PDA

View Full Version : Đọc lại bài Vè...



anmota
11/27/2005, 10:50 AM
Tôi bỏ cả tiếng đồng hồ hơn , để phụ ông Châm giải thêm mấy chỗ...tờ mờ. Xong mới biết là mình quên log in... Gửi lên trời cái ' công cốc"...
Tức cái mình
AMT

anmota
11/27/2005, 10:54 AM
Bài vè Lụt Bất Quá Xin giới thiệu cùng các bạn Bài vè Lụt Bất Quá của Tú Tài Phan Thanh, người Huyện Sơn Tịnh.
Do chưa sắp xếp lại phần chú thích nên khi đọc có hơi khó chịu. Xin các bạn thông cảm.
PMT
----------------------------------------------------------------------
BÀI VÈ LỤT BẤT QUÁ

TÚ BẢY TỤC GỌI TÚ THẦY : PHAN THANH (TRÍCH TẬP SƯU TẦM VĂN HỌC
BÌNH DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI CỦA LỚP 10C TRUNG HỌC TRẦN QUỐC TUẤN
NIÊN KHOÁ 70 – 71)

GIÁO SƯ HUỲNH CHÂM SAO LỤC VÀ CHÚ GIẢI

Bài vè này trình bày một thiên tai liên quan đến một vài biến cố lịch sử. Thiên tai này có tên
là lụt “Bất Quá” nguyên nhân như sau : vào năm Tự Đức thứ 31, tức năm Mậu Dần 1878 lụt rất lớn. Lúc đầu nước vào vườn mọi người đều bảo : bất quá đến sân là cùng. Khi nước đến sân, bảo là bất quá vào nhà. Và người ta cứ nói “bất quá” cho nên trận lụt có tên là lụt Bất quá. Tác giả bài vè là một nhà nho, Ông Tú Bảy, tục gọi Tú Thầy tên Phan Thanh, đậu Tú tài kép, ngừơi làng An Nhơn (hiện Sơn An, Sơn Tịnh Quảng Ngãi). Dạy học, nhiều học trò giỏi đỗ đạt : Tạ Tương (Tiến sĩ Nhâm Thìn 1892) Đỗ Duân (Hội Nguyên) Trương Quang Đãn (Đông các Đại học sĩ) Lê Trung Đình (Cử nhân) …

Thuở vua Tự Đức trị vì
Thái hoà tự Võ (1) khác gì Đường Ngu (2)
Nơi nơi kích nhưỡng (3) ca cù
Thái sơn bàn thạch cơ đồ vững an

1) Tức Thế Tôn Hiếu Võ (1739 – 1766) đến đời Hiếu Võ họ Nguyễn mới bắt đầu xưng Vương.
Có lẽ là Thái hòa vũ /võ trụ.Có câu "Thái hòa vũ trụ bất Ngu Chu ". Thời nài trời đất, núi sông ,đất nước cũng có được cảnh thái hòa , chẳng cần nói đến thời Đường Ngu , thời nhà Chu bên Tàu ( AMT)
2) Hai đời thịnh tri nhất của các triều đại Trung Quốc
3) Đánh nhịp để khen ngợi.

Tuy loài hải thuỷ sơn man ( 3bis)
Cũng mến oai đức thê bằng (4) lai qui
Cớ sao vận hội bất kỳ
Năm ba mươi mốt can chi Mậu dần (5)
Tai trời khắp xuống chúng dân
Ba huyện (6) Quảng Ngãi mười phần tả tơi
Nắng cho năm bảy tháng trời
Lúa lang bắp đậu cháy phơi cánh đồng
Tháng ba bị háp (7) đã xong
Lúa nhồng, bát ngoạt làm đòng cũng khô
Rủ nhau đào giếng vét hồ
Kẻ múc người tát, hụi hô đêm ngày
Bờ xe (8) bờ đập cạn bày
Đất gò, đất thổ chẳng cày đám mô
Ngoài kinh chỉ dụ truyền vô
Dạy quan thiết lập Võ vu (9) mà cầu
Tỉnh cùng phủ huyện đâu đâu
Vái lạy các miểu mà cầu cho dân
( 3bis) có lẽ là thủy quái sơn thần/ thủy quái sơn tinh
Tuy loài hải thuỷ sơn tinh
Cũng mến oai đức thê bình (4) lai qui
(Hải tặc ,sơn man? Đời Tự đức giặc cờ đen, giặc mọi về quy thuận triều đình?)
4) Thê : là trèo thang, tức trèo núi; băng : vượt nước tức vượt biển
(có lẽ thê :đậu , thú vật 'lưỡng thế : ở cạn , ở nước đều được (ếch nhái )
5) Năm Tự Đức 31 tức năm Mậu Dần 1878
6) Ba huyện là Bình Sơn, Mộ Đức, Tư Nghĩa
7) Lúa bị nắng cháy một phần
8) Bờ xe nước
9) Đàn cầu mưa

