PDA

View Full Version : Chiếc đòn Gánh



anmota
10/12/2005, 09:08 PM
CHIẾC ĐÒN GÁNH
( Mới nhận được của Cô Kim Châu , nguyên Học sinh TQT , gửi qua. Truyện của Phúc .TQT. Tôi gửi lên đây .AMT )

Nguyễn Minh Phúc

Những người phụ nữ quê tôi không ai không biết đến chiếc đòn gánh vì ai cũng đã từng hơn một lần gánh nó trên vai. Quê tôi nghèo lắm. Từ những bé gái mới lớn lên lam lũ giúp mẹ thổi cơm gánh nước, đôi vai nhỏ như oằn xuống với một cánh tay bấu vào thân đòn nặng trĩu còn tay kia dùng để lấy thăng bằng gánh hai thùng nước sóng sánh - đến những bà mẹ già lập cập gánh những bó rau, bụi cải hay con gà con vịt thong dong ra chợ bán… Rồi những đứa em, người chị, hầu như cứ rãnh việc, buông tay ra là động đến chiếc đòn gánh… Gánh lúa, gánh phân, gánh mạ non, gánh nước…Toàn bộ công việc nặng nhọc đặt lên vai người phụ nữ. Đàn ông quê tôi lại ít thấy gánh gồng gì! Dĩ nhiên là họ làm những việc khác, có khi còn nhọc nhằn hơn nhưng ít khi chịu động đến cái đòn gánh…

Tôi nhớ như in lúc tôi còn là thằng bé sáu, bảy tuổi, chiều chiều ra đứng trên đầu cầu sông Kênh đón mẹ đi chợ về. Rướn người trên thành cầu sắt thật cao, tôi đưa mắt hướng về phía chợ.

Hễ thấy từ xa có ai đó đang quang gánh bước đi là lòng tôi lại thấp thỏm mừng vì nghĩ đó là mẹ mình. Cái dáng tất bật. Cái dáng tất bật, lam lũ của những người đan bà quê tôi hầu như ai cũng giống nhau. Cho nên, tôi thường nhìn lầm! Tôi đợi từ xa và dõi mắt nhìn chằm chằm vào dáng đi vất vả cùng với hai cánh tay, một nằm trên thân đòn, và một lầy thăng bằng, buông lỏng theo từng bước chân như chạy. Không thể lẫn vào đâu được, đúng là bước chân của mẹ tôi. Bước chân mẹ lạ lắm, có gì đó như lo toan, vội vã, nhẫn nhục, nhọc nhằn trong mỗi nhịp đi hối hả, tôi cảm nhận như vậy. Nhưng khi bóng người đàn bà kẽo kịt gánh gồng đến gần, thì ra lại không phải! Niềm vui biến mất, gương mặt buồn xo. Tôi lại ngồi xuống thành cầu đợi mẹ tôi…

Cuối cùng thì mẹ cũng xuất hiện! Từ xa, nhận ra mẹ, tôi đã ba chân bốn cẳng chạy ùa tới mừng rỡ. Tôi chẵng quan tâm gì đến mồ hôi mồ kê trên gương mặt mẹ chảy ròng ròng vì mệt, vì nắng rát mà điều quan trọng nhất là nhìn vào hai cái mẹt đong đưa hai bên đòn gánh dưới cái quang bằng dây thép uốn tròn. Qùa của tôi nằm ở đó! Khi thì là chiếc bánh mì, vài viên kẹo dẻo, một lóng mía ghim, có khi là mấy thứ đồ chơi rẽ tiền bằng nhựa… Thích nhất là được mẹ mua cho bánh bò ông ba tàu ngoài cổng chợ. Tôi mê bánh bò ông thì ít mà mê con gái ông thì nhiều! Chẳng là con ông cùng học lớp tôi. Nó học giỏi nhì lớp, còn tôi hạng nhất. Bọn trẻ con thường cắp đôi tôi với con Lẽm, tên nó. Không biết nó có nghĩ gì không chứ tôi thì thích! Mà cũng lạ, không ai như tôi, tôi chỉ mới học đến lớp hai, lớp ba mà đã biết mắc cỡ khi gặp nó…Nhưng đó là chuyện hồi con nít…

