PDA

View Full Version : Quyền lực



Yamaha
03/05/2006, 04:57 PM
Nguồn gốc của quyền lực
Nguyễn Gia Thưởng

Vào những năm 1961 và 1962, ông Stanley Milgram đã thực hiện một cuộc thí nghiệm nổi tiếng tại Đai Học Yale để chứng minh một cách rõ rệt là con người trong một khuôn khổ nào đó không cưỡng lại lệnh của cấp trên mà chỉ biết tuân theo một cách mù quáng không phân biệt phải trái, vì trách nhiệm thành bại đã có một cấp bậc có thẩm quyền gánh chịu hoàn toàn.

Một người rất là bình thường đã được một cơ quan nghiên cứu khoa học mời đến để tham dự một cuộc thí nghiệm, mà kết quả có một tầm quan trọng rất lớn. Đương sự đứng trước một cái máy có thể gây điện giựt mỗi lúc một đau đớn hơn cho một thí sinh đã trả lời sai trước một số câu hỏi. Lẽ cố nhiên đây chỉ là một dàn cảnh và thí sinh trả lời sai và kêu la rên rỉ chỉ là một nguời đóng kịch, nhưng người gây điện giựt hoàn toàn không biết điều này. Nhà khoa học ra lệnh và người gây giựt điện tuân theo không ngần ngại.Cuộc thí nghiệm này đã được lập lại khắp nơi trên thế giới và kết quả đều giống nhau. Một người công dân hiền hoà, dễ thương có thể hành hạ những người xa lạ mà mình không biết, chỉ vì một « cấp trên » nào đó yêu cầu họ làm như vậy. Cấp trên này là một biểu tượng quyền uy mà người công dân bình thường tin tưởng và ngưỡng mộ và việc làm này củng cố bản năng sinh tồn của đương sự. Đây là mối tương quan giữa quyền lực và sự hiểu biết. Nơi nào có con người, nơi đó có quyền lực. Vậy quyền lực phát sinh từ đâu ?

Quyền lực phát sinh từ đâu ?

Quyền lực là một thực tế và cũng là một nhu cầu. Nó là một thực tế vì chúng ta thấy nó ở khắp mọi nơi. Nó hiện diện từ khi con người xuất hiện và trải qua hàng thế kỷ nó luôn hiện diện trong các gia đình, các làng xã, các bộ lạc, các băng đảng, các đảng phái, các công đoàn, các xí nghiệp, các công xưởng, các quốc gia. Từ những nơi này đã phát xuất ra những tay đầu đảng, những cấp chỉ huy, những nhà lãnh đạo, những vị anh hùng. Đó cũng là một nhu cầu, một nhu cầu căn bản của loài người mà không mấy ai chú ý đến, vì nó liên quan mật thiết đến bản năng sinh tồn của con người. Khi môi trường thay đổi và đe dọa mạng sống, những cơ cấu đặc biệt bắt đầu chuyển động nhằm mục đích bảo vệ mạng sống đó. Từ con vi khuẩn cho đến con người những cơ cấu này giống nhau. Đúng trước một hiểm họa, một sinh vật có hai lựa chon : một là trốn chạy hay là phản ứng tự vệ. Với sự tiến hóa, việc trốn chạy nơi con người biến thành thoái lui và việc phản ứng tự vệ biến thành việc xác nhân bản ngã. Lâu ngày những phản ứng này trở thành những vũ khí nhằm bảo tồn trí tuệ, nó được vận dụng để bảo tồn ý kiến, bảo tồn tín điều và nhằm cứu gỡ thể diện trong những cuộc tiếp tân, trong các cuộc hội họp : đó là việc duy trì uy tín và danh giá của cá nhân.