Ba ngày nhập đảo một lần
Kể năm bảy thứ quỷ thần không linh
Phải lên Thiên Ấn cầu kinh (10)
Thấy Ông Di Lặc làm thinh cười hoài
Ông Đốc (11) nằm đất ăn chay
Quỳ hương niệm Phật nắng hoài mà thôi
Thầy tu ăn hết chuối rồi
Quan bị giáng phạt sợ thôi kinh hồn
Lại truyền cho khắp xã, thôn
Đảo cầu trống phách chiêng ầm vang tai

Thời trời cũng cứ nắng hoài
Giá lương, giá lúa càng ngày càng cao
Tháng năm tháng sáu chưa sao
Hạ tuần tháng bảy lương Tàu (12) mười quan
Ai ai nghe nói kinh hoàng
Dầu nhà có bạc, có vàng cũng nao
Muôn dân đói khát lao đao
Cả trong ba huyện sáu xứ nào cũng cay (12 bis)
(12 bis)Có lẽ câu này bị nhớ nhầm. " ba phủ sáu huyện ' xứ nào cũng gay ( gặp khó)/ cay : đắng cay nhiều bề?
10) Lệnh của kinh đô Huế
11) Trường thời bấy giờ dạy chữ Hán
12) Lúc bấy giờ mọi dịch vụ buôn bán đều do người Tàu : Lúa gạo cũng do người Tàu chở đi bán. Lương Tàu : Lúa gạo do Tàu bán.

Chức việc rủ đậu tiền tay
Kẻ nhiều người ít trợ rày cho dân
Mảng lo những kẻ cùng bần
Ai ngờ chức việc lần lần cũng bê

Bán cho đến hủ, đến ghè
Lãnh đường, lãnh mật, lãnh chè (13) mùa sau
Ngoài đồng chẳng có cọng rau
Củ nần, củ chóc cũng đào mà ăn
Đổ mèo, đổ rựa, đổ sen
Củ cun, củ cóc (14) cũng mằn cho ra
Nói chi trái gáo, trái da
An hết đu đủ làm qua bánh dầu
Kẻ này (15) cầm cố bò trâu
Người lạy bán ruộng, người cầu bán con

Lòng hằng (16) quân tử hãy còn
Tiểu nhân túng biến ra tuồng làm nhăng (17)
Đứa thời bẻ mít bẻ măng
Đứa thời giựt áo, giựt khăn, giựt quần
Ra đường cướp gánh, cướp bưng
Vào nhà xách chậu, xách nừng, xách nia

13) Nước chè hai, tức nước mía dùng làm đường
14) Những loại củ dại ngoài đồng có thể ăn được
15 này = nài , nài nỉ...Năn nỉ
16) Hằng tâm
17) Làm bậy

Xin (18) đâu cũng giọng sân si (19)
Nhà nào cho ít nó thì hăm he
Ban đầu đốt miểu, đốt tre
Lần lần đốt ngõ, sau nghe đốt nhà
Mỗi đêm lửa cháy sáng loà
Mõ ống (20) như nhái kêu la ỏi trời
Tuần phòng trát sức khắp nơi
Càng canh càng nhặt, càng vời (21) nhiễu nhương
Tỉnh thành biểu tấu triều đường
Sai quan Đoàn sứ (22) Thị lang trả về
Khâm tuân Hoàng Thượng châu phê
Tùy nghi điều tể (23) tính bề cho an
Phóng bằng (24) Cử, Tú hưu quan
Khuyên quyên tiền túc (25) cứu hoang (26) cho cần (27)
Các thầy thân vãng (28) xã dân
Vưng lời chỉ dụ phân trần thiệt hơn
Nước nhà dễ muốn bòn dân,