…Không đợi mẹ đồng ý, tôi đã lục mẹt lấy quà của mình vì biết mẹ chỉ mua qùa cho tôi. Nhà có mấy chị em mà tôi là con trai duy nhất nên mẹ thương tôi hơn cả. Trăm lần như một, chiều nào mẹ đi chợ về, sau khi bán hết mớ rau, mớ bầu bí trồng ở vườn nhà, thế nào mẹ cũng dành tiền mua cho tôi ít quà. Tôi cầm gói bánh bò tung tăng chạy trước, mẹ gánh cặp mẹt đi sau. Không nhìn vào mắt mẹ nhưng biết chắc mẹ đang nhìn tôi cười hạnh phúc. Đôi gánh nhẹ hẫng trên vai mẹ và thỉnh thoảng còn nói vói theo nhắc yêu tôi: Ranh con, chạy vừa vừa chứ! Té ngã bây giờ!

♦ ♦ ♦

Tôi thật không biết chiếc đòn gánh do ai nghĩ ra và đã xuất hiện đầu tiên vào lúc nào nhưng qủa thật, đó là một dụng cụ tuyệt vời để di chuyển một vật nặng từ nới này đến nơi khác bằng sức người ở quê tôi. Nó được làm bằng tre già ngâm nước càng lâu càng tốt , để cho tre dẻo, chắc là khỏi mục. Tôi đã thơ thẩn hàng giờ nhìn người ta đục đẽo chiếc đòn gánh. Thật cũng lắm công phu! Sau khi chỉ lấy đoạn gốc tre già ngâm nước chừng vài tháng. Người ta làm hai chiếc máng ở hai đầu đòn. Hai chiếc mán này phải giống nhau như một, giữa là một cái rãnh sâu để móc quang vào cho khỏi lệch. Cái máng này cũng lắm chuyện! Gặp tay thợ đẽo giỏi, nó là hình tròn, hình ô van có khi còn được tạc vào dấu thập hoặc chữ vạn mà tôi không biết để làm gì! Có lẽ lấy hên mua may bán đắt khi gánh trên vai chiếc đòn gánh ấy chăng hay chỉ là khắc lên cho đẹp…Chưa hết! Người ta lại gọt đẽo thân đòn cho thật thẳng, đoạn ở giữa mỏng hơn hai bên đầu làm đòn đong đưa cho người gánh nhẹ sức hơn khi gánh nặng…Khoảng hơn tiếng đồng hồ đẽo gọt thì chiếc đòn gánh ra đời. Nó có thể dùng hết đời này sang đời khác trong một gia đình quê tôi vì hiếm khi bị gãy. Đến khi nước bóng ở thân đòn nổi lên màu đen mun thì không biết chiếc đòn đã thấm không biết bao nhiêu mồ hôi từ trên đôi vai của những người tần tảo…

Nhưng chiếc đòn gánh mẹ tôi không chỉ có thế. Nó còn là một trời kỳ diệu! Nó mang đến tuổi thơ tôi niềm vui háo hức tràn trề, cả những giấc mơ đẹp đẽ nhất trên đời. Còn gì sung sướng hơn khi được đặt ngồi vào một đầu quang, đầu bên kia là trái bầu trái mẹ gánh suốt dọc đường ra chợ. Tôi cứ ngồi im như thế suốt con đường làng, hấp háy đôi mắt hãnh diện nhìn quanh xem có đứa bạn học nào để mà vểnh mặt lên, tự hào vì được ngồi gánh mẹ. Tôi cũng không buồn khi thấy chỉ mấy con trâu, con bò dọc đường làng chào tôi bằng cách kêu nghé ọ và những đứa trẻ chăn trâu nhìn theo cười chế giễu. Tôi biết chúng nó ganh tỵ vì không được ngồi gánh như tôi… Và vì tôi nặng hơn mấy trái bầu bí bên kia nên mẹ phải đưa vai chệch về phía tôi để giữ thăng bằng. Mệt lắm nhưng mẹ vui! Tôi biết được điều ấy trên đôi mắt long lanh, hài lòng bừng lên trên mặt mẹ…

Đến gần chợ là tôi dứt khoát bảo mẹ cho xuống, có năn nỉ mấy cũng không chịu ngồi thêm. Tôi sợ con Lẻm, con ong ba tàu bán bánh bò đầu cổng chợ nhìn thấy! Vì sao sợ nó cưới, tôi không biết nhưng rõ là tôi thích nhìn nó xuất hiện với hai chiếc nơ xinh xắn, ch5y lò cò trước cổng, mắt tròn xoe nhìn tôi và gật đầu chào. Tôi làm như ngó lơ, hai chân chạy lúp xúp theo mẹ, mắt liếc thật nhanh vào con Lẻm còn tay thì cứ cầm dây quang phía sau chiếc đòn gánh mà nhắc để khỏi mắc cỡ: Đi nhanh lên mẹ! Con đói bụng lắm rồi…

Tuổi thơ tôi và chiếc đòn gánh mẹ như không hề rời nhau. Cũng có những hôm không bán được hàng, mẹ quảy gánh về mà không có quà cho tôi. Tôi cứ lấy đòn gánh mẹ mà khóc tấm tức, dỗ mấy cũng không nín! Tôi nghĩ mẹ không thương tôi hoặc là qùa của tôi mẹ đã cho ai mất rồi! Tôi không nhìn lên mắt mẹ để thấy mẹ buồn như thế nào vì không tiền mua quà cho đứa con cưng. Có hôm mẹ tuổi thân cứ nhìn tôi, ôm tôi mà khóc…

Nhưng cũng có lúc, chiếc đòn gánh với tôi là cả một cơn ác mộng! Tôi nhớ có lần đi hái trộm xoài non của bác Hai Trầu ở cạnh nhà. Bác Hai qua mét mẹ và chuyện đã xảy ra… Tôi mới bước chân về đến cửa, mẹ tìm hoài không thấy roi nên sẵn cây đòn gánh, mẹ phát vào mông tôi mấy cái. Dĩ nhiên là mẹ phát nhẹ thôi vì chiếc đòn gánh thì to bảng mà mông tôi thì nhỏ. Nhưng mà đau thấu trời xanh. Ghê thật là cái vị đòn làm bằng cây tre già! Nó thấm vào thấu bên trong, đau và nhức buốt hơn mọi loại roi nào khác. Tôi chỉ còn qùy xuống đất nức nở mà xin lỗi mẹ vì đau và sợ ăn đòn tiếp…

Tối đó, mẹ vừa khóc vừa bôi dầu nhị thiên đường vào mông tôi đã nổi lên mấy vết hằn đỏ. Mẹ dằn vặt mình vì đã giận đánh con. Tôi làm bộ quay mặt vào tường không nhìn mẹ. Tôi giận, mẹ hỏi gì cũng không nói và thiếp đi lúc nào không hay. Khi thức dậy vẫn còn thấy mẹ ngồi chằm chằm nhìn tôi, nghẹn ngào: Mẹ dánh con bậy quá… Nhưng ai bảo con hư…Lúc ấy, với đôi mắt nhạt nhòe, tôi chỉ muốn ôm mẹ mà khóc. Vì hờn, tủi thân hay còn giận mẹ, tôi không biết! Nhưng tôi biết chắc chắn một điều là mẹ yêu thương tôi vô bờ bến!

Chiếc đòn gánh của mẹ, với tôi còn là những kỷ niệm không thể nào quên! Khi tôi đã lớn, nhà nghèo, mẹ hàng ngày trũi nặng nó trên vai – khi thi gánh phân, gánh gạo đi bán – khi thì gánh nước gánh hàng tảo tần nuôi tôi ăn học. Những năm tháng còn là sinh viên, mỗi dịp nghĩ hè về quê, tôi lại ra đầu cầu sông Kênh đón mẹ đi chợ về. Nhưng mẹ giờ đã yếu lắm! Mẹ không còn gánh nặng được nhưng phải cố, vì tôi. Hình hài mẹ quắt lại, đôi vai như chỉ muốn rung lên theo bước chân, môi mắm chặt mỗi lần mẹ cố sức. Duy đọi mắt mẹ thì không hề thay đổi! Đôi mắt vẫn ánh lên niềm hạnh phúc và tự hào nhìn đứa con trai phổng phao, chững chạc sắp trưởng thành. Tôi đứng lặng trên cầu, rơm rớm nhìn vào thân thể và đôi vai gầy guộc của mẹ oằn xuống dưới mỗi bước đi…Tôi muốn lao vào ôm mẹ mình nhưng đã không làm vậy. Cho mãi đến tận giờ, hằng đêm, tôi vẫn ân hận trách mình vì điều ấy…

Ngày ấy, mẹ vẫn thường nói vui: Chính cái chiếc đòn gánh của mẹ nuôi con ăn học đấy! Mẹ mong khi mẹ không đụng đến nó nữa thì con đã trưởng thành… Còn giờ thì vì con, mẹ đâu, nó đó…

♦ ♦ ♦

…Bây giờ, tôi đã thành đạt! Sự nghiệp, công danh có đến muộn nhưng cuối cùng cũng đến! Mẹ mừng hơn ai hết! Con Lẻm ông ba tàu bán bánh bò ngoài cổng chợ giờ là vợ sắp cưới của tôi. Ngày tôi lấy vợ, mẹ từ dưới quê lên thăm. Xuống bến xe đón mẹ, tôi thật ngỡ ngàng khi thấy mẹ cứ hí hoáy tìm một vật gì để dưới gầm xe. Tìm mãi, sau cùng mẹ mới lôi ra được cây đòn gánh! Thì là thói quen, mẹ mua cau trầu mừng đám cưới tôi và cứ nghĩ sẽ đến nhà tôi với đòn gánh trên vai và cặp quang đà sắt rỉ! Tôi buồn cười và hơi bực bội về sự lẩm cẩm của mẹ! Ai đơi lên đến thành phố rồi mà còn đem theo nào quang nào gánh, dáng đi tất bật, lo âu như ngày nào, ngày nào. Ngoài việc mướn xe chở cau trầu, tôi còn phải kêu thêm một chiếc xích lô chở riêng cặp quang và chiếc đòn gánh của mẹ theo về vì không biết để đâu… Bảy mươi tuổi, có khi mẹ lẩn thẩn rồi cũng nên…Tôi nhủ thầm như vậy…

Mừng đám cưới tôi có mấy ngày, mẹ đòi về nằng nặc! Nhà không ai trông nom, gà qué, heo cộ không ai chăm sóc, mẹ bảo thế! Hầu như đêm nào ở nhà tôi mẹ cũng thức trắng, trằn trọc không ngũ. Mẹ lo những việc không đâu, nào ai biết được. Thỉnh thoảng mẹ lại ngồi dậy, khục khặc ho. Tôi cũng không làm sao dỗ giấc ngũ, lo lắng đòi mẹ uống thuốc. Nhưng mẹ bảo không sao. Mẹ lo chuyện rau mọc nhiều không ai cắt bán, lo gà vịt không ai cho ăn, lo nước trong lu không ai gồng gánh… Đúng là mẹ lẩm cẩm thật rồi!

Tôi và con Lẻm mời mẹ ở lại luôn trên thành phố với vợ chồng tôi nhưng mẹ nhất định không chịu! Mẹ ở không quen chốn đông đức, ồn ào hơn nữa còn phải chăm mộ bà nội, ba con dưới quê, ở lâu làm sao được, mẹ nói cái lý của mẹ. Cái lý của các mà mẹ thì lúc nào cũng thuyết phục được bất kỳ ai trên đời chứ chẳng phải riêng tôi...

Ngày mẹ ra bến xe về quêngoài quà mừng của vợ chồng tôi giử bà con lối xóm vẫn là chiếc đòn gánh đã lên nước theo cùng. Nhìn dáng mẹ tất bật, hối hả, lòng tôi bỗng trào dâng niềm thương vô bờ bến nhưng biết làm sao giữ mẹ! Đến lúc này, mẹ mới móm mém cười, chắc là muốn chúng tôi đừng buồn khi chia tay!

Đó con thấy không? Nhờ đem theo đòn gánh mà khi về, mẹ mới mang hết mấy thứ quà con gửi cho lối xóm…Không có nó, mình mẹ bê sao nổi!
Tôi nhận ra mẹ mình có lý! Một đời mẹ tảo tần vẫn đắm đuối vì con với chiếc đòn gánh cùng theo mẹ đi suốt bao năm trời gian khổ mãi cho đến khi con đã trưởng thành vẫn còn mãi lo âu…

♦ ♦ ♦

Rồi mẹ tôi qua đời! Tuổi già và những căn bệnh triền miên không cho mẹ ở lại cùng tôi mãi. Cuộc chia ly đớn đau cuối cùng rồi cũng đến! Trong nỗi đau mất mẹ, tôi chỉ còn biết lặng người, xót tím tâm cang.

Lúc nhập quan, khi người ta đưa hình hài nhỏ bé, khô quắt của mẹ vào quan tài, ngoài những bộ đồ cũ nát mẹ vẫn thường mặc khi còn sống cùng với những vật dụng thường dùng của mẹ, tôi chợt nhớ đến chiếc đòn gánhđã đi theo suốt đời cùng mẹ. Nó vẫn nằm đó, trong góc nhà kia, vẫn ánh lên thứ nước màu đen tuyền với cái thân đòn hình như cong lên vì vất vả. Chợt nghĩ về những ngày ấu thơ gian khổ, chợt nghĩ về tình yêu bao la, thắm thiết của mẹ, tôi trào dâng nước mắt…

Tôi nhớ đến lời mẹ tôi khi còn sống: mẹ đâu thì nó đó, chiếc đòn gánh ấy! Và cố thuyết phục mọi người xin đưa cây đòn theo cùng mẹ sang thế giới bên kia… Ai cũng cản tôi nhưng cuối cùng thì họ xiêu lòng. Vậy là trong quan tài mẹ tôi lại có thêm chiếc đòn gánh đã từng một thời bôn ba cùng mẹ…

Khi mọi người ra về sau lễ tang, còn một mình ngồi bên mộ mẹ, tôi đã khóc như chưa bao giờ được khóc như thế! Rồi cũng sẽ qua hết mọi khổ đau, hạnh phúc, mọi cao sang, quyền quý kể cả những vụn vặt thấp hèn trên đời này nhưng tôi biết, hình ảnh mẹ tôi và chiếc đòn gánh nhọc nhằn ngày xưa sẽ theo mãi tôi đến suốt quãng đời còn lại…

Mùa vu lan 2004

Kính tặng mẹ tôi và Sơn Tịnh

bilu
10/14/2005, 07:25 AM
Truyện cảm động quá chú.

anmota
11/21/2005, 10:27 AM
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=109267&ChannelID=10

AMT

anmota
11/21/2005, 10:42 AM
Người đàn bà bị ruồng bỏ (*)

Con kinh nhỏ nằm vắt qua một cánh đồng rộng. Và khi chúng tôi quyết định dừng lại, mùa hạn hung hãn dường như cũng gom hết nắng đổ xuống nơi này. Những cây lúa chết non trên đồng, thân đã khô cong như tàn nhang chưa rụng, nắm vào bàn tay là nát vụn.

Cha tôi tháo cái khung tre chắn dưới sàn ghe, bầy vịt lúc nhúc chen ra, cuống quýt, nháo nhào quẫy ngụp xuống mặt nước váng phèn. Một lớp phèn mới, vàng sẫm quánh lại trên bộ lông của những con vịt đói, nhớp nháp bám trên vai Điền khi nó trầm mình bơi đi cặm cọc, giăng lưới rào bầy vịt lại. Tôi bưng cái cà ràng lên bờ, nhóm củi.

Rồi ngọn lửa hoi hót thở dưới nồi cơm đã lên tim, người đàn bà vẫn còn nằm trên ghe. Ngay cả ý định ngồi dậy cũng xao xác tan mau dưới những tiếng rên dài. Môi chị sưng vểu ra, xanh dờn. Và tay, và chân, và dưới cái áo mà tôi đã đắp cho là một cái áo khác đã bị xé tả tơi phơi những mảng thịt người ta cấu nhéo tím ngắt.

Và những chân tóc trên đầu chị cũng đang tụ máu. Người ta đã lòn tay, ngoay chúng để kéo chị lê lết hết một quãng đường xóm, trước khi dừng chân một chút ở nhà máy chà gạo. Họ giằng ném, họ quăng quật chị trên cái nền vương vãi trấu. Vai nữ chính, một người đàn bà xốc xếch đã lạc giọng, đôi lúc lả đi vì ghen tuông và kiệt sức.

Nhưng đám đông rạo rực chung quanh đã vực tinh thần chị ta dậy, họ dùng chân đá vói vào cái thân xác tả tơi kia bằng vẻ hằn học, hả hê, quên phứt vụ lúa thất bát cháy khô trên đồng, quên nỗi lo đói no giữa mùa giáp hạt. Cuộc vui hẳn sẽ dài, nếu như không có một ý tưởng mới nảy ra trong cơn phấn khích.

Họ dùng dao phay chạt mái tóc dày kia, dục dặc, hì hục như phạt một nắm cỏ cứng và khô. Khi đuôi tóc dứt lìa, được tự do, chị vùng dậy, lao nhanh xuống ghe chúng tôi như một tiếng thét, lăn qua chân tôi, đến chỗ cha, làm đổ những bao trấu cha vừa mới xếp.

Đám người ngơ ngác mấy giây để chấp nhận việc con mồi bỏ chạy. Tôi mất mấy giây để háo hức thấy mình nghĩa hiệp như Lục Vân Tiên, tôi lồm cồm xô ghe dạt khỏi bờ, sợ hãi và sung sướng, tôi cầm sào chống thục mạng ra giữa sông, mắt không rời đám người đang tràn ra mé bờ chực lao xuống, nhảy nhót điên cuồng.

Câu chuyện tàn khốc ngay từ trang đầu tiên. Cái chi tiết keo dán sắt như thể ngoài sức tưởng tượng, nhưng cuộc sống nào đã gợi ý nên những trang viết làm người đọc rùng mình đến thế?

Tôi cũng bàng hoàng, khi viết. Tôi thường tự hào về trí tưởng tượng của mình nhưng thấy chóng mặt, ngộp thở với chi tiết có thật mà tôi nghe được, giữa đời. Tôi thú nhận là đã sao chép cuộc sống, bởi tưởng tượng chỉ là trò bỏ đi.

Nhưng xin các bạn đừng ngạc nhiên, tôi chưa từng tưởng tượng chuyện con người lại tra tấn bằng cách bắt lươn sống chui vào cửa mình người phụ nữ, đá thốc vào bụng người đang mang thai... nhưng những ai đi qua chiến tranh không hề thấy lạ. Tôi cảm giác khi cái ác lên ngôi trong phần con, phần người chết ngắc...
Rồi tiếng chửi rủa chói lói chìm đi, tiếng bầy vịt tao tác kêu dưới sạp chìm đi, trong tôi chỉ có âm thanh của chiếc máy Kohler4 nổ khan, rung bần bật dưới tay Điền, khạc ra những đám khói khét lẹt, đen ngòm. Khói trôi về phía sau chúng tôi, mờ nhòe những bóng người đang tuyệt vọng ngó theo, bàn tay nào đó cầm nắm tóc của chị vẫy lên phơ phất phơ phất...

Cha tôi không đóng vai trò gì trong cuộc tháo chạy ấy, ông im lặng, khi đã đi khá xa, cha ra đằng mũi cầm sào. Tôi bò vào trong ghe, lấy áo đắp lên người chị, sao cho che được đôi vú rách bươm và khoảng đùi rướm máu. Chị cười mếu máo, nói cảm ơn bằng mắt và thiếp đi.

Suốt một quãng đường, chị không hề thay đổi thế nằm, im lìm, lạnh ngắt như người chết. Trong ghe chỉ trôi mênh mang những tiếng rên khi dài, khi ngắn, khi thiu thỉu buồn xo, lúc nghe như tiếng nấc nghẹn ngào...

Nhờ vậy mà chúng tôi biết chị còn sống, để đi với chúng tôi gần hết con sông Bìm Bịp, đến cánh đồng hoang vắng này. Điền hơi lo lắng khi nghe chị vẫn còn rên rỉ, nghĩ là chị đã đói, nó hối tôi nấu cơm mau. Nó thấy tiếc vì trên ghe chỉ còn mấy con khô sặt mặn chát, “tui nuốt còn không vô, nói chi...”.

Nhưng chiều hôm đó và cả ngày sau, chị không ăn. Chị từ chối cả uống nước, đợi đôi môi khô đã bắt đầu nứt ra, chị mới chịu hớp một vài ngụm ít ỏi, dường như chỉ đủ ướt môi. Đói và khát, nhưng chị còn sợ đau hơn. Người ta đã đổ keo dán sắt vào cửa mình của chị...

Tôi nói lại với cha và Điền trong bữa cơm. Tôi nghe hai người lặng đi, tiếng đũa tre khua vào miệng chén ngưng bặt. Điền ngó tôi và tôi thì đọc được sự ghê sợ, kinh tởm cồn lên trong mắt cha. Điền chan nước vào chén, lua vội vàng rồi men theo con đường đất dọc mé kinh, nó đi vào trong xóm. Tôi dặn vói theo, ghé tiệm mua giùm ngàn rưỡi đường cát.

Chắc gió đã bạt mất lời tôi, khi quay về, Điền không mang theo gì, nó lẳng lặng xòe tay trước mặt tôi, tay nó dính một lớp gì đó, bóng mượt, trong suốt, và đang khô quánh lại, khiến những ngón tay đơ ra như đá. Điền bảo, “Keo dán sắt...”. Dường như những người sản xuất ra loại keo này cũng không ngờ nó nhiều công dụng đến thế. Hai chị em tôi tỉ mẩn lột lớp keo ra, mảng da non trên bàn tay nó bỏng đỏ nhừ, tươm máu. Chúng tôi cùng ngó về chỗ khoang ghe, nghe tiếng thở thênh thang cùng gió...

oOo

Cánh đồng không có tên. Nhưng với tôi và Điền, chẳng có nơi nào là vô danh, chúng tôi nhắc, chúng tôi gọi tên bằng những kỷ niệm mà chúng tôi có trên mỗi cánh đồng. Chỗ chị em tôi trồng cây, chỗ Điền bị rắn cắn, chỗ tôi có kỳ kinh nguyệt đầu tiên... Và mai này khi trôi dạt đến một nơi nào khác, nhắc đến cánh đồng này với cái tên của chị, chắc chúng tôi sẽ xốn xang.

Sáng sớm ngày thứ ba, chị ngồi dậy được, ngó quanh, chị hỏi: “Trời đất ơi, chỗ nào mà vắng tanh vậy nè?”. Làng xóm xa xa đằng phía những rặng dừa xanh thẳm. Đồng đất trống trơn, trên đôi bờ kinh chơ vơ những cây gòn. Hai đứa nhỏ đầu mướt sương đang hí húi trộn thức ăn cho vịt, nhìn chị ngạc nhiên đến ngây ngất. Giọng nói chị không bị thương tích gì hết, trong vắt và ngọt ngào.

Chị hỏi: “Tắm ở đâu, mấy cưng?”. Tôi chỉ xuống kinh. Chị ngó những váng phèn, ngao ngán. Điền nói, đằng kia có một cái ao.

Đó là một hố bom cũ, bình bát mọc quanh, rau muống chằng chịt phủ kín mặt nước, cọng rau ốm nhằng, đỏ au. Chỗ này, hôm qua, Điền đã câu được những con cá thát lát ú mềm. Chị trầm mình dưới đó rất lâu, chẳng kỳ cọ gì, chỉ để nước lạnh chườm dịu lại những chỗ đau.

Lúc chị lên bờ, tôi thấy máu lợn cợn theo những giọt nước nhỏ xuống giữa hai đùi, chắc chị đã làm gì với chỗ keo dán ác nghiệt ấy. Rồi cũng lâu lắc, cũng cà nhắc từng bước ngắn như lúc đi, chị với tôi quay lại bờ kinh. Điền hí hửng khi thấy chị chịu mặc chiếc áo sơmi thẫm phèn và cái quần cụt quăn queo của nó.

Chỉ có cha lầm lì dọn cỏ quanh chòi. Chỉ có cha là hờ hững với thành quả của hai chị em tôi. Không chấp thái độ lạt lẽo của cha, chị ngó về phía người đàn ông đang vồng lưng trong nắng sớm, chếnh choáng: “Ba mấy cưng đẹp trai dễ sợ...”.

Vì lẽ đó? Có phải vì cha mà chị ở lại với chúng tôi, trên một cánh đồng vắng ngắt. Những vết thương đã lành rất mau. Chị cười, bị đánh hoài riết cũng quen. Tôi hỏi chị làm gì để bị đánh. Chị cười, “Làm đĩ”. Rồi có lẽ chị áy náy vì quá sỗ sàng với chúng tôi, chị vò đầu Điền “chắc mấy cưng không biết đâu...”.

Điền nhìn tôi cười. Chúng tôi đã gặp nhiều, rất nhiều người phụ nữ giống chị. Cứ mỗi mùa gặt, họ lại dập dìu trên đê, lượn lờ quanh lều của những thợ gặt, những người đàn ông giữ lúa và bọn nuôi vịt chạy đồng. Họ cố làm ra vẻ trẻ trung, tươi tắn nhưng mặt và cổ đã nhão, nhìn kỹ phát ứa nước mắt. Đêm đến, sau các đụn lúa, họ thả tiếng cười chút chít, tiếng thở mơn man... lên trời, làm nhiều người đàn bà đang cắm cúi nấu cơm, cho con bú trong lều thắt lòng lại. Tối nào mua rượu cho cha, chúng tôi cũng đi ngang qua những đôi người...

Chị, cũng giống như họ, chớm tàn tạ, đói rã ruột ở thị thành mới chạy xuống quê, cất cái quán nhỏ, giả đò buôn bán bánh kẹo lặt vặt, thực chất là “làm nghề”. Ở đó đàn ông dễ tính và thiệt thà. Chị sống nhờ những món tiền họ cắm câu đêm đêm, bằng tiền bán lúa, dừa khô hay những buồng chuối chín. Cũng có lúc thu hoạch bất ngờ, khi chị mồi chài một người đàn ông vào trò chơi giường chiếu, suốt hai ngày đêm, và chị được một triệu hai. Đó là vốn vay xóa đói giảm nghèo, khi về tới nhà, với tám trăm ngàn còn lại trong túi, hẳn người đàn ông ấy não nề biết bao nhiêu, oán chị biết bao nhiêu khi thấy vợ con nheo nhóc bu quanh nồi khoai luộc trong nhập nhoạng nắng chiều.

- Ăn trên mồ hôi nước mắt của người ta nên lâu lâu bị đánh cũng đáng đời, hen mấy cưng?

Chị nói, và ngả nghiêng cười, dường như chị thấy mình trả giá vậy cũng vừa. “Mà hên nghen, nhờ vậy mà gặp được mấy cưng, được ở chung vầy, vui thiệt vui...”.

Nhưng tôi và Điền biết thể nào chị cũng ra đi, trong mỏi mòn. Quãng thời gian chị bên chúng tôi, vì thế cũng mong manh. Nhiều khi lùa vịt ăn mót một đỗi đồng, nghĩ chị bỏ đi, Điền thảng thốt chạy về.

- Mấy cưng thương chị thiệt hả ? Tội chưa...!??

Chị ngạc nhiên, thấy nước mắt ràn rụa trên má thằng Điền (mà chị không biết là nó bị bệnh chảy nước mắt sống từ hồi 9 tuổi). Thật cảm động khi đời đánh ta tả tơi bầm dập, vậy mà hai đứa nhỏ này lại trìu mến, quyến luyến lạ lùng. Thêm một lý do nữa để chị ở lại với chúng tôi, trong một mùa hạn nóng bỏng, bất thường.

NGUYỄN NGỌC TƯ

Sự lưu luyến dành cho người đàn bà xa lạ. Cô gái giang hồ ngạc nhiên không hiểu. Hai đứa trẻ cũng không hiểu, chúng chỉ biết yêu thương bằng bản năng của những đứa con thiếu mẹ. Và nước mắt không ngừng rơi trên khuôn mặt thằng bé...

Đón đọc số tới: Câu chuyện về người mẹ lạc lòng