Cá nhân đứng riêng rẽ một mình có toàn quyền quyết định chạy trốn, giả chết, giả ngu, giả dại hoặc tấn công trả đũa. Nhưng trong trường hợp một nhóm hay một tổ chức, tính cách liên lập có khuynh hướng vô hiệu hóa những phản ứng của cá nhân, tất cả mọi người lúc đó nhìn về phía người có uy quyền nhất, hoặc nguời có bản lãnh nhất, tùy theo trường hợp, vì người này có thể chất cao do trí tuệ, do lòng can đảm, do hào khí (charisma), nói tóm lại là nhờ có uy lực. Trong gia đình cũng như trong xã hội, nhằm mục đích bảo vệ khả năng sinh tồn về thể chất cũng như về tinh thần, sự hiện diện của người lãnh đạo, đứng ra gánh vác mọi trách nhiệm là một điều cần thiết, là một nhu cầu, giống như một đứa bé có nhu cầu trông cậy vào bố mẹ.

Những yếu tố nào tạo nên người lãnh đạo

Việc xác định bản ngã cuối cùng dẫn đến việc chế ngự người khác. Trong lòng xã hội các sinh vật hữu nhũ luôn có những thành phần thống ngự (dominants) và thành phần bị trị (dominés). Bình thường, sinh vật bị trị bảo tồn sinh mạng của nó bằng cách tuân lệnh, và luôn khép mình dưới sự lãnh đạo của cấp chỉ huy vì đuơng sự cảm thấy thoải mái không phải nhận trách nhiệm mà lại thêm vào đó được sự an toàn của bản thân. Ngược lại sinh vật có tính thống ngự luôn có khuynh hướng áp đảo. Như vậy vấn đề lãnh đạo và vấn đề thứ bậc là một định luật tự nhiên. Chúng ta chối bỏ việc phân chia thứ bậc là chúng ta chối bỏ luật thiên nhiên. Phải chăng tinh thần thống ngự trong một nhóm là một yếu tố thuận lợi cho sự sinh tồn của nhóm đó. (trong chiều hướng này, đảng CSVN cố gắng bảo tồn hình ảnh của ông Hồ để bảo vệ chính sự sinh tồn của đảng)

Như vậy xã hội có thể được ví như những ô dù đan lẫn vào nhau. Bào thai được bà mẹ bao bọc che chở, sau đó là đứa bé được bố mẹ chăm sóc và khi trưởng thành con người tuân phục được cấp lãnh đạo nâng đỡ, cất nhắc. Có một số muốn thoát ra khỏi hệ thống này đã quay sang Thượng Đế để tìm nơi nương tựa. Là công dân một nước, con người tìm đến mô hình xã hội dân chủ hoặc mô hình xã hội độc tài, vì những kẻ độc tài luôn luôn quy chiếu đến dân, luôn lớn tiếng là hành xử vì dân và cho dân. Mỗi khi có đe dọa xẩy đến, cấp lãnh đạo được mời mọc và được dùng như một phương tiện để bảo tồn sinh mạng của tập thể. Từ thái độ chấp nhận cho đến thái độ thỏa hiệp, rồi từ cách ban bố lệnh đến việc tuân hành lệnh, quân bình đựoc tái lập và từ đó xã hội thành hình. Mô hình của một xã hội chặt chẽ nhất chính là quân đội.

Khát vọng quyền lực là một biến thái bệnh họan của nhu cầu quyền lực. Kẻ có quyền lực rất dễ rơi vào nhu cầu biến kẻ khác thành nô lệ. Kẻ khác là một chướng ngại vật cần phải được biến thành dụng cụ sai khiến. Các tên độc tài điển hình như Hitler và Stalin có cùng một đặc tính : họ rất nhạy cảm trước sự đe dọa của người khác, nên tính đa nghi của họ không kém gì nhân vật Tào Tháo thời Tam Quốc, đôi khi còn vượt trội hơn nhiều.

Chân dung người lãnh đạo

Ngày nay danh từ lãnh tụ, lãnh đạo hoặc nôm na là danh từ xếp, chẳng ai ưa thích cả. Các quyền lực độc tài của thế kỷ thứ 20 đã để lại những dấu vết quá đỗi kinh hoàng nên danh từ này mang theo nó một ngữ nghĩa không mấy tốt đẹp. Nhưng nhìn đi nhìn lại, xung quanh chúng ta chỉ toàn là xếp, không xếp lớn thì cũng xếp nhỏ, từ anh xếp nhân viên quét đường cho đến vị nguyên thủ quốc gia. Có một điều thú vị là sau một cuộc bầu cử, người đắc cử cám ơn những người bầu cho mình; lý ra những người bỏ phiếu bầu phải cám ơn người được bầu, vì người này phải đứng ra gánh vác những trọng trách do tập thể trao phó. Nhưng không. Người được đề cử sẽ nắm giữ quyền hành và vì vậy đương sự cám ơn sự tín nhiệm của những người khác. Người lãnh đạo có trách nhiệm rất nặng và chấp nhận rủi ro thành bại và trong mọi trường hợp phơi bày hoàn toàn con người của mình. Về mặt tâm lý, người lãnh đạo có đặc điểm vừa xác định bản ngã của mình đồng thời vừa nhận trách nhiệm. Người lãnh đạo cũng biết sợ hãi như mọi người, đôi khi cảm nhận hiểm nguy nhạy bén hơn, sớm hơn và bao quát hơn mọi người. Chính nhờ những đức tính này mà người lãnh đạo được mọi người tín nhiệm. Đưong sự có khả năng lựa chọn và chấp nhận rủi ro. Việc tháo lui hay tấn công nơi đương sự không còn là một phản xạ nữa mà là những đường đi nước bước có tính tóan. Người lãnh đạo nhờ có tinh thần sáng suốt biết rõ việc bảo tồn bản thân và bảo tồn những giá trị mà đương sự luôn ấp ủ tùy thuộc vào hành động mình làm. Đương sự chế ngự bản năng sinh tồn của mình đến độ nếu xét cần thiết hy sinh mạng sống của mình để chu toàn trách nhiệm hoặc bảo toàn sinh mạng để hoàn tất trách vụ. Ngạn ngữ « Chết vinh hơn sống nhục » nói lên rõ tính chất cao thượng của cấp lãnh đạo. Đức tính của cấp lãnh đạo có thể tóm tắt vào bốn điểm : khả năng (khả năng hiểu biết và khả năng phán đoán), gương mẫu, tinh thần kính trọng và lòng can đảm. Vì không có tinh thần vụ lợi cá nhân, cấp lãnh đạo xác định bản ngã cho quyền lợi của tập thể và chính vì vậy cấp lãnh đạo phải có tinh thần nhân bản hoặc có một lòng tin vững trãi và cao độ. Đó là hình ảnh lý tưởng của cấp lãnh đạo. Quên thân mình là một điều thiết yếu. Người lãnh đạo hiện diện để bảo vệ nhóm của mình, về mặt tinh thần cũng như về mặt thể chất, chống lại những nhóm khác. Tinh thần của người lãnh đạo phải ở một trang thái hướng thượng cao độ và vượt lên trên bản năng sinh tồn. Bằng không quyền lực của người lãnh đạo chỉ là một phong cách và từ đó có thói quen biến những giả thuyết thành sự thực, những ý kiến của mình là những sự thật hiển nhiên và chủ trương của mình là chân lý (không gì lay chuyển nổi). Đó là thiên đường giả tạo mà người lãnh đạo rất dễ rơi vào và say mê theo đuổi như theo đuổi ả phù du. Tình trạng nguy hiểm nhất là lúc việc xác định bản ngã đạt đến cao điểm của nó và trở thành động cơ của tất cả mọi hành động. Trí tuệ máy móc của con người lầm tưởng rằng người lãnh đạo lúc đó phục vụ cho tập thể và nguy cơ độc tài không xa.

Quyền lực và chính trị

Có lẽ sinh họat chính trị là một trong những sinh họat mà người ta thấy rõ nhất việc tìm kiếm quyền lực. Những động cơ tìm kiếm có thể là ước vọng phục vụ một lý tưởng cao đẹp, có thể trong một mức độ thấp kém hơn là tham vọng chiếm đọat quyền lực để sử dụng nó như một dụng cụ thỏa mạn những thú vui của cuộc đời. Trải qua bao kinh nghiệm lịch sử đẫm máu, con người đã dọ dẫm tìm ra thể chế dân chủ là khả dĩ phần nào kìm hãm những giây phút ngây ngất của những vị lãnh tụ đam mê quyền lực. Nhưng, đúng như Winston Churchill đã nói, thể chế dân chủ là một thế chế ít tồi dở nhất, có nghĩa là cho đến bây giờ vẫn chưa có thể chế nào là hoàn hỏa cả. Phần đông cho rằng thể chế dân chủ là toàn hảo, nhưng thể chế này cũng như mọi thể chế khác đều có những mặt tích cực và những giới hạn của nó. Đặc tính của thể chế dân chủ là bầu cử. Trong những cuộc bầu cử, có những hứa hẹn không thực hiện được đưa đến lừa dối và giả hình. Chưa kể đến việc lợi dụng mô hình bầu cử để che đậy thực chất độc tài của một chế độ. Hiếm có những tố chức có dự án chính trị hứa hẹn căm go mà được dân bầu, họ phải im lặng để thắng cử.

Truờng hợp ngoại lệ là vào năm 1940, Thủ Tướng Anh quốc Churchill hứa hẹn với các dân biểu « chỉ là máu, là cố gắng, là nước mắt và mồ hôi.» (1).Quôc hội Anh nghe va ủng hộ ông ta vì không còn con đường nào khác : cố gắng đánh đổ Hitler bằng không sẽ bị tiêu diệt bới họa Quốc Xã. Cấp lãnh đạo giỏi là cấp lãnh đạo vượt lên trên những xác tín thông thường, vượt lên trên bản năng sinh tồn, đứng trước những thực tế, tìm ra đuợc những giải pháp khác với giải pháp mà mình ưa thích, cho dù chính bản thân đau khổ.

Việc cử tri phải lựa chọn và chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình là một động tác không mấy dễ chịu, nó có chiều hướng kích thích bản năng sinh tồn trốn chạy. Chính vì vậy đảng là một cơ cấu giam cầm cử tri trong những xác tín và khiến cho cử tri an tâm hơn.

Từ thái độcó cảm tình và yêu mến một biểu tượng cho đến khi gia nhập một tổ chức để thực hiện ước vọng cao đẹp đó là cả một sự khác biệt to lớn. Vì khi gia nhập, người đó phải bỏ đi một ít quyền lợi cá nhân để có cơ thực hiện cái chung bằng không sẽ có những xung đột giữa quyền lợi cá nhân với những giá trị của tổ chức.

Sinh họat chính trị thường được phân thành hai cực: tả và hữu, bảo thủ và cấp tiến. Đối với cánh hữu, tinh thần là phản ảnh của những tinh túy đã có trước sự sinh thành của các loài vật. Tinh thần bắt nguồn từ một quyền lực tối cao mà chúng ta phải thờ phụng : đó là Thượng Đế. Từ xác tín này, nhiều người cho rằng chúng ta có toàn quyền quyết định và có tự do hoàn toàn để từ đó con người nhận lãnh trách nhiệm và xây dựng nhân cách của mình, nhưng cuối cùng con người ủy thác tất cả cho Thượng Đế.

Đối với cánh tả, duy vật hơn, tinh thần là một biểu hiện của tính chất phức tạp của vật chất. Do đó, quyền lực con người đặt trên nền tảng của sự hiểu biết : không có gì vượt trội hơn con người và từ đó con người được tự do. Phẩm cách con người do con người tự tạo nên, không tùy thuộc vào bất cứ một vật thể siêu hình nào.Con nguời tự tôn vinh con người, từ đó phát sinh chủ thuyết nhân bản, con người và lịch sử con người trở thành linh thiêng. Vai trò của xã hội vì vậy trở thành một yếu tố quyết định tương lai của con người, xã hội chiếm vị thế thống trị và cuối cùng đi đến cao điểm cùng cực nó, chủ nghĩa cộng sản (hay xã hội chủ nghĩa) xem người thợ như một tên lính phải hoàn toàn phục vụ cho thành công kinh tế của một xã hội mới. Nhân danh một xã hội mới tốt đẹp hơn, con người đã bị hy sinh. Kết quả hoàn toàn trái ngược lại với ước vọng thực hiện tinh thần nhân bản tự thuở ban đầu.Nói tóm lại, cánh hữu phát sinh từ sự tin tưởng vào Thượng Đế, cánh tả phát sinh từ chủ nghĩa vô thần và tinh thần khoa học.

Cánh trung lập có thể nào là một tổng hợp của hai khuynh hướng trên ? Trung lập chỉ là kết quả nối tiếp sau sự xung đột giữa những khuynh hướng khác nhau và cuối cùng đi đến một thỏa hiệp. Tạo dựng một cánh trung lập trên thực tế là một ảo tưởng, vì trung lập là bất động. Thế trung hoà hoặc thế quân bình là một vị thế thoáng chốc của cái kim trên cán cân, nó không thể nào ở mãi mãi vị thế đó được. Trên phương diện chính trị đó là sự bất động, là sự ù lì, là sự bất biến không thay đổi. Thực tế chứng minh sinh họat của con người luôn nằm trong những thế giao động, lớn nhỏ tùy theo chiều sâu của những xung đột.

Chủ nghĩa cộng sản xuất hiện đầu thế kỷ thứ 20 với một mô hình xã hội tuyệt vời nhờ vào một cuộc nghiên cứu có tính cách gọi là « khoa học ».Xã hội chủ nghĩa sẽ thành công với một số định đề và một chút ít võ lực. Ban đầu võ lực chỉ nhắm các thành phần lãnh đạo (thành phần tư sản, thành phần điền chủ) nhưng rồi phương tiện biến thành mục tiêu, và việc tiêu diệt không chỉ giới hạn ở thiểu số cao cấp mà đã trở thành một tín điều với tất cả bản tính dã man, điên cuồng, sát máu của những Lênin, Dzerjinski, Stalin.

Có một điều lạ lùng là có những con người bình thường, thậm chí là trí thức vốn dĩ phải được coi là có tinh thần sáng suốt lại đi theo những tên quái vật này. Phải chăng vì muốn bảo tồn sinh mạng nên họ câm lặng, nín thinh. Có lẽ từ bỏ một tín điều, một chủ thuyết hay một chủ nghĩa mà cá nhân người trí thức đã từng tin cậy và đã từng ủng hộ là một sự hủy hoại tinh thần, vì muốn bảo tồn trí tuệ nên không chấp nhận việc này. Đảng CSVN vẫn còn tồn tại có lẽ cũng nhờ quán tính không muốn thay đổi này của người dân, thêm vào đó việc ngăn chặn thông tin, bóp méo sự thật có hệ thống và có tổ chức của tập đoàn CSVN càng làm người dân chìm đắm trong sự ngu muội. Đối với thiểu số đang phục vụ đảng và thừa hưởng ơn huệ của đảng, việc từ bỏ những ưu đãi và ân sủng là một việc làm khó khăn và đau đớn, vì nó đi ngược lại việc bảo tồn tinh thần và thể xác. Họ không thấy họ sẽ có quyền lợi nhiều hơn khi đảng CSVN không còn.

Quyền lực chính trị nhằm đem lại phúc lợi cho nhân dân chỉ được thể hiện đúng đắn là nhờ vào tinh thần sáng suốt, lòng can đảm, tinh thần vuợt thóat và lòng trung chính của cấp lãnh đào. Thiếu vắng những đức tính trên quyền lực chỉ phục vụ cho sự giả dối, sự xa dọa và chỉ tạo nên những thảm cảnh.

Quyền lực và sự hiểu biết

Hiểu biết là một dụng cụ của quyền lực. Từ anh thầy pháp chữa bệnh trong bộ lạc cho đến những nhà khoa học giