinh siêu độ. Ngài cũng từng là thuyền nhân đến đảo Pulau Bidong, nghe nhiều chuyện vượt biên đau lòng, nên khi được tin có chuyến đàn siêu độ là tham dự để góp phần.

Theo TT Nguyên Trí, khoảng gần 200 gia đình đã đưa tên các người thân của họ chết mất xác trên biển khi vượt biên.

Ðại đàn siêu độ diễn ra trên một con tàu nhỏ. Ra khơi từ biển Long Beach khu vực có tàu Queen Mary và Aquarium, tiếng kinh tiếng kệ trầm buồn giữa những nét mặt buồn thê thiết, của các người mang tro cốt người thân rải xuống biển. Không sóng to gió lớn gào thét của những ngày vượt biên, không có bóng dáng hải tặc, không có đói khát, nhưng nước mắt nhiều người đuổi theo tro bụi hòa tan trong nước mặn.

bilu
08/23/2005, 10:36 AM
Tùy Bút Nhân Mùa Vu Lan: Bông Hồng Cài Áo và Mẹ

Việt Nguyên

"Tâm Tức Phật, Phật Tức Tâm"


LTS - Từ Bàn Viết Houston là cột mục bàn về các vấn đề thời sự từ chính trị tới kinh tế, văn hóa... do nhà báo Việt Nguyên trong ban biên tập Ngày Nay phụ trách. Ông cũng là một bác sĩ, hiện cư ngụ tại Houston, Texas.

HOUSTON (NN) - Tôi nhớ mùa Vu Lan năm 1964. Trong một buổi cắm trại họp mặt Hướng Đạo châu Gia Định, buổi sáng sau nghi thức tôn giáo, thầy Tuyên úy Phật giáo đã ưu ái phát cho mỗi hướng đạo sinh một tập sách mỏng màu hồng giấy “pelure” trang nhã với cánh hồng ngoài bìa do họa sĩ Hiếu Đệ trình bày. Tập “Bông Hồng Cài Áo” của thầy Nhất Hạnh. Sách tặng không cho các hướng đạo sinh nhân dịp “Vu Lan mùa báo hiếu”.
Phải công nhận tập sách mỏng có một sức hấp dẫn mãnh liệt đối với tuổi quấy phá ham chơi của tôi. Ngày hôm ấy, sau khi ngắm sơ qua cuốn sách, đợi màn đêm xuống, chờ các bạn cùng đội đã ngủ, tôi mới lặng lẽ mở tập sách mỏng 17 trang đọc một mình bên cạnh chiếc đèn bão. Tập sách đã thay đổi một phần cuộc đời nghịch ngợm và mở một cánh cửa vào con đường văn nghệ. Những bài học giáo dục khô khan ở trong trường không có ảnh hưởng mạnh bằng những dòng chữ êm đềm của thầy Nhất Hạnh. Ngay sau khi đọc hàng đầu của “Bông Hồng Cài Áo” đêm hôm ấy tôi đã nhớ ngay đến mẹ tôi: “Ý niệm về mẹ thường không thể tách rời ý niệm về tình thương!... còn trẻ thiếu tình thương thì không lớn lên được”, đến hai câu: “Mẹ già như chuối ba hương, như xôi nếp một như đường mía lau” thì đứa nhỏ trong tôi muốn “bỏ” trại Hướng Đạo đi về nhà ngay với mẹ, để thú tội với mẹ tôi rằng trong bao nhiêu năm tôi đã quên cái diễm phúc được có mẹ, mà “lớn đến cách mấy mà mất mẹ thì cũng như không lớn, cũng cảm thấy bơ vơ lạc lõng, cũng không hơn gì trẻ mồ côi”.
Đọc “Bông Hồng Cài Áo” đêm hôm ấy tôi mới hiểu tại sao buổi sáng toàn đội tôi có những bông hồng trên túi áo, hóa ra vì chúng tôi còn mẹ, phong tục ấy được Thầy “nhập cảng” từ phương Tây qua tục lệ ngày “Mothers Day” nhân những ngày Thầy còn ở Nhật. Nhìn lại đóa hoa hồng trên túi áo, tôi đã tự hứa sẽ cố gắng làm vui lòng mẹ như những lời Thầy đã khuyên “Mẹ là dòng suối, là tiếng hát...” Cho đến điệp khúc được lập lại trong cuối tập “Chiều nay khi đi học về, hoặc khi đi làm việc ở sở về, em hãy vào phòng mẹ với một nụ cười thật trầm lắng và thật bền. Em sẽ ngồi xuống bên mẹ, sẽ bắt mẹ dừng kim chỉ, mà đừng nói năng chi. Rồi em sẽ nhìn mẹ thật lâu, thật kỹ để trông thấy mẹ và để biết rằng mẹ đang sống và đang ngồi bên em. Cầm tay mẹ, em sẽ hỏi một câu ngắn làm mẹ chú ý. Em hỏi: “Mẹ ơi, mẹ có biết không?” Mẹ sẽ hơi ngạc nhiên và sẽ hỏi em, vừa cười vừa hỏi “biết gì” vẫn nhìn vào mắt mẹ, vẫn giữ nụ cười trầm lắng và bền em sẽ hỏi tiếp: “mẹ có biết là con thương mẹ không?” Câu hỏi sẽ không cần được trả lời. Cho dù người lớn ba bốn mươi tuổi ngươi cũng có thể hỏi một câu như thế, bởi vì ngươi là con của mẹ”. Tôi đã tự xếp “Bông Hồng Cài Áo” vào tủ sách văn chương cổ điển của văn học Việt Nam. Và như thế, mỗi năm mùa Vu Lan tôi đều đọc lại “Bông Hồng Cài Áo” như lần đầu tiên.
Có một hôm, sau khi vắng nhà vài ngày, bởi học phải có hành, tôi đã đến gần mẹ tôi và hỏi “Mẹ ơi, mẹ có biết không?” Mẹ tôi không ngạc nhiên vừa cười vừa hỏi: “Biết gì? Mẹ mới biết mày mới nghịch ngợm phá phách, chắc hàng xóm sắp mách mẹ phải không?” Hôm ấy thực tế cho tôi thấy văn chương đẹp không hẳn đi đôi với cuộc đời. Văn hóa và tập quán của nước khác không hẳn áp dụng được cho người Việt. Thầy Nhất Hạnh viết “Bông Hồng Cài Áo” ở Medford năm 1962, làm quen văn hóa Mỹ. Người Mỹ nói: “I love you” mỗi ngày, ôm nhau ngoài đường, hôn nhau trước mặt bạn bè tự nhiên như chuyện ăn uống. Người Việt kín đáo, ít khi biểu lộ tình cảm, cha mẹ con cái ít khi ôm nhau ngay cả trong nhà. Yêu nhau, người Việt không cần nói. Ít nói yêu nhau, người Việt cũng ít ly dị hơn người Mỹ. Nhà sư Nhất Hạnh thuyết giảng “Cuộc đời vô thường”, thi sĩ Nhất Hạnh lại khóc khi “sáng nay vừa thức dậy, nghe tin em gục ngã nơi chiến trường”. Nhà sư Nhất Hạnh dậy cuộc đời không nên “dính mắc” “sinh lão bệnh tử là tứ khổ”, nhà văn Nhất Hạnh khuyên: “Ta lạy Phật cầu cho cha mẹ sống lâu”.
Hồi nhỏ, mỗi mùa Vu Lan theo mẹ đi chùa, chùa nơi vắng vẻ, ở nơi “lánh người tìm cảnh”, buổi trưa nắng, hạnh phúc là trốn nắng dưới tà áo dài của mẹ trên đường đi đến chùa. Chùa tĩnh lặng, Phật đài nghiêm trang, trên chánh điện mặt Phật an bình, nhà sư trầm mặc, cửa chùa luôn rộng mở, ra vào không ai để ý, cúng Phật đi ra không cần lời chào, mỗi tiếng chuông là mỗi lời dạy. Mùi nhang, tiếng chuông, tượng Phật mời mọc mẹ tôi đến chùa mỗi ngày rằm, mỗi mùa chay. Giống như đa số những bà mẹ đầu thế kỷ 20, bà không được đi đến trường, chùa là nơi dậy bà những điều tốt trong đời. “Tâm tức Phật, Phật tức tâm”, những người đàn bà không học nhiều như bà lại có dễ một “Tâm chuyển hóa”. Bà năng đi chùa, vui vẻ giúp hàng xóm, tin thuyết nhân quả, nghiệp, duyên. Sợ địa ngục, bà tránh làm những điều xấu, ngày Vu Lan bà vẫn thường nhắc phải làm điều lành vì chính “Mục Liên cũng không cứu được Mẹ ở địa ngục.” Người nào tu người ấy được hưởng phúc, sáu người con trai của bà có lúc phải điên đầu về thuyết nhân quả và duyên nghiệp. “Tại sao nhà người ta giầu, nhà mình nghèo?” Tại kiếp trước người ta khéo tu còn mình vụng tu”, “Tại sao người ta làm nhiều điều ác mà vẫn chưa bị tội?” “Tại kiếp này người ta còn hưởng phước kiếp trước, kiếp sau người ta sẽ trả”. Câu trả lời của bà quanh quẩn kiếp trước kiếp sau và “để yên cho Trời Phật xử”.
Cả đời thờ chồng nuôi con, vui cái vui của con buồn cái buồn của chồng, vô tình mà bà thấm nhuần tâm nguyện của bậc giác ngộ: “Tôi gánh về phần tôi sức nặng của mọi đau khổ, tôi quyết định chịu đựng tất cả. Tôi sẽ không xoay lưng trốn tránh, không run rẩy. Tôi sẽ không vứt bỏ và cũng sẽ không từ chối.”
Có những mùa Vu Lan, những đứa con nghịch ngợm của bà đã cố tình không nhắc cho mẹ biết vì sợ bà bắt ăn chạy cả tuần hay tệ hơn sẽ bị nhịn đói vì: “Con có hiếu không nên để mẹ nấu cơm vào mùa báo hiếu!”.
Những năm sau này vào mỗi mùa Vu Lan tôi không đi chùa với me nữa. Tôi vào chùa thăm bà. Bà đã chấp nhận cái chết đến bất ngờ như Đức Phật đã chỉ cho bà Kisa Gotami: “chết là định nghiệp đồng đều cho mọi chúng sinh, nó không phải là nỗi buồn khổ của riêng bà.”
Mỗi năm mùa Vu Lan, tôi vào chùa thăm mẹ tôi. Những ngôi chùa ở Houston không được xây như ở thế kỷ thứ 12 trên bia chùa Linh Xứng năm 1126: “Hễ có chỗ nào núi cao cảnh đẹp là đều có mở mang lập chùa chiền”. Có những ngôi chùa thương mại hóa quá đáng nhìn sư và chùa “là những nỗi ngậm ngùi”. Chùa lớn, mặt các La Hán dữ dằn cầm đao thương đứng gác, đến chùa nhiều khi đứng ngoài sân còn cảm thấy tâm hồn yên tĩnh, mơ hồ lãng đãng dễ chịu hơn là vào chùa:
“Tôi lên chùa,
Đứng ngoài sân,
Mùa thu lá hái
Cho trăng rớt nằm”
Thơ Huệ Thu)
Những ngôi chùa ở Houston gợi tôi tưởng những ngôi chùa “Chùa ẩn non mây trắng” (thơ Quách Tấn) mờ mờ ảo ảo như chùa Võ Đang trên núi cao trong phim “Ngọa Hổ Tàng Long”, chùa ẩn trong rừng cây cạnh sông hồ “Cô tô thành ngoại Hàn Sơn Tự, Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền” (Thuyền ai đậu bến Cô Tô, nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San. Thơ Trương Kế), hay những ngôi chùa trong truyện Kim Dung, cao tăng giữ Tàng Kinh Các, Tiêu Viễn Sơn cao thủ võ lâm, Phật pháp cao diệu, những nhân vật võ lâm giang hồ như khỉ Tôn Ngộ Không nhảy không khỏi qua bàn tay Phật, những ngôi chùa yên tĩnh trong đó có những vị sư có thể đàm đạo trong im lặng, bỏ hẳn cuộc đời sau bao năm ngập lội:
“Giũ áo vào hư không,
Nghìn xưa phai nét chữ”
(Thơ Quách Tấn)
Những năm gần đây, mỗi mùa Vu Lan tôi vào chùa thăm mẹ, ở quanh bà bạn bè càng ngày càng đông. Trong truyện thần thoại, người Hi Lạp tin rằng linh hồn mỗi người chết sẽ biến thành một vì sao. Nhiều đêm tĩnh lặng, nhìn lên trời có lúc tôi ước sẽ cắt được một mảnh trời trong có những ngôi sao của cha mẹ và những người bạn thân để cất vào trong ngăn kỷ niệm.

Mùa Vu Lan 02
Việt Nguyên (24-8-02) (ngaynay)

Thiên lý
08/23/2005, 01:05 PM
Xin giới thiệu với qúy vị bài viết dưới đây mà đọc đến 2 lần Thiên Lý vẫn không ngăn được nước mắt, không biết tại bài viết cảm động hay tại Thiên Lý nhớ đến bà Nội của mình???

- Nội xuống kìa!
- Nội xuống! Ê! Nội xuống!
- Nội xuống!
Bầy con tôi reo mừng, chạy ùa ra ngõ. Ngoài đó, tiếng xích-lô máy cũng vừa tắt.
Trong buồng, vợ tôi gom vội mấy giấy tờ hồ sơ nhét vào xắc tay, nhìn tôi, im lặng. Tôi hiểu: Bà già xuống như vậy, làm sao giấu được chuyện tôi và hai đứa lớn sẽ vượt biên? Sáng sớm mai là đi rồi …
Tôi choàng tay ôm vai vợ tôi, siết nhẹ:
- Không sao đâu. Để anh lựa lúc nói chuyện đó với má.
Khi vợ chồng tôi bước ra hiên nhà thì bầy nhỏ cũng vừa vào tới sân. Đứa xách giỏ, đứa xách bao, đứa ôm gói, hí hửng vui mừng. Bởi vì mỗi lần bà nội chúng nó từ Gò Dầu xuống thăm đều có mang theo rất nhiều đồ ăn, bánh trái thịt thà… Những ngày sau đó, mâm cơm dưa muối thường ngày được thay thế bằng những món ăn do tay bà nội tụi nó nấu nướng nêm-nếm. Nhờ vậy, mấy bữa cơm có cái phong vị của ngày xưa thuở mà miền Nam chưa mất vào tay Việt Cộng… Mấy con tôi thường gọi đùa bà Nội bằng «Trưởng ban Hậu cần» hoặc chị «nuôi» và lâu lâu hay trông có bà nội xuống. Và lúc nào câu chào mừng của chúng nó cũng đều giống như nhau: «Nội mạnh hả Nội? Nội có đem gì xuống ăn không Nội?». Mới đầu, tôi nghe chướng tai, nhưng sống trong sự thiếu thốn triền miên của chế độ xã hội chủ nghĩa, lần hồi chính bản thân tôi cũng chỉ nghĩ đến miếng ăn thôi!
Con gái út tôi, mười một tuổi, một tay xách giỏ trầu của bà nội, một tay cặp-kè với bà nó đi vào như hai người bạn. Bà nó cưng nó nhứt nhà. Lúc nào xuống, cũng ngủ chung với nó để nghe nó kể chuyện. Nó thích bà nội ở điều đó và thường nói: «Ở nhà này chỉ có nội là thích nghe em kể chuyện thôi!». Thật ra, nó có lối kể chuyện không đầu không đuôi làm mấy anh mấy chị nó bực. Trái lại, bà nó cho đó là một thi vị của tuổi thơ, nên hay biểu nó kể chuyện cho bà nghe, để lâu lâu bà cười chảy nước mắt.
Tôi hỏi má tôi:
- Sao bữa nay xuống trưa vậy nội?
Vợ chồng tôi hay gọi má tôi bằng «nội» như các con. Nói theo tụi nó, riết rồi quen miệng. Lâu lâu, chúng tôi cũng có gọi bằng «má» nhưng sao vẫn không nghe đầm-ấm nồng-nàn bằng tiếng «nội» của các con. Hồi cha tôi còn sống, tụi nhỏ còn gọi rõ ra «ông nội» hay «bà nội». Cha tôi mất đi, ít lâu sau, chúng nó chỉ còn dùng có tiếng «nội» ngắn gọn để gọi bà của chúng nó, ngắn gọn nhưng âm thanh lại đầy trìu mến. Má tôi bước vào nhà, vừa cởi áo bà ba vừa trả lời:
- Thôi đi mầy ơi !… Mấy thằng công an ở Trảng Bàng mắc dịch! Tao lên xe hồi sáng chớ bộ. Tới trạm Trảng Bàng tụi nó xét thấy tao có đem một lon ghi-gô mỡ nước, vậy là bắt tao ở lại. Nói phải quấy bao nhiêu cũng không nghe. Cứ đề quyết là tao đi buôn lậu!
Rồi má tôi liệng cái áo lên thành ghế bàn ăn, nói mà tôi có cảm tưởng như bà đang phân trần ở Trảng Bàng:
- Đi buôn lậu cái gì mà chỉ có một lon mỡ nước? Ai đó nghĩ coi! Nội tiền xe đi xuống đi lên cũng hơn tiền lon mỡ rồi. Đi buôn kiểu gì mà ngu dại vậy hổng biết!
- Ủa? Rồi làm sao nội đi được? Bộ tụi nó giữ lại lon mỡ hả nội? Con gái lớn tôi chen vào.
- Dễ hôn! Nội đâu có để cho tụi nó «ăn» lon mỡ, con! Mỡ heo nội thắng đem xuống cho tụi con chớ bộ.
Ngừng lại, hớp một hớp nước mát mà con út vừa đem ra, xong bà kể tiếp, trong lúc các con tôi quây quần lại nghe:
- Cái rồi… cứ dan ca riết làm nội phát ghét, nội đổ lì, ngồi lại đó đợi tụi nó muốn giải đi đâu thì giải.
Nghe đến đây, bầy con tôi cười thích thú.Bởi vì tụi nó từng nghe ông nội tụi nó kể những chuyện «gan cùng mình» của bà nội hồi xưa khi cùng chồng vào khu kháng chiến, nhứt là giai đoạn trở về hoạt động ngầm ở thành phố sau này, trước Hiệp định Genève…
Con út nóng nảy giục:
- Rồi sao nữa nội?
- Cái rồi… lối mười một mười hai giờ gì đó nội hổng biết nữa. Ờ… cỡ đứng bóng à. Có thằng cán bộ đạp xe đi ngang. Nó đi qua khỏi rồi chớ, nhưng chắc nó nhìn thấy nội nên hoành xe lại
chào hỏi: «Ũa? Bà Tám đi đâu mà ngồi đó vậy?». Nội nhìn ra là thằng Kiểu con thầy giáo Chén ở Tha La, tụi bây không biết đâu. Kế nội kể hết đầu đuôi câu chuyện cho nó nghe. Nó cười ngất. Rồi nhờ nó can thiệp nên nội mới đi được đó. Lên xe thì đã trưa trờ rồi… Ti! Kiếm cây quạt cho nội, con!
Ti là tên con út. Cây quạt là miếng mo cau mà má tôi cắt, vanh thành hình rồi đem ép giữa hai tấm thớt dầy cho nó bớt cong. Má tôi đem từ Gò Dầu xuống bốn năm cây quạt mo phân phát cho mấy cháu, nói: «Nội thấy ba má tụi con gỡ bán hết quạt máy, nội mới làm thứ này đem xuống cho tụi con xài. Kệ nó, xấu xấu vậy chớ nó lâu rách».
Con út cầm quạt ra đứng cạnh nội quạt nhè nhẹ mà mặt mày tươi rói: Tối nay nó có «bạn» ngủ chung để kể chuyện! Vợ tôi đem áo bà ba của má tôi vào buồng mấy đứa con gái, từ trong đó hỏi vọng ra:
- Nội ăn gì chưa nội?
- Khỏi lo! Tao ăn rồi. Để tao têm miếng trầu rồi tao với mấy đứa nhỏ soạn đồ ra coi có hư bể gì không cái đã.
Rồi mấy bà cháu kéo nhau ra nhà sau. Tôi nhìn theo má tôi mà bỗng nghe lòng dào dạt. Từ bao nhiêu năm nay, trên người má tôi chẳng có gì thay đổi. Vẫn loại quần vải đen lưng gút, vẫn áo túi trắng ngắn tay có hai cái túi thật đặc biệt do má tôi tự cắt may: Miệng túi cao lên tới ngực chớ không nằm dưới eo hông như những áo túi thường thấy. Mấy đứa nhỏ hay đùa: «Cha… bộ sợ chúng nó móc túi hay sao mà nội làm túi sâu vậy nội?». Má tôi cười: «Ậy! Vậy chớ túi này chứa nhiều thứ quí lắm à bây». Những thứ gì không biết, chớ thấy má tôi còn cẩn thận ghim miệng túi lại bằng cây kim tây!
Tôi là con một của má tôi. Vậy mà sau khi cha tôi chết đem về chôn ở Gò Dầu, quê tôi, má tôi ở luôn trên đó. Nói là để chăm sóc mồ mả và vườn tược cây trái. Thật ra, tại vì má tôi không thích ở Sài Gòn, mặc dù rất thương mấy đứa cháu. Hồi còn ở chung với vợ chồng tôi để tránh pháo kích - dạo đó, Việt cộng hay bắn hỏa tiễn vào Gò Dầu về đêm –má tôi thường chắt lưỡi nói: «Thiệt… không biết cái xứ gì mà ăn rồi cứ đi ra đi vô, hổng làm gì ráo». Cái «xứ» Sàigòn, đối với má tôi, nó «tù chân tù tay» lắm, trong lúc ở Gò Dầu má tôi có nhà cửa đất đai rộng rãi, cây trái xum xuê, và dù đã cao niên, má tôi vẫn thường xuyên xách cuốc xách dao ra làm vườn, làm cỏ. Vả lại chung quanh đất má tôi, là nhà đất của các anh bà con bên ngoại của tôi, thành ra má tôi qua lại cũng gần. Các anh chị bà con tới lui thăm viếng giúp đỡ cũng dễ. Cho nên, dù ở một mình trên đó, má tôi vẫn không thấy cô đơn hiu quạnh. Lâu lâu nhớ bầy con tôi thì xuống chơi với chúng nó năm bảy bữa rồi về. Má tôi hay nói đùa là «đi đổi gió»!
Mấy năm sau ngày mất nước, cuộc sống của gia đình tôi càng ngày càng bẩn chật. Cũng như thiên hạ, vợ chồng tôi bán đồ đạc trong nhà lần lần để ăn. Má tôi biết như vậy nên xuống thăm mấy đứa nhỏ thường hơn, để mang «cái gì để ăn» cho chúng nó. Nhiều khi nằm đêm tôi ứa nước mắt mà nghĩ rằng lẽ ra tôi phải nuôi má tôi chớ, dù gì tôi cũng mới ngoài bốn mươi lăm còn má tôi thì tuổi đã về chiều. Vậy mà bây giờ, mặc dù là công nhân viên nhà nước xã hội chủ nghĩa với lương kỹ sư «bậc hai trên sáu», tôi đã không nuôi nổi má tôi, mà trái lại chính má tôi phải cắt-ca cắt-củm mang đồ ăn xuống tiếp tế cho gia đình tôi, giống như má tôi mớm cơm đút cháo cho tôi thuở tôi còn thơ ấu! Thật là một «cuộc đổi đời» (Việt Cộng thường rêu rao: «Cách mạng là một cuộc đổi đời»). Nhưng cuộc đổi đời của mẹ con tôi thì thật là vừa chua cay vừa hài hước!
Lắm khi tôi tự hỏi: «Rồi sẽ đi đến đâu ?». Bấy giờ tôi đã trở thành «Trưởng ban Văn nghệ» của cơ quan, một lối đi «ngang» mà nhờ đó tôi còn được ở lại với sở cũ. Bởi vì mấy chục năm kinh nghiệm trong nghề nghiệp chánh của tôi, nhà nước cách mạng cho là vô dụng, không «đạt yêu cầu». Thành ra, tối ngày tôi chỉ lo cho đoàn «nghiệp dư» của cơ quan tập dượt hát múa. Thật là hề. Còn về phần các con tôi, tương lai gần nhứt là đi đánh giặc Kampuchia, tương lai xa hơn thì thật là mù mịt!
Trong lúc tôi không có lối thoát thì một người bạn đề nghị giúp chúng tôi vượt biên, nhưng chỉ đi được có ba người. Vậy là chúng tôi lấy quyết định cho hai đứa lớn đi theo tôi. Chuyện này, chúng tôi giấu má tôi và mấy đứa nhỏ, kể cả hai đứa đã được chọn. Phần vì sợ đổ bể, phần vì sợ má tôi lo. Ai chẳng biết vượt biên là một sự liều lĩnh vô cùng. Rủi đi không thoát là bị tù đày chẳng biết ở đâu, may mà đi thoát cũng chưa chắt là sẽ đến bờ đến bến. Người ta nói trong số những người đi thoát, hai phần ba bị mất tích luôn. Thành ra, «vượt biên» là đi vào miền vô định…
Theo chương trình thì sáng sớm ngày rằm cha con tôi đi xe đò xuống Cần Thơ rồi từ đó có người rước qua sông Ông Đốc để xuất hành ngay trong đêm đó. Tôi thắc mắc hỏi: «Tổ chức gì mà đi chui nhằm ngày rằm cha nội?». Bạn tôi cười: «Ai cũng nghĩ như anh hết. Tụi Việt Cộng cũng vậy. Cho nên hễ có trăng sáng là tụi nó nằm nhà nhậu, không đi tuần đi rỏn gì hết. Hiểu chưa?»
Bữa nay là mười bốn ta nhằm ngày thứ bảy, vợ chồng tôi định không nói gì hết, chờ sáng sớm mai gọi hai đứa lớn dậy đi với tôi xuống Cần Thơ. Như vậy là chúng nó sẽ hiểu. Và như vậy là kín đáo nhứt, an toàn nhứt. Rồi sau đó vợ tôi sẽ liệu cách nhắn tin về cho má tôi hay. Chừng đó thì «sự đã rồi»…
Bây giờ thì má tôi đã có mặt ở đây, giấu cũng không được. Đành phải nói cho má tôi biết. Nhưng nói lúc nào đây? Và nói làm sao đây? Liệu má tôi có biết cho rằng tôi không còn con đường nào khác? Liệu má tôi có chấp nhận cho tôi không giữ tròn đạo hiếu chỉ vì lo tương lai cho các con? Liệu má tôi… liệu má tôi… Tôi phân vân tự đặt nhiều câu hỏi để chẳng thấy ở đâu câu trả lời…
Tôi ngồi xuống thềm nhà, nhìn ra sân. Ở đó, bờ cỏ lá gừng xanh mướt ngày xưa đã bị chúng tôi đào lên đắáp thành luống để trồng chút đỉnh khoai mì, một ít khoai lang, vài hàng bắp. Không có bao nhiêu nhưng vẫn phải có. Cho nó giống với người ta, bởi vì nhà nào cũng phải «tăng gia» cho đúng «đường lối của nhà nước». Thật ra, trồng trọt bao nhiêu đó, nếu có… trúng mùa đi nữa, thì cũng không đủ cho bầy con tôi «nhét kẽ răng»! Vậy mà tên công an phường, trong một dịp ghé thăm, đã tấm tắc khen: «Anh chị công tác tốt đấy chứ. Tăng gia khá nhất khu phố đấy! Các cháu tha hồ mà ăn». Anh ta không biết rằng mấy nhà hàng xóm của tôi, muốn «tăng gia», họ đã phải đào cả sân xi-măng hoặc sân lót gạch, thì lấy gì để «làm tốt» ?
Khi tôi trở vào nhà thì con út đang gãi lưng cho nội. Nó vén áo túi nội lên đến vai, để lộ cái lưng gầy nhom, cong cong và hai cái vú teo nhách. Tôi tự hỏi: «Lạ quá! Chỉ có mình mình bú hồi đó mà sao làm teo vú nội đến như vậy được?». Rồi tôi bồi hồi cảm động khi nghĩ rằng chính hai cái núm đen đó đã nuôi tôi lớn lên với dòng sữa ấm, vậy mà chẳng bao giờ nghe má tôi kể lể công lao. Tôi cảm thấy thương má tôi vô cùng. Tôi len lén từ phía sau lòn tay măn vú má tôi một cái. Má tôi giựt mình, rút cổ lại:
- Đừng! Nhột! Thằng chơi dại mậy!
Rồi má tôi cười văng cốt trầu. Con Ti la lên :
- Má ơi! Coi ba măn vú nội nè!
Tôi cười hả hê thích thú. Trong khoảnh khắc thật ngắn ngủi đó, tôi bắt gặp lại những rung động nhẹ nhàng sung sướng khi tôi măn vú mẹ thuở tôi mới lên ba lên năm… Và cũng trong khoảnh khắc đó, tôi đã quên mất rằng má tôi đã gần tám mươi mà tôi thì trên đầu đã hai thứ tóc! Và cũng quên mất rằng từ ngày mai trở đi, có thể tôi sẽ không bao giờ còn gạêp lại má tôi nữa, để măn vú khi bất chợt thấy má tôi nhờ cháu nội gãi lưng như hôm nay…
Chiều hôm đó, khi ngồi vào bàn ăn, mắt bầy con tôi sáng rỡ. Bữa cơm thật tươm tất, đầy đủ món ăn như khi xưa. Có gà nấu canh chua lá giang, một loại dây leo có vị chua thật ngọt ngào mà hình như chỉ ở miệt quê tôi mới có. Món này, bà nội mấy đứa nhỏ nấu thật đậm đà. Bà thường nói: «Canh chua phải nêm cho cứng cứng nó mới ngon». Mà thật vậy. Tô canh nóng hổi, bốc lên mùi thơm đặc biệt của thịt gà lẫn với mùi chua ngọt của lá giang, mùi mặn đằm thấm của nước mắm và mùi tiêu mùi hành… Húp vào một miếng canh chua, phải nghe đầu lưỡi ngây ngây cứng cứng và chân tóc trên đầu tăng tăng, như vậy mới đúng. Nằm cạnh tô canh chua là tộ cá kèo kho tiêu mà khi mang đặt lên bàn ăn nó hãy còn sôi kêu lụp-bụp, bốc mùi thơm phức vừa mặn vừa nồng cay lại vừa béo, bởi vì trong cá kho có tóp mỡ và trước khi bắc xuống, bà nội có cho vào một muỗng mỡ nước gọi là «để cho nó dằn»! Đặc biệt, khi làm cá kèo, bà không mổ bụng cá, thành ra khi cắn vào đó, mật cá bể ra đăng đắng nhẹ nhàng làm tăng vị bùi của miếng cá lên gấp bội. Ngoài hai món chánh ra, còn một dĩa măng luộc, tuy là một món phụ nhưng cũng không kém phần hấp dẫn nhờ ở chỗ sau khi luộc rồi măng được chiên lại với tỏi nên ngả màu vàng sậm thật là đậm đà…

Sau khi và vài miếng, vợ tôi nhìn tôi rồi rớt nước mắt. Nội hỏi:
- Bộ cay hả?
Vợ tôi “dạ”, tiếng “dạ” nằm đâu trong cổ. Rồi buông đũa, mếu máo chạy ra nhà sau. Tôi hiểu. Bữa cơm này là bữa cơm cuối cùng, bữa cơm mà cả gia đình còn sum hợïp bên nhau. Rồi sẽ không còn bữa cơm nào như vầy nữa. Gia đình sẽ chia hai. Những người đi, rồi sẽ sống hay chết? Còn những người ở lại, ai biết sẽ còn tan tác đến đâu ? Tôi làm thinh, cắm đầu ăn lia lịa như mình đang đói lắm. Thật ra, tôi đang cần nuốt thật nhanh thật nhiều, mỗi một miếng nuốt phải thật đầy cổ họng… để đè xuống, nén xuống một cái gì đang trạo trực từ dưới dâng lên. Mắt tôi nhìn đồ ăn, nhìn chén cơm, nhìn đôi đũa,để khỏi phải nhìn má tôi hay nhìn bầy con, ngần đó khuôn mặt thân yêu mà có thể tôi sẽ vĩnh viễn không còn thấy lại nữa. Trong đầu tôi chợt hiện ra hình ảnh người đang hấp hối, trong giây phút cuối cùng lưỡi đã cứng đơ mắt đã dại, vậy mà họ vẫn nhìn nuối những người thương để rồi chảy nước mắt trước khi tắt thở. Rồi tôi thấy tôi cũng giống như người đang hấp hối, không phải chết ở thể xác mà là chết ở tâm hồn, cũng một lần vĩnh biệt, và cũng sẽ bước vào một cõi u-minh nào đó, một cõi thật mơ hồ mà mình không hình dung được, không chủ động được!
Má tôi gắp cho tôi một cái bụng cá to bằng ngón tay cái:
- Nè! Ngon lắm! Ăn đi! Để rồi mai mốt hổng chắc gì có mà ăn!
Ý má tôi muốn nói rằng ở với Việt Cộng riết rồi đến loại cá kèo cũng sẽ khan hiếm như các loại cá khác. Nhưng trong trường hợp của tôi, lời má tôi nói lại có ý nghĩa của lời tống biệt. Nó giống như: ”Má cho con ăn lần này lần cuối. Ăn đi con! Ăn cho ngon đi con!”. Tôi ngậm miếng cá mà nước mắt trào ra, không kềm lại được. Nếu không có mặt bầy con tôi, có lẽ tôi đã cầm lấy bàn tay của má tôi mà khóc, khóc thật tự do, khóc thật lớn, để vơi bớt nỗi thống khổ đã dằn vặt tôi từ bao nhiêu lâu nay… Đằng này, tôi không làm như vậy được. Cho nên tôi trạo trực nuốt miếng cá mà cảm thấy như nó thật đầy xương xóc!
Má tôi nhìn tôi ngạc nhiên:
- Ủa? Mày cũng bị cay nữa sao?
Rồi bà chồm tới nhìn vào tộ cá. Các con tôi nhao nhao lên:
- Đâu có cay, nội.
- Con ăn đâu thấy cay. Hai có nghe cay hôn Hai?
- Chắc ba má bị gì chớ cay đâu mà cay.
- Con ăn được mà nội. Có cay đâu ?
Các con tôi đâu có biết rằng cái cay của tôi không nằm trên đầu lưỡi, mà nó nằm trong đáy lòng. Cái cay đó cũng bắt trào nước mắt!
Tôi đặt chuyện, nói tránh đi:
- Hổm rày nóng trong mình, lưỡi của ba bị lở, nên ăn cái gì mặn nó rát.
Rồi tôi nhai thật chậm để có thời gian cho sự xúc động lắng xuống. Miếng cơm trong miệng nghe như là sạng sỏi, nuốt không trôi…
Sau bữa cơm, bà cháu kéo hết vào buồng tụi con gái để chuyện trò. Thỉnh thoảng nghe cười vang trong đó. Chen trong tiếng cười trong trẻo của các con, có tiếng cười khọt khọt của nội, tiếng cười mà miếng trầu đang nhai kềm lại trong cổ họng, vì sợ văng cốt trầu. Những thanh âm đó toát ra một sự vô tư, nhưng lại nghe đầy hạnh phúc. Lúc này, có nên nói chuyện vượt biên với má tôi hay không? Tội nghiệp bầy con, tội nghiệp nội… Ngoài phòng khách, tôi đi tới đi lui suy nghĩ đắn đo. Vợ tôi còn lục đục sau bếp, và cho dù vợ tôi có mặt ở đây cũng không giúp gì tôi được với tâm sự rối bời như mớ bòng bong. Tôi bèn vào buồng ngủ, trải chiếu dưới gạch -từ lâu rồi, vợ chồng tôi không còn giường tủ gì hết- rồi tắt đèn nằm trong bóng tối, gác tay lên trán mà thở dài…
Thời gian đi qua… Trăng đã lên nên tôi thấy cửa sổ được vẽ những lằn ngang song song trắng đục. Trong phòng bóng tối cũng lợt đi. Không còn nghe tiếng cười nói ở phòng bên và tôi nghĩ chắc đêm nay vợ tôi ngủ với hai đứa lớn ngoài phòng khách, để trằn trọc suốt đêm chờ sáng.
Bỗng cửa phòng tôi nhẹ mở, vừa đủ để tôi nhìn thấy bóng má tôi lom khom hướng vào trong hỏi nhỏ:
- Ba con Ti ngủ chưa vậy?
Tôi hơi ngạc nhiên, nhưng cũng trả lời nho nhỏ vừa đủ nghe:
- Dạ chưa, má.

Má tôi bước vào đóng cửa lại, rồi mò mẫm ngồi xuống cạnh tôi, tay cầm quạt mo quạt nhè nhẹ lên mình tôi, nói:
- Coi bộ nực hả mậy?
- Dạ. Nhưng rồi riết cũng quen, má à.
Tôi nói như vậy mà trong đầu nhớ lại hình ảnh tôi và thằng con trai hè hụi tháo gỡ mấy cây quạt trần để mang đi bán. Im lặng một lúc. Tay má tôi vẫõn quạt đều. Rồi má tôi hỏi:
- Tụi bây còn gì để bán nữa hông?
- Dạ…
Tôi không biết trả lời làm sao nữa. Chiếc xe hơi bây giờ chỉ còn lại cái sườn, không ai chịu chở đi. Trong nhà bây giờ chỉ còn bộ bàn ăn, cái tủ thờ nhỏ và bộ xa-lông mây “sứt căm gãy gọng”. Ngoài ra, trên tường có chân dung “Bác Hồ” dệt bằng lụa và nhiều “bằng khen”, ”bằng lao động tiên tiến”… những thứ mà nhà nào cũng có hết, cho chưa chắc gì có ai thèm lấy! Bỗng tôi nhớ có một hôm tôi nói với bầy con tôi: ”Ba tự hào đã giữ tròn liêm sỉ từ mấy chục năm nay. Bây giờ, đổi lấy cái gì ăn cũng không được, đem ra chợ trời bán cũng chẳng có ai mua. Sao ba thấy thương các con và tội cho ba quá!”. Lúc đó, tôi tưởng tượng thấy tôi đứng ở chợ trời, dưới chân có tấm bảng đề “Bán cái liêm sỉ, loại chánh cống. Bảo đảm đã hai mươi năm chưa sứt mẻ”. Thật là khùng nhưng cũng thật là chua chát!
Nghe tôi “dạ” rồi nín luôn, má tôi hiểu, nên nói:
- Rồi mầy phải tính làm sao chớ chẳng lẽ cứ như vầy hoài à? Tao thấy bầy tụi bây càng ngày càng trõm lơ, còn mầy thì cứ làm thinh tao rầu hết sức.
Má tôi ngừng một chút, có lẽ để lấy một quyết định:
- Tao xuống kỳ này, cốt ý là để nói hết cho mầy nghe. Tao già rồi, mai mốt cũng theo ông theo bà. Mày đừng lo cho tao. Lo cho bầy con mầy kìa. Chớ đừng vì tao mà bắt mấy đứa nhỏ phải hy sinh tương lai của tụi nó. Mầy liệu mà đi, đi! Kiếm đường mà kéo bầy con mầy đi, đi! Ở đây riết rồi chết cả chùm. Không chết trận trên Miên thì cũng chết khùng chết đói. Thà tụi bây đi để tao còn thấy chút đỉnh gì hy vọng mà sống thêm vài năm nữa. Mày hiểu hôn?
Nghe má tôi nói, tôi rớt nước mắt. Chuyện mà bao lâu nay tôi không dám nói với má tôi thì bây giờ chính má tôi lại mở ngỏ khai nguồn. Và tôi thật xúc động với hình ảnh bà mẹ già phải đẩy đứa con duy nhứt đi vượt biên để vui mà sống với ít nhiều hy vọng! Thật là ngược đời: Có người mẹ nào lại muốn xa con? Chỉ có ở chế độ xã hội chủ nghĩa mới xảy ra những chuyện “đổi đời” như vậy!
Tôi nắm bàn tay không cầm quạt của má tôi, lắc nhẹ:
- Má à! Lâu nay con giấu má. Bây giờ má nói, con mới nói. Sáng sớm mai này, con và hai đứa lớn sẽ xuống Cần Thơ để vượt biên.
Tôi nghe tiếng cây quạt mo rơi xuống gạch. Rồi yên lặng. Một lúc lâu sau, má tôi mới nói:
- Vậy hà…
Tôi nghe có cái gì nghẹn ngang trong cổ. Tôi nuốt xuống mấy lần, rồi cố gắng nói:
- Con đi không biết sống hay chết. Con gởi má vợ con và ba đứa nhỏ, có bề gì xin má thương tụi nó…
Nói tới đó, tôi nghẹn ngào rồi òa lên khóc ngất. Tôi nghe có tiếng quạt phe phẩy lại, nhanh nhanh, và bàn tay má tôi vuốt tóc tôi liên tục giống như hồi nhỏ má tôi vỗ về tôi để tôi nín khóc.
Một lúc sau, má tôi nói:
- Thôi ngủ đi, để mai còn dậy sớm.
Rồi bước ra đóng nhẹ cửa lại. Sau đó, có tiếng chẹt diêm quẹt rồi một ánh sáng vàng vọt rung rinh lòn vào khuôn cửa, tôi biết má tôi vừa thắp đèn cầy trên bàn thờ. Tiếp theo là mùi khói nhang, chắc bà nội mấy đứa nhỏ đang cầu nguyện ngoài đó.
Tôi thở dài, quay mặt vào vách, nhắm mắt mà nghe chơi vơi, giống như đang nằm trong một cơn mộng…
Năm giờ sáng hôm sau, má tôi kêu tôi dậy đi. Hai con tôi đã sẵn sàng, mỗi đứa một túi nhỏ quần áo. Chúng nó không có vẻ gì ngạc nhiên hay xúc động hết. Có lẽ mẹ tụi nó đã gọi dậy từ ba bốn giờ sáng để giảng giải và chuẩn bị tinh thần. Riêng tôi, thật là trầm tĩnh. Nước mắt đêm qua đã giúp tôi lấy lại quân bình. Thật là mầu nhiệm!
Tôi vào buồng hôn nhẹ mấy đứa nhỏ đang ngủ say, xong ôm vợ tôi, ôm má tôi. Hai người thật là can đảm, không mảy may bịn rịn.

Tôi chỉ nói có mấy tiếng:
- Con đi nghe má!
-Anh đi nghe em!
Rồi bước ra khỏi cổng.
* *
*
Lần đó, tôi đi thoát.
Rồi phải ba bốn năm sau, tôi mới chạy chọt được cho vợ con tôi rời Việt Nam sang sum hợp với tôi ở Pháp. Má tôi ở lại một mình.
Mấy ngày đầu gặp lại nhau, vợ con tôi kể chuyện “bên nhà” cho tôi nghe, hết chuyện này bắt qua chuyện nọ. Bà Nội được nhắc tới nhiều nhứt và những chuyện về bà nội được kể đi kể lại thường nhứt.
Tụi nó kể:
“Ba đi rồi, mấy bữa sau cơ quan chỗ ba làm việc cho người đến kiếm. Tụi con trốn trong buồng, để một mình nội ra. Nội nói rằng nội nhờ ba về Tây Ninh rước ông Tư xuống bởi vì trên đó đang bị Cao Miên pháo kích tơi bời, tới nay sao không thấy tin tức gì hết, không biết ba còn sống hay chết nữa. Nói rồi, nội khóc thật muồi mẫn làm mấy cán bộ trong cơ quan tin thiệt, họ an ủi nội mấy câu rồi từ đó không thấy trở lại nữa”.
Rồi tụi nó kết câu chuyện với giọng đầy thán phục:“Nội hay thiệt !”.
Nghe kể chuyện ,tôi bồi hồi xúc động.Tôi biết lúc đó má tôi khóc thiệt chớ không phải giả khóc như các con tôi nghĩ.Bởi vì,trong hai trường hợp dù sự việc xảy ra có khác nhau ,nhưng hoàn cảnh sau đó vẫn giống nhau y hệt. “Ba con Ti đi không biết sống hay chết” vẫn là câu hỏi lớn đè nặng tâm tư của má tôi.Bề ngoài má tôi làm ra vẻ bình tĩnh để an lòng con dâu và cháu nội,nhưng là một cái vỏ mỏng manh mà trong khi kể chuyện cho các cán bộ,nó đã có dịp bể tung ra cho ưu tư dâng đầy nước mắt…
“Rồi sau đó -tụi con tôi kể tiếp- nội ở lại nhà mình để chờ tin tức và cũng để ra tiếp chuyện hàng xóm và chánh quyền địa phương, chớ má thì ngày nào cũng đi chùa, còn tụi con nội sợ nói hé ra là mang họa cả đám. Lâu lâu, nội về Gò Dầu bán đồ rồi mua thịt thà đem xuống tiếp tế cho tụi con. Thấy nội già mà lên lên xuống xuống xe cộ cực nhọc quá, tụi con có can ngăn nhưng nội nói nội còn mạnh lắm, nội còn sống tới ngày con Ti lấy chồng nội mới chịu theo ông theo bà!”.
Tôi biết: Má tôi là cây cau già - quá già, quá cỗi - nhưng vẫn cố bám lấy đất chỉ vì trên thân cây còn mấy dây trầu… Hình ảnh đó bỗng làm tôi ứa nước mắt. Thương má tôi và nhớ cả quê hương. Cái quê hương tuyệt đẹp của tôi mà Việt Cộng đã cướp mất. Cái quê hương mà trên đó tôi không còn quyền sống như ý mình muốn, phát biểu những gì mình nghĩ, ca tụng những gì mình thích. Ở đó, ở quê hương tôi, tôi còn bà mẹ già, bà mẹ tám mươi đã cắt ruột đuổi con đi, bỏ quê hương mà đi, để bà còn chút gì hy vọng sống thêm vài ba năm nữa! Bây giờ, vợ con tôi cũng đã đi hết. Má tôi còn lại một mình. Thân cây cau giờ đã nhẵn dây trầu, thêm tuổi đời một nắng hai mưa. Con biết! Má ơi! Con biết: Cây cau già bây giờ đang nhớ thắt thẻo mấy dây trầu non…
Theo lời các con tôi kể lại, hôm tiếp được điện tín của bạn tôi ở Pháp đánh về báo tin tôi và hai đứa lớn đã tới Mã Lai bình yên, cả nhà tưng bừng như hội. Tụi nó nói: “Nội vội vàng vào mặc áo rồi quì trước bàn thờ Phật gõ chuông liên hồi. Đã giấu không cho ai biết mà nội gõ chuông giống như báo tin vui cho hàng xóm !”.
“Mấy hôm sau, bỗng có công-an phường lại nhà. Công an đến nhà là lúc nào cũng có chuyện gì đó cho nên nội có hơi lo. Thấy dạng tên công an ngoài ngõ, trong này nội niệm Phật để tự trấn an. Sau đó, nội cũng kể chuyện ba về Tây Ninh rồi nội kết rằng ba đã chết ở trên đó. Rồi nội khóc…”.
Mấy con tôi đâu biết rằng đối với má tôi, dù tôi còn sống, sống mà vĩnh viễn không bao giờ thấy lại nhau nữa thì cũng giống như là tôi đã chết.
“Sau đó nội than không biết rồi sẽ ở với ai, rồi ai sẽ nuôi nội, bởi vì má buồn rầu đã bỏ nhà đi mất. Nghe vậy, tên công an vội vàng an ủi:
- Bà cụ đừng có lo! Rồi chúng cháu sẽ đem bà cụ về ở với chúng cháu. Cứ yên chí!”. Sau khi tên công an ra về, nội vào buồng kể lại chuyện đó cho tụi con nghe, rồi nói: “Nội nghe thằng công an đòi đưa nội về nuôi mà nội muốn xỉu luôn! Không phải vì cảm động mà vì sợ! Ở với tụi nó, thà chết sướng hơn!”.

Vợ con tôi được đi chánh thức nên hôm ra đi bạn bè thân quyến đến chia tay đầy nhà. Lúc mẹ con nó quì xuống lạy má tôi để giã biệt -hay đúng ra để vĩnh biệt- tất cả mọi người đều khóc. Đó là lần cuối cùng mà má tôi khóc với bầy cháu nội. Và tôi nghĩ rằng má tôi khóc mà không cần tìm hiểu tại sao mình khóc, chỉ thấy cần khóc cho nó hả, chỉ thấy càng khóc thân thể gầy còm càng nhẹ đi, làm như thịt da tan ra thành nước mắt, thứ nước thật nhiệm mầu mà Trời ban cho con người để nói lên tiếng nói đầy câm lặng.
Bầy bạn học của các con tôi đứng thành hai hàng dài, chuyền nước mắt cho nhau để tiễn đưa tụi nó ra xe ngoài ngõ. Tôi hình dung thấy những cặp mắt thơ ngây mọng đỏ nhìn các con tôi đi mà nửa hồn tê-dại, không biết thương cho bạn mình đi hay thương cho thân phận mình, người ở lại với đầy chua xót…
Mấy con tôi nói: ”Nội không theo ra phi trường. Nội ở nhà để gõ chuông cầu nguyện”.
* *
*
Tôi làm việc ở Côte d'Ivoire (Phi Châu), cách xa vợ con bằng một lục địa, và cách xa mẹ tôi bằng nửa quả địa cầu. Những lúc buồn trống vắng, tôi hay ra một bãi hoang gần sở làm để ngồi nhìn biển cả. Mặt nước vuốt ve chân cát, tiếng sóng nhẹ nghe như thì thào… những thứ đó làm như chỉ dành cho riêng tôi. Tự nhiên tôi cảm thấy như được vỗ về an ủi. Những lúc đó, sao tôi nhớ má tôi vô cùng. Trên đời này má tôi là người duy nhứt an ủi tôi từ thuở tôi còn ấu thơ cho đến khi trên đầu tôi đã hai thứ tóc. Ngay đến đêm cuối cùng trên quê hương, cũng chính trong vòng tay khẳng khiu của má tôi mà tôi khóc, khi gởi vợ gởi con… Lúc nào tôi cũng tìm thấy ở má tôi một tình thương thật rộng rãi bao la, thật vô cùng sâu đậm, giống như đại dương mà tôi đang nhìn trước mặt.
Bây giờ tôi hiểu tại sao tôi hay ra ngồi đây để nhìn biển cả…

Tiểu Tử

bilu
08/26/2005, 07:08 AM
Sân Hận và Nhẫn Nhục
Nguyễn Đức Lâm, Win Visions, Aug 25, 2005

Tôi còn nhớ đã đọc câu chuyện sau đây về cuộc đời Đức Phật do Đạo sư OSHO kể lại trong một bài thuyết giảng của Ông về thói quen phản ứng của con người:
Một hôm Đức Phật đang thuyết pháp thì có người đến và nhổ vào mặt Ngái, Ngài lau mặt và hỏi người ấy: “Còn gì nữa không? Ông còn gì để nói không?” Người đó vô cùng sửng sốt vì không thể ngờ đựơc có một người như thế, bị mình nhổ vào mặt và vẫn bình tĩnh hỏi lại: “Còn gì nữa không?. Ông ta không hề kinh nghiệm như thế bao giờ. Thường thì người bị chửi lồng lộn lên và chửi lại. Hoặc nếu là người nhát gan hay yếu đuối thì người ấy sẽ mỉm cười và năn nỉ. Nhưng Đức Phật khác hẳn. Ngài không tức giận, không cảm thấy bị sỉ nhục, mà cũng không hèn nhát. Nhưng Ngài hỏi một cách thản nhiên, “Còn gì nữa không?” Đó không phải là một phản ứng.

Nhưng các đệ tử của Ngài thì nổi cơn điên. Họ phản ứng lại. Đại đệ tử của Ngài là Ananda nói, “Tên kia hỗn láo thật, và chúng con chịu hết nổi rồi. Chúng con không muốn đếm xỉa đến giáo huấn của Thầy nữa, và chúng con muốn dạy cho hắn một bài học là không phải hắn muốn làm gì thì làm. Hắn cần phải bị trừng trị. Bằng không thì ai cũng có thể làm được như thế.”

Đức Phật nói, “Đừng nói nữa. Hắn có nhục mạ ta đâu! Nhưng con đã nhục mạ ta. Nó từ xa tới, hoàn toàn xa lạ. Chắc là hắn nghe nhiều người đàm tiếu về ta rằng, “Ta là một người vô thần, một người nguy hiểm đã đầu độc đầu óc con người, một tên phản động, đồi phong bại tục.” Có lẽ vậy nên hắn mới có ý tưởng không tốt về ta. Hắn không nhổ vào mặt ta, mà nhổ vào cái ý tưởng ấy, nhổ vào cái ý tưởng của hắn về ta bởi vì hắn có biết rõ về ta đâu nên sao hắn có thể nhổ vào ta được?”

“Nếu suy nghĩ cho kỹ”, Đức Phật nói, “thì hắn đã nhổ vào chính tâm trí của hắn. Ta không dự phần trong đó, và ta nhận thấy rằng con người đáng thương ấy còn muốn nói thêm nữa, bởi vì đó là một cách để nói - nhổ là một cách để nói gì đó. Có nhiều lúc ta cảm thấy ngôn ngữ không thích hợp - chẳng hạn trong tình yêu, khi nóng giận, khi hận thù, khi cầu nguyện. Có những khoảnh khắc nóng bỏng mà trong đó ngôn ngữ bất lực. Lúc đó chỉ có hành động mới thích ứng. Khi yêu điên cuồng ta hôn, hoặc ôm chặt lấy người yêu, thì ta làm gì thế? Ta muốn nói gì đó. Khi tức giận, khi giận điên lên được thì ta đánh, ta nhổ vào mặt người khác. Ta muốn nói gì đó qua hành động ấy. Ta hiểu rõ hắn lắm. Có lẽ hắn còn muốn nói thêm nữa nên ta mới hỏi, “Còn gì nữa không?”

Người ấy chưa hết kinh ngạc thì Đức Phật nói với chúng đệ tử rằng, “Ta giận các ngươi hơn. Các ngươi biết rõ về ta, đã ở với ta nhiều năm mà vẫn phản ứng như thế.”

Bối rối và lung túng, người ấy trở về, trằn trọc cả đêm. Khi đã gặp một vị phật thì bạn rất khó mà ngủ yên được như từ trước. Ông ta bị dằn vặt về chuyện ấy. Ông ta không hiểu được chuyện gì đã xảy ra. Ông ta run rẩy mồ hôi dầm dìa. Chưa bao giờ ông ta gặp một người lạ lùng như thế; ông ta bị khủng hoảng, thần trí bị đảo lộn hết trơn.

Sáng hôm sau ông ta trở lại và qùy xuống dưới chân Đức Phật. Ngài hỏi ông ta, “Ông còn gì để nói nữa không?. Ông đã nói những gì mà ngôn ngữ không thể nói được. Khi đến quỳ dưới chân Ngài ông đã nói những điều mà ngôn ngữ bình thường không thể diễn tả được, những cái mà ngôn ngữ rất nghèo nàn; ông không thể nói được những gì ông muốn nói”. Đức Phật quay lại nói với Ananda, “Này Ananda. Ông ấy lại đến. Ông ấy là người có nhiều cảm xúc. Ông ấy không nói gì nhưng đã nói tất cả.”

Người ấy nhìn Đức Phật và nói, “Xin Ngài hãy tha thứ cho con. Xin tha lỗi cho những chuyện con đã làm ngày hôm qua.”

Đức Phật nói, “Tha thứ? Nhưng ta không phải là người mà ông nhổ vào mặt ngày hôm qua. Bao nhiêu là nước sông Hằng đã chảy qua; nó không phải là sông Hằng ngày hôm qua. Mỗi người là một dòng sông. Người mà ông đã nhổ vào mặt không còn nữa. Ta trông giống người ấy, nhưng ta đã khác rồi; nhiều chuyện đã xảy ra trong hai mươi bốn giờ qua! Nhiều nước đã chảy qua cầu. Ta không thể tha thứ cho ông bởi vì ta chẳng oán hờn gì ông cả.”

“Và ông là người mới đến. Ta có thể thấy được rằng ông không phải là người đã đến đây hôm qua, bởi vì người ấy vô cùng giận dữ. Ông ta đã nhổ vào mặt ta. Còn ông thì qùy dưới chân ta. Sao ông có thể là người ấy được! Ông không phải là người đó. Vậy hãy quên đi.Hai người ấy - người bị nhổ và người nhổ - cả hai đã không còn nữa. Hãy đến gần dây. Hãy nói về chuyện khác.” (1)

Câu chuyện kể trên đối với tôi thật là thích thú và khiến tôi suy nghĩ rất nhiều. Tôi đã kể lại chuyện này cho những người thân trong gia đình và bằng hữu nghe trong những khi mạn đàm về cuộc sống vì câu chuyện này đã cho tôi thấy một số điều thật là ý nghĩa:

Điều thứ nhất là qua cuộc đối thoại giữa Đức Phật và người đàn ông kia, Ngài đã vạch ra cho ông ta thấy tính cách vô thường và sinh động của cuộc đời: “Bao nhiêu là nước sông Hằng đã chảy qua; nó không phải là sông Hằng ngày hôm qua. Mỗi người là một dòng sông.. nhiều chuyện đã xảy ra trong hai mươi bốn giờ qua!”

Điều thứ hai là dù có tu hành, nhưng nếu chưa giác ngộ thì con người dù là đệ tử hay đại đệ tử của Đức Phật như Ananda vẫn còn đầy lòng sân hận và thói quen phản ứng.

Điều cuối cùng là đối với cùng một sự viêc “một người đàn ông lạ nhổ vào mặt Đức Phật trong lúc Ngài đang thuyết pháp”, tôi thấy có hai thái độ khác nhau rõ rệt:

Một bên là các đệ tử của Đức Phật, trong số dó có Ananda, một đại đệ tử của Ngài. Họ “nổi cơn điên”. Đây là loại phản ứng của đại đa số mà chúng ta thường nghe kể lại hoặc mục kích trong đời sống hàng ngày.

Một bên là Đức Phật. Ngài đã tỏ ra rất bình thản trước hành động sỉ nhục của người đàn ông kia. Đã lắng nghe Ông ta với tâm từ bi. Ngài đã lập tức yêu cầu Ananada “Đừng nói nữa” vì Ngài không cảm thấy người đàn ông lạ kia nhục mạ Ngài. Trái lại Ngài “nhận thấy rằng con người đáng thương ấy còn muốn nói thêm nữa” . Ngài nói “Ta hiểu rõ hắn lắm. Có lẽ hắn còn muốn nói thêm gì nữa nên ta mới hỏi “còn gì nữa không?”. Thái dộ của Đức Phật, cách hành xử của Ngài theo đại sư OSHO là đáp ứng chú không phải là phản ứng. (2)

Kết quả là gì? Kết qủa là người đàn ông kia đã “bối rối”, đã “trằn trọc cả đêm”. Ông ta đã bị “dằn vặt” vì chuỵện nhổ vào mặt Đức Phật. Ông ta bị “khủng hoảng” đến độ “thần trí bị đảo lộn hết trơn”. Cuối cùng, “sáng hôm sau, ông ta trở lại và qúy dưới chân Đức Phật “ và xin Ngài tha thứ. Như vậy Ngài đã cảm hóa được người đàn ông kia.

Ngược lại, giả thử nếu để mặc cho Ananda và các đệ tử Đức Phật phản ứng theo ý muốn thì hậu qủa thật khó lường. Người lạ mặt kia có thể bị hành hung và bi thương vong, rồi những người thân hoặc bằng hữu của Ông ta sẽ có hành động trả thù và cứ như thế oán thù chồng chất liên miên như vẫn thường xảy ra giữa các cá nhân, phe nhóm, sắc tộc, quốc gia, chủng tộc và tệ hại hơn nữa giữa các tôn giáo từ xưa đến giờ! Người ta đã nhân danh những điều cao đẹp, những mỹ từ như “trung, hiếu, tình, nghĩa, v.v.” để đeo đuổi những “mối thù truyền kiếp”, những “mối hận ngàn đời” để rồi “hận tình mang xuống tuyền đài khôn nguôi” vì hận thù chẳng bao giờ hết cả.

Đại sư OSHO giải thích rằng thái độ của các đệ tử của Đức Phật là một phản ứng theo “thói quen trong qúa khứ”, “theo tâm trí”.

Ngược lại, đáp ứng không tùy thuộc vào kinh nghiệm hay thói quen trong qúa khứ mà tùy thuộc vào sự nhạy cảm đối với hiện tại. “Đáp ứng là hoàn toàn sống động trong từng khoảnh khắc, tại đây và ngay bây giờ.” (3)

Đáp ứng là thái độ của người không còn ngã chấp, có lòng bình thản, tâm từ bi và hạnh nhẫn nhục cao thâm.

Trong đời sống hàng ngày, Người biết đáp ứng như Đức Phật, một bậc toàn thiện, toàn giác. đại từ, đại bi, hỏi có dược bao nhiêu!

Khi bị sỉ nhục hoặc thấy người mình kính trọng và yêu qúy bị sỉ nhục, những người có phản ứng nổi điên và giận dữ như các đệ tử của Đức Phật từ xưa đến nay nhiều vô số kể.

Nếu truy nguyên nguồn gốc của phản ứng giận dữ trong các kinh tạng của Phật giáo thì ta thấy phản ứng giận dữ là do sân hận mà ra .(4)

Theo Ngài Nina Van Gorkum thì trong tạng Luật (Đại phẩm – Mahavagga X. 349) Đức Phật đã dạy cho các tỳ khưu là:“hận thù không làm lắng dịu được hận thù. Ở đây và bất cứ lúc nào, không hân thù mới làm lắng dịu được hận thù: đây là định luật vĩnh cửu” (5)

Tăng Chi Bộ Kinh (Pháp 7 chi, chương 6, kinh số 10 ) có ghi lại rằng khi giảng cho các Tỳ Khưu về các hậu qủa của sân hận, Đức Phật đã đưa ra thí dụ như sau:

Có những người vì sân hận mà mong kẻ thù của mình “khó ngủ” hoặc “mất ăn mất ngủ”, thì “… hạng người này sân hận, bị sân hận chinh phục, bị sân hận chi phối và dù người ấy nằm trên giường có chăn êm nệm ấm, đấy đủ tiện nghi ăn ngủ nhưng người đó nằm thao thức trong niềm đau nỗi khổ do sân hận hành hạ.” (6)
Khi nói về hậu qủa của sự giận dữ, tác phẩm Hành Hạnh Bồ Tát có ghi mấy câu:

Bao nhiêu công đức tốt đẹp
Tích lũy trong một ngàn kiếp
Như bố thí, cúng dường chư Phật
Tất cả đều tiêu tan trong một cơn giận dữ (7)

Ngài Chandrakirti (tiếng Việt dịch là Nguyên Xứng) khi giảng về hậu qủa của sân hận cũng nói:

Khi bạn nổi sân với những Pháp tử của Phật
Là bạn phá hủy trong giây lát
Tất cả đức hạnh tích lũy trên một trăm kiếp.
Bởi thế không có tội nào tệ hơn là sự mất kiên nhẫn (8)

Trong cuốn, “The Way to Freedom” (Hướng Đến Con Đường Giải Thoát), Đức Đạt Lai Lạt Ma nói về lý do tại sao chúng ta không nên giận dữ và sân hận:

“Khi có người nào hãm hại bạn, bạn chớ nên cáu giận và trả thù, mà hãy tri nhận rằng kẻ kia không tự kềm hãm được tình cảm của họ. Người đó chẳng làm như vậy ví cố ý mà chỉ vì bị ảnh hưởng bởi những tình tự tiêu cực đó thôi. Nguyên do chánh yếu khi nào người đó sân tức và hãm hại bạn là vì y không ngừng bị khống chế bởi phiiền não. Bạn hãy phát khởi tâm niệm trắc ẩn và bi tâm thay vì nổi giận. Điều đơn giản nhất là, nếu những người nào có thể chế phục được tình cảm của họ thì họ chẳng bao giờ hãm hại bạn bởi vì những gì họ tầm cầu cũng là an lạc hạnh phúc mà thôi.” (9)

Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng nhấn mạnh rằng “Những người chung quanh cũng sẽ không được an lạc vì sự sân tức đã gây tạo nên bầu không khí xấu xa quanh bạn. Phẫn nộ và sân hận thiêu đốt khả năng phán đoán của bạn; thay vì hồi báo ân đức, cuối cùng bạn lại phiền muộn và thậm chí sanh tâm trả thù. Nếu nội tâm chất chứa dẫy đầy thịnh nộ và sân hận, thì dẫu với những sung mãn vật chất, bạn cũng sẽ chẳng mảy may vui sướng nào vì bạn sẽ liên tục bị tình cảm dày vò. Tri nhận được điều này, bạn hãy tận lực tu hạnh nhẫn nhục và hãy cố gắng lìa bỏ tâm sân và tâm hận.” (10)

Biết dược sân hận do đâu mà ra, ý thức được những hậu qủa tai hại của sân hận, nhưng làm cách nào để giải trừ sân hận?

Theo Ngài Khantipa`lo Bikkhu, “Một người thuộc Sân tánh thì nhạy bén khi nhìn thấy các điều không ưa, không thích. Nhưng với tu tập, vị ấy có thể thay đổi cái đặc tính không lành mạnh này sang sự nhạy bén trong việc nhìn thấy các ý nghĩa trong Phật pháp”. Ngoài ra, “người thuộc loại căn tánh bị chế ngự bởi Sân, dù thuộc căn tánh khó khăn, cũng phải phát triển đức tính Hòa ái.”.

Ngài Khantipa’lo Bikkhu nhấn mạnh rằng sự chú tâm đến việc đối đãi với kẻ khác và môi trường sống rất quan trọng trong việc phát triển đức tính Hoà ái. “…sống ở một nơi mà người ta không khơi dậy được sự sân hận...dần dần người ấy sẽ học được sự kiên nhẫn và từ hòa”.

Ngài khuyên, “thiền quán về những đức hạnh của Đức Phật”, đặc biệt là hạnh Nhẫn nhục sẽ giúp người mang tâm sân hận và có Sân tánh giảm bớt dần dần tâm Sân, tánh Sân trong khi phát triển đức tính Hòa ái trong thời gian tu tập (11).

Thiền quán hay thiền định, theo Đức Đạt Lai Đạt Ma, là “trạng thái tâm lý chuyên tâm nhất trí đối với thiện cảnh”. Thiền Định cũng là phương cách tu tập để chuyện hoá tâm thức bình thường, tán loạn và khó chế phục của con người thành tâm thức có thể kiểm soát và điều ngự được tới mức độ thiền giả có thể nhắm đến bất cứ thiện cảnh nào mà họ lưa chọn. Muốn cho sự thiền định có hiệu qủa, thiền giả phải thiền quán một cách có hệ thống.- thế ngồi toạ thiền và điều hòa hơi thở đúng cách - dưới sự hướng dẫn của các thiền sư hoặc thiền giả có kinh nghiệm. Lúc khởi sự, người thực hành thiền quán phải bắt đầu bằng việc toạ thiền với những thời khóa ngắn và gia tăng dần dần tùy theo khả năng của mỗi người. (12)

Thiền sư Thích Nhất Hạnh, tác giả cuốn “Giận” do Lá Bối xuất bản năm 2004 đề nghị phương pháp giải hóa giận dữ, sân hận bằng cách tập lắng nghe người đang giận dữ với tâm từ bi, thực tập hơi thở chánh niệm (hít vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười), để ý đến vấn đề ăn uống (ăn vừa đủ no, bớt ăn thịt mà ông cho là loại thức ăn mang nhiều chất sân hận), và thực tập Năm Chánh Niệm (Con nguyện tôn trọng sự sống, không sát hại sinh mạng…; con nguyện học theo hạnh từ bi để đem niềm vui sống và an lạc cho mọi người, mọi loài..; con nguyện không tà dâm..không ăn nằm với những người không phải là vợ hay là chồng của con..; con xin học theo hạnh ái ngữ và lắng nghe để dâng tặng niềm vui cho người và làm vơi bớt khổ đau của người …; con nguyện không uống rượu, không xử dụng các chất ma túy, không ăn uống hoặc tiêu thụ những sản phẩm có chất độc tố trong số đó có một số sản phẩm truyền thanh, truyền hình, sách báo, phim ảnh và chuyện trò…) (13)

Sách về Thiền và các phương pháp thiền quán bằng Việt ngữ hiện có bày bán tại hầu hết các tiệm sách Việt-nam. Trong số này có cuốn “Sen Búp Từng Cánh Nở” của Thích Nhật Hạnh là một tài liệu giản dị, hữu ích gồm “:những bài thiền tập hướng dẫn có công năng chuyển hoá và trị liệu”.(14)

Phần trên đã bàn về giận dữ và sân hận, trong phần này người viết xin được trình bày một số điều về nhẫn nhục.

Khi bàn về Nhẫn nhục, Đức Đạt Lai Lạt Ma giải thích rằng “Nhẫn nhục là một trạng thái nhẫn nại tự chế khi đối diện với những hãm hại trừng phạt của kẻ khác” .Tự chế và không phiền não trước những hãm hại, sỉ nhục của người khác là loại nhẫn nhục đầu tiên mà chúng ta có thể luyện tập được. Loại nhẫn nhục thứ hai là “tự nguyện gánh vác các khổ đau và ách nạn” và loại nhẫn nhục thứ ba là “kham nhẫn mọi cực khổ khi dấn thân tu hành theo giái pháp của Phật.” (15)

Theo Hoà Thượng Tuyên Hóa (Venerable Master Hua), người Trung Hoa thì “Pháp môn quan trọng nhất của người tu hành là pháp nhẫn nại”. Ngài kể rằng tiền thân của Đức Phật là Bồ Tát Thường Bất Khinh, một vị Bồ Tát chuyên tu hạnh nhẫn nại. Để tỏ lòng kính trọng mọi người vì coi họ là các vị “Phật sẽ thành”, Ngài gặp ai cũng lạy. Có người không thích được lạy đã đá vào mặt Ngài khiến Ngài bị gẫy hai răng cửa. Bị đánh đập như vậy mà Ngài vẫn chẳng sân hận, vẫn tiếp tục đứng xa mà lạy để thực hành hạnh nhẫn nhục Ba-la-mật. (16).

Người xưa thường nói “Một sự nhịn, chín sự lành”. Điều này cũng giống như hai câu kệ sau đây:

Nhẫn phiến khắc, phong bình lãng tĩnh,
Thối nhất bộ, hải khoát thiên không.
(Nghĩa là: Nhẫn một giây, gió im sóng lặng.
Lùi một bước, biển rộng trời trong.) (17)

Trong chuyến viếng thăm Pháp quốc năm 1993, khi thuyết giảng về tôn giáo và hạnh phúc của con người, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhấn mạnh rằng:”Trong đời sống này chúng ta sẽ có kẻ thù, những người có ý muốn hoặc đang thật sự hãm hại ta. Tuy nhiên yếu tính căn bản của Phật giáo, đặc biệt Phật giáo Đại thừa, là lòng nhân ái, từ bi và bồ đề tâm, tâm thức của giác ngộ. Thế nên nếu sự giận dữ và thù hận phát khởi trong ta, sức mạnh của lòng từ bi và tinh thần giác ngộ của ta phải có đủ năng lực để chống lại chúng. Bởi vậy nhẫn là một đức tính cần thiết mà mỗi người Phật tử cần phải có. Không có hạnh nhẫn nhục không thể thực hành Bồ Tát Đạo.” (18)

Đức Đạt Lai Đạt Ma không phải là người giảng lý thuyết xuông. Không những Ngài luôn luôn cổ võ và ca ngợi việc thực hành hạnh nhẫn nhục và tinh thần bất bạo động, mà ngài còn kiên trì áp dụng hạnh nhẫn nhục và phương pháp bất bạo động trong đời sống của Ngài Cụ thể là hiện nay, mặc dù đang sống lưu vong, Ngài vẫn lãnh đạo cuộc vận động giải phóng cho nhân dân Tây Tạng khỏi ách nô lệ của Trung Quốc bằng phương pháp bất bạo động theo gương Ngài Mathatma Gandhi của Ấn Độ.

.Ngài tin rằng “Từ bi, hỉ xả, hy vọng và nhẫn nhục là những tình cảm tốt đẹp mà tất cả các tôn giáo lớn đều cố gắng phát huy và củng cố.” (19)

Lời Kết:

Sân hay sân hận là một trong ba nguồn gốc phiền não của đời sống. Giảm trừ hay đoạn diệt được tâm Sân, tánh Sân hay ít ra bớt đi được những phản ứng giận dữ khi nghe những điểu không “thuận nhĩ” chắc sẽ giúp ta giảm thiểu được phiền não và gia tăng cơ hội sống vui vẻ hơn.

Nhẫn hay nhẫn nhục là một trong Lục Độ Ba La Mật - Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định và Trí Huệ - trong tiến trình tu tập của Bồ Tát.
Đề tài Sân Hận và Nhẫn Nhục nếu luận bàn cho rốt ráo cũng cần nhiều thì giờ và công phu. Bài viết ngắn này do đó không tránh được thiếu sót.

Nói thì dễ mà làm thì bao giờ cũng khó. Nếu không thực hành những điều mình học hỏi được thì dù có biết nhiều cách mấy cũng chỉ là vô ích.
Sau cùng, xin mượn mấy câu kệ sau đây để kết thúc bài viết này:

Mọi sự qua suông sẻ
Khó xả duy nổi nóng
Nếu qủa không tức giận
Đó là hòn ngọc qúy
Lại không biết hận người
Sự việc đều trôi chảy
Phiền não chẳng hề sanh
Lấy đâu tạo oan nghiệt?
Thường chỉ rặt trách người
Khổ đau chuốc mãi mãi. (20)

Nguyễn Đức Lâm,
San Jose, Hè 2005, Mùa Vu Lan

Tài liệu tham khảo:

(1) (2) (3) OSHO, “Tình Yêu và Hạnh Phúc”, bản dịch của Vạn Sơn, Osho International Foundation xuất bản tại California 2004, tr. 114-119.

(4), (5) (6) NINA VAN GORKUM, “Abhidhamma in the Daily Life”, bản dịch Việt ngữ tựa đề “Tâm Lý và Triết Học Phật Giáo Áp Dụng Trong Đời Sống”, Tỳ Kheo Thiện Minh biên dịch, xuất bản tại Việt-nam, 2001, tr. `85-98.

(7) (8) PABONGKA RINPOCHE, “Liberation in the Palm of Your Hand”A Concise Discourse on the Path to Enlightenment”, edited by Trijang Rinpoche, bản dịch Việ ngử của Thích Trí Hải, tựa đề “Giải Thoát Trong Lòng Bàn Tay”, Quyển Thượng, Xuân Thu xuất bản, 1998, tr. 294-295.

(9) (10) (12) (15) THE DALAI LAMA, “The way to Freedom”, tài liêu song ngữ, bản dịch tiếng Việt ngữ, tựa đề “Hướng Đến Con Đường Giải Thoát”, Nguyễn Thúy Phượng dịch, Viện Triết Lý Việt Nam và Triết Học Thế Giới xuất bản tại California, Hoa-kỳ năm 1999, tái bản năm 2000, tr. 456-470.

(11) KHANTIPA’LO BIKKHU, “Buddhism Explained”, 1967, bản dịch Việt ngữ, tựa đề “Tìm Hiểu Đạo Phật”, Chơn Thiện dịch, Viện Nghiên Cứu Phật Học Viêt Nam ấn hành, tr. 163-164.

(13) NHẤT HẠNH, “Anger” (Wisdom for Cooling the Flames), bản dịch Việt ngữ của Chơn Đạt, tựa đề “Giận”, Lá Bối xuất bản tại California, 2004, tr. 4-5, 15-21, 253-258.
(14) THÍCH NHẤT HẠNH, “Sen Búp Từng Cánh Nở”, Lá Bối xuất bản tại California, năm 1994.

(16) (17) (20) HÒA THƯỢNG TUYÊN HÓA (Veberable Master Hua’s Talks on Dharma), quyển 5, Buddhist Text Translation Society tại Hoa-kỳ phiên dịch và xuất bản, 2005, tr. 101-105., 183-184,

(18) (19) THE DALAI LAMA, “Beyong Dogma”, bản dịch Việt ngữ của Tâm Hà Lê Công Đa, tựa đề “Vượt Khỏi Giáo Điều”, xuất bản 2005 (không đề nhà xuất bản), tr. . 85 -86.

bilu
08/27/2005, 06:43 AM
Có phải Tony Đinh (cháu chú anmota), Nguyễn Cao Can nhà mình không nhỉ?

Một đêm Vu Lan muộn của nhóm cư sĩ Đạo Vàng nhưng thật ý nghĩa
Aug 26, 2005

Cali Today News – Vào tối chủ nhật, tại nhà hàng chay Di Lặc, thành phố San Jose, Đạo Vàng Association Inc đã tổ chức một dạ tiệc chay và văn nghệ Vu Lan thật trang nghiêm và phong phú với một chương trình văn nghệ thật hấp dẫn.
Chương trình được mở đầu bằng nghi thức chào quốc kỳ Mỹ, Việt, Phật Giáo ca và phút mặc niệm nhập từ bi quán. Sau phần chào mừng quan khách của cư sĩ – huynh trưởng Phan Duy Chiêm, là phần giới thiệu nhóm cư sĩ Đạo Vàng của ông Tony Đinh – Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị.

Qua phần giới thiệu của ông Tony Đinh, Đạo Vàng Association gồm một nhóm cư sĩ Phật tử tại vùng Bắc Cali, như ông Tony Đinh – Giám đốc công ty Century 21-A 1-Network, làm chủ tịch hội đồng quản trị, ông Truman Trung Như – một chuyên viên địa ốc thành công - là phó chủ tịch hội đồng quản trị, và quý ông Nguyễn Hữu Lục (chủ tịch ban điều hành), Nguyễn Hồng Dũng (giám đốc chương trình phát thanh Đạo Vàng), Billy Hoàng (giám đốc xã hội), Nguyễn Cao Can (giám đốc giao tế), Phan Duy Chiêm (phó chủ tịch nội vụ), Phú Toàn Cương (giám đốc kế hoạch), Đỗ Quang Hưng – Nguyễn Ngọc Mùi (phụ trách thanh niên và tuổi trẻ), Nguyễn Minh (phụ trách kỹ thuật và thông tin), anh Bùi Tú (phụ trách văn nghệ),… Một nhóm tương đối hùng hậu.

Qua lời phát biểu của ông Tony Đinh, nhóm cư sĩ Đạo Vàng không những chỉ hoạt động Phật sự mà còn góp phần hoạt động cho các phong trào từ thiện và xã hội trong vùng.

Đêm Dạ Tiệc Vu Lan và Văn Nghệ Báo Hiếu có phần nghi lễ rất trang nghiêm và lạ mắt với lễ Rước Vô Tận Đăng từ Hòa thượng phương trượng Viện trưởng viện Phật học Tây Tạng và ngài thượng tọa tiến sĩ người Tây Tạng. 12 chiếc nến lung linh được rước từ ánh sáng trí tuệ và từ bi từ bàn thờ Đức Thế Tôn truyền trao đến từng bàn người tham dự qua bàn tay truyền của ngài phương trượng viện trưởng Tây Tạng đầy đức độ và lòng từ bi.

Ngài sau đó ban một thời pháp về Vu Lan và làm lễ gia trì cho những người tham dự. Chị Bích Quyên đã giúp chuyển dịch sang Việt ngữ thời pháp thoại của ngài viện trưởng.

Nhà hàng tắt tất cả đèn tiêu biểu cho chúng sinh đang chìm ngập trong vô minh, và trong luồng ánh sáng vô tận đăng, người tham dự hồi hướng về bàn thờ như để nhận được ánh sáng trí tuệ của chư Phật, sự gia trì từ đức Thế Tôn và gieo trồng hạt giống từ bi khi mọi người đọc kinh Thương Yêu (hay còn gọi là Kinh Từ Bi)…

Hai MC Nguyễn Hồng Dũng và Nguyễn Xuân Nam đã điều hợp phần chương trình và nghi lễ một cách trôi chảy, lắng đọng và nhiều rung cảm.

Có thể nói phần văn nghệ Vu Lan là rất xuất sắc với những giọng ca trong vùng như Đồng Thảo, Vân Phi, lệ Hằng, Mỹ Thể, Triệu Minh, Bảo Tố, Trần Chí Phúc,… Cũng nhân dịp này, ban nhạc Đạo Vàng cũng chính thức trình làng. Ban nhạc đã chơi rất hay và được cử tọa hết lòng khen ngợi. Nhiều người đã ở lại tới nửa đêm để cùng thưởng thức văn nghệ đạo. Nghe đâu, trong tương lai, ban văn nghệ Đạo Vàng còn tổ chức văn nghệ quy mô lớn trong thời gian tới.

Chủ nhân nhà hàng Di lặc tâm sự với người viết là không ngờ Phật tử kéo đến đông như thế và cứ mỗi lần thêm người đến là mỗi lần thót tim vì không biết làm sao có đủ chỗ ngồi. Dù kê thêm bàn, nhưng Ban Tổ Chức và thân hữu đành phải đứng để nhường chỗ cho người tham dự.

Và tối hôm đó, nhà hàng Di Lặc đã cung cấp một thực đơn thật ý nghĩa, rất đầy đủ và thật ngon miệng.

Nhóm cư sĩ Đạo Vàng tuy mới hình thành gần đây, nhưng cho thấy là một nhóm rất nhiệt tình và nhiều triển vọng.

Tâm Phương tường trình

THK
08/31/2005, 09:25 AM
LÒNG MẸ

Bế đứa con trai vừa mới chào đời lên, bà mẹ nhè nhẹ đong đưa đôi tay và hát :

Thương con mẹ thương con
Yêu con mẹ yêu con
Yêu suốt một cuộc đời
Đến ngày con lớn khôn...

Đứa bé càng lúc càng lớn lên. Khi được hai tuổi, nó chạy chập chững bước thấp bước cao nô đùa quanh nhà, lôi sách vở trên kệ xuống để nghịch phá . Nó bày đủ thứ đồ chơi ra sàn nhà. Nó tè trong quần. Nó ị trên giường. Nó khóc. Nó la. Và bà mẹ đôi lúc phải thốt lên: "Cái thằng này, con làm mẹ điên mất !"

Nhưng đêm đến khi nó ngủ thật say, bà mẹ đến bên nôi trìu mến nhìn nó và khẽ hát :

Thương con mẹ thương con
Yêu con mẹ yêu con
Yêu suốt một cuộc đời
Đến ngày con lớn khôn...

Đứa bé tiếp tục lớn lên thành một thằng nhóc chín tuổi. Nó không hề thích ăn uống đúng giờ. Nó không bao giờ muốn tắm rửa. Khi bà ngoại đến thăm, nhiều lúc nó lại buông giọng gắt gỏng với bà. Và bà mẹ đôi lúc muốn đưa nó đi đâu cho khuất mắt.

Nhưng đêm đến khi nó ngủ thật say, bà mẹ rón rén đến bên giường, kéo tấm chăn đắp lên người nó và khẽ hát :

Thương con mẹ thương con
Yêu con mẹ yêu con
Yêu suốt một cuộc đời
Đến ngày con lớn khôn...

Ngày qua ngày, thằng bé đến tuổi dậy thì. Nó dẫn về nhà những thằng bạn kỳ quặc. Nó ăn mặc những bộ đồ kỳ quặc. Nó nhún nhảy một cách kỳ quặc theo những bản nhạc cũng rất kỳ quặc. Và bà mẹ đôi lúc có cảm giác như thể nó đang ở trong sở thú.

Nhưng đêm đến chờ nó ngủ thật say, bà mẹ nhẹ nhàng mở cửa phòng riêng của nó, bước đến hôn lên trán nó và khẽ hát:

Thương con mẹ thương con
Yêu con mẹ yêu con
Yêu suốt một cuộc đời
Đến ngày con lớn khôn...

Thằng bé kỳ quặc tiếp tục lớn lên thành một thanh niên trưởng thành. Nó rời nhà lên thành phố để làm việc và sống trong một phòng trọ. Thỉnh thoảng bà mẹ đón xe lên thăm nó. Những lần như thế, bà phải ngồi trước cửa phòng trọ và chờ đến tận khuya thì thấy nó say khướt trở về. Bà dìu nó vào phòng, lau mặt cho nó rồi đỡ nó lên giường. Sau đó bà lắc đầu ngao ngán nhìn nó. Nhưng khi nó ngủ say, đượm buồn, bà khẽ hát:

Thương con mẹ thương con
Yêu con mẹ yêu con
Yêu suốt một cuộc đời
Đến ngày con lớn khôn...

Và rổi đứa con lập gia đình và hoạ hoằn lắm nó mới về thăm bà. nó còn phải bương chải để chăm lo cho mái ấm riêng của nó. Thời gian trôi qua và lạnh lùng khắc những nếp nhăn lên khuôn mặt già nua ngày càng hốc hác của bà mẹ. Một hôm, thấy yếu trong người, bà gọi điện bảo đứa con về thăm. Nó lái xe về thăm bà và ngủ lại nhà một đêm. Tối đó, bà nằm trong giường và khẽ hát:

Thương con mẹ thương con
Yêu con mẹ yêu con
...

Nhưng cơn ho khan khiến bà không hát được trọn bài hát thuở nào. Đêm đó bà lặng lẽ qua đời.

Sau đám tang, đợi tối đến, khi đứa con của mình thật ngủ say, người đàn ông vừa mất mẹ bước đến hôn lên trán nó và khẽ hát:

Thương con mẹ thương con
Yêu con mẹ yêu con
Yêu suốt một cuộc đời
Đến ngày con lớn khôn...

Hát xong, hắn lặng lẽ khóc một mình.

(sưu tầm)