18) ăn xin
19) La lối
20) Mõ làm bằng ống tre
21) Nhiều
" Tỉnh thành biểu tấu triều đường"
Có lẽ là Tỉnh thần , quan coi tỉnh , như Tuần vũ .AMT
22) Quan chánh sứ họ Đoàn, Đoàn Đình Nhàn
23) Điều tế : điều hoà các vị thuốc với nhau
Có lẽ là Điều tể : nói về việc quan , ông quan AMT
24) Cấp bằng bừa cho những người không đậu nhưng những bằng này không
có giá trị
Phóng bằng?( ngờ là chữ gì khác ?)AMT
25) Gạo
26) Cứu đói
27) Siêng năng
28) Đích thân đi viếng

Gặp khi cơ cần (29) phú bần tương tư (30)
Các người dù có của dư
Cũng nhờ chúng nó buổi xưa cấy cầy
Giúp nhau khi đói mới hay
Nói chi bù cặp (31) những ngày ấm no
Các ngươi biết nghĩ biết lo
Cũng nên nhiều ít trợ cho dân tình
Huống chi có chỉ triều đình
Vua ngài không phụ ơn mình ở đâu
Sáu mươi (32) chuẩn miễn (33) binh diêu (34)
Phân đầu (35) thâu liễm ít nhiều sẽ hay
Ai mà quyên xuất tiền tay
Tám trăm một trật sắc rày Vua ban
Sáu trăm tùng cửu phẩm quan
Dư hữu ứng thí cho hàm văn giai (36)
Người nào so vắn tính dài
Có ý sắc lận giải ngay Tỉnh đường
Có người cũng sợ phép quan

29) Cơ : đói nhưng còn có rau mà ăn. Cần : đói không có rau mà ăn
30) Giúp đỡ lẫn nhau
31)bù cặp Giúp đỡ. Có lẽ do chữ hán 'bổ cập'
32) Quan tiền
33) Chấp nhận cho khó
34) Việc binh
35) Chia đầu người
36) Người nào có đi thi thì cho hàm văn giai lớn hơn hàm vỏ

Có người hiếu nghĩa ráng gan mà làm
Kẻ xin ta tiểu (37) phẩm hàm
Người xin tùng, chánh (38) quan Khâm cũng ừ
Bao nhiêu tiền túc (25) tích chừ (39)
Chiếu theo tổng lý khai tờ mà phân
Thứ, thậm (40) nhị hạng bần dân
Nửa chẩn, nửa thại (41) quân ân khắp đều

Hãy còn những đứa vô liêu (42)
Dạo xin làng xóm, cướp phiêu dân lành (43)
Bảng treo các chợ rành rành
An mày đau ốm thiệt tình hãy cho
Nhược bằng những kẻ côn đồ
Lập hành nả giải (44) chớ cho lăng loàn
Đóng năm bảy đứa một gian (45)
Kéo đi cả lũ như đàn kênh kênh
Mỗi chiều mỗi dắt cổ lên
Đánh cho thúi thịt lại bền (46) câu giam

37) Ít nhiều , (ta tiểu : Đại tiểu , Đa thiểu nói trại theo dọng người Hoa nam?)
38) Cùng một ngạch nhưng có hai trật : chánh (lớn hơn) tùng (nhỏ hơn)
39) Xưa nay
40) Thứ : hạng vừa, thậm : hạng quá
41) Chẩn : cho luôn. Thại : cho mượn
42) Du đãng
43) Trốn tránh
44) Phải lập danh sách tróc nả bắt giải
(chữ lập tức đọc ra là lập hành? amt)
45) Một ngăn của cái gông
46) Lầu

Loài gian mựa tiếng ghê hồn (47)
Đam (48) nhau trốn núp âm thầm nín hơi
Phút đâu chuyển động cơ trời
Mười bốn tháng tám khắp nơi bà đà (49)
Bốn phương thấy trận mưa sa
Mừng như cha mẹ thác mà sống nay
Lăng xăng kẻ cuốc, người cày
Đám gieo, đám ma trời nay trả mùa
Nhiều nơi bàn định hơn thua
Ta tỉa bắp thẻ (50) bắp mùa mau ăn
Làng trên xã dưới giăng giăng (51)
Nà (52) nào nà nấy tốt bằng đổ phân
Thấy cây thấy lá đương mừng
Ai cũng kể chắc chạy lần mà ăn (53)


47) Nghe tiếng
48) Đem
49) Mưa to lắm
50) Một loại bắp nhỏ trái hai tháng rưỡi là thu hoạch
51) Đâu cũng có
52) Khu đất trũng rộng
53) Kiếm ăn lần hồi
54) Tiền giả do Tàu mang vào Việt Nam tiêu, mỏng, lỗ to hơn tiền Việt. Tên Huỳnh Quang lái buôn chủ mưu bị tử hình
55) Đến

Có tiền mua cũng khó khăn
Hay đâu tháng chín lộn xen tiền Tàu (54)
Nhà nghèo chí liễn (55) nhà giàu
Lỗ to, lỗ nhỏ (56) cãi nhau tối ngày
Một hai kẻ có còn may
Kêu trời khóc đất thảm thay nhà nghèo
Lãnh công lãnh chẩn bao nhiêu
Đem mua gạo bắp chợ đều không ăn
Xỉa ra nó sáng nó dằn
Mủng tràng (57) đậy lại vùng vằng ném ra
Chợ nào có đánh có la (58)
Nó bán tiền (59) gạo đáng ba mươi đồng

Có người xách mủng về không
Liu chiu lít chít với chồng với con
Mấy đồng tiền điếu (60) hãy còn
Để đó mà ngó ,chồng con ăn gì
Bao giờ chỉ nghị có về
Ăn mấy ăn mấy một bề cho xong


56) Vì tiền giả lỗ to
57) ' dằn/dằng, xán/xáng ' = giật , đập mạnh, tỏ ý bực tức.Tràn/g : Làm bằng nan, hình tròn dẹp, dùng để đậy
58) Về sau làng xã tự động ra lệnh cho bạn hàng phải ăn tiền giả. Bà Từ Dủ phải quy định đồng tiền giả này ăn ba đồng (trước tiền giả này cũng ăn sáu đồng )
59) Một tiền là 60 đồng
60) Tiền điếu là tiền lớn ăn sáu đồng. Tiền giả này cũng là loại tiền điếu.
( có lẽ phải tìm xem lại định nghĩa : đồng điếu , tiền điếu...AMT)
Tháng mười đương tạnh khi không
Nửa đêm mười bốn đùng đùng gió mưa
Mười rằm mười sáu còn vừa
Sang ngày mười bảy lụt mưa ba đào
Trên nguồn, dười biển cũng đào (61)
Chỗ thấp ngập nóc, chỗ cao lên dàn (62)

Um sùm trống mõ la làng
Bò ồ, heo éc kêu vang tứ bề
Kẻ chun cu đĩ (63) kêu ghe
Người trèo lên nóc kêu bè đưa đi
Giữ nhau cho khỏi lưu ly
Bò trâu nhà cửa trôi gì nó trôi
Gia tài khí mảnh (64) vô hồi
Nhân đinh (65) súc vật kể đôi mươi ngàn
Dưới sông kẻ dọc người ngang
Trên bờ chiu chít thở than bồi hồi
Ai mà thác mất đã rồi
Ai còn sống lại cũng ngồi nhịn trong (66)
Đói mà còn sống cũng xong
Thương người trôi nổi dười dòng nước sâu
Kẻ kêu khóc vợ con đâu
Người thảm cha mẹ, người rầu anh em

61) (dào )Nhiều, đầy
62) Rầm nhà bằng tre
Giàn / Rường
63) Phần trống ở hai bên nóc nhà.
( cu / khu/ câu : có lẽ là chữ 'giao/ cao ' , đỉ/đĩ : có lẽ là một chữ nào đó , người hoa đọc, ta nghe tương tự...như đỉ, đĩ. Hoặc là giao đỉnh chăng? Người mình học nghề xây nhà cửa, làm nhà có bốn mái.Nơi đầu hồi chỗ ba mái chụm /gặp nhau, chỗ trống hình tam giác , các ông thợ mộc gọi như thế thành tục.Lẽ nào một chỗ cao trên nóc nhà , mà gọi là cái khu của con đĩ?Tôi đã thất các ông cố đạo người Pháp dịch...'mot à mót là cái khu con đĩ ! AMT )
64) Vật liệu, đồ đạc
65) Người
66) Nhịn đói

Sang ngày mười tám nửa đêm
Mở (67) ba cửa biển (68) gió êm nước ròng
Ai mà thác mất đã xong
Ai còn sống lại trong lòng xót xa
Về coi nát cửa hại nhà
Gạo bắp trôi hết, heo gà cũng không
Đời cha chí liễn (55) đời ông
Lụt sao cá biển lên đồng sinh con
Trên nguồn lở núi, lở non
Đồng nội sanh lý chẳng còn vật chi
Lang trôi, bắp ngã li bì
Đổ khô, mạ dập lấy gì nuôi nhau
Lâu nay khó cậy nhà giàu
Từ nay đói khát ốm đau ai giùm
Nơi nơi than khóc um sùm
Có đất có ruộng cố cầm cho ai
Tỉnh thành biểu tấu bị tai (tỉnh thần biểu tấu bi tai? amt)
Nhứt diện phái (69) khám nhà, người, bò, trâu
( khám? Kiểm ; trâu? ngưu , vần kế là lưu...- tồn nghi
Nhơn đinh súc vật cũng biên AMT)
67) Cửa sông bị cát lấp, bây giờ lụt lớn khai thông
( Có lẽ là còn có những cái "cửa lở" mới lở thêm ra, ngoài các cửa cố cựu. Mùa khô, bãi ngang , các cửa này tự lấp lại ...AMT)
68) Đó là ba cửa : cửa Thế cần và cửa Sa Kỳ (Bình Sơn), cửa Cổ Luỹ (Tư Nghĩa)
69) Cho người về khám nhà, người, bò, trâu
( có lẽ nguyên văn có khác đi. Câu này có vẻ lủng củng. Do người truyền...nhau , tam sao thất bổn? AMT)

Nhà ai sở bị phiêu lưu (70)
Hạng thậm (71) thì phát mỗi đầu hai quan
Nhà ai sở bị thường thường
Hạng thứ thì phát một quan hai tiền (72)
Nhơn đinh súc vật cũng biên
Còn chờ ấn chỉ (73) truất tiền bao nhiêu
Ơn vua nhờ cũng đã nhiều
Nắng rồi lại lụt của đâu cho thường
Triều đình bách kế thiên phương (74)
Sao cho lê thứ (75) tiện đường sinh nhai (toại)

Tuy quan điều tể có tài (76)
Tai trời, vận nước thì ngài biết sao
Lần hồi bữa cháo, bữa rau
Chầy chầy may đặng bữa nào sẽ hay
Chữ rằng : Bỉ cực thái lai (77)
Có đâu trời nỡ hại hoài dân ta
Quê mùa mấy chữ nôm na
Đủ biên sự tích để mà nghe chung
( Hết)
===============
70) Trôi
71) Quá
72) Thường
73) Lệnh vua cho
74) Trăm phương nghìn kế
75) Dân đen
76) Quan họ Đoàn, xem chú (22)
77) Thời vận xoay chuyển, hết xấu lại tốt.

anmota
11/28/2005, 11:08 PM
Có lẽ tôi phải phụ với ông Châm trong việc ' chú giải' bài vè ...Đó là bổn phận , trách nhiệm ...đối với người đời sau ?
AMT

anmota
11/28/2005, 11:38 PM
Thuở vua Tự Đức trị vì
Thái hoà tự Võ (1) khác gì Đường Ngu (2)
Nơi nơi kích nhưỡng (3) ca cù
Thái sơn bàn thạch cơ đồ vững an

1) Tức Thế Tôn Hiếu Võ (1739 – 1766) đến đời Hiếu Võ họ Nguyễn mới bắt đầu xưng Vương.
2) Hai đời thịnh tri nhất của các triều đại Trung Quốc
3) Đánh nhịp để khen ngợi.
----------------
(1) Có lẽ là thái hòa vũ trụ .Một thành ngữ của các nhà Nho .
Tức Thế Tôn Hiếu Võ (1739 – 1766) đến đời Hiếu Võ họ Nguyễn mới bắt đầu xưng Vương.
Bảo ông Tú Phan ...so sánh vua Tự đức với Hiếu võ vương,e lại khiên cưỡng ...
(2) Đường Ngu ,
Đường đế Nghiêu (2356), còn gọi là Đào Đường,
Ngu đế Thuấn ( 2255), còn gọi là Hữu Ngu .
(3)kích nhưỡng ca cù:( vỗ vò đất/ như trống/ nhạc khí ...vừa đi vừ hát trong đường về ), Khổng tử có người học trò tên Điểm nói cho nghe cái ' chí lớn ' nếu mình được cai trị dân . Ông sẽ làm cho dân của ông :
" mặt trời mọc thì đi ra khỏi nhà mà làm lụng, mặt trời lặn thì nghỉ .Đào giếng kiếm nước uống , cày cuốc để kiếm cái ăn...chiều đến đi hóng mát nơi cái gò đền Vũ vu , trên đường về nhà thì vỗ vò mà hát ..."
Thái ( ?) sơn bàn thạch cơ đồ vững an (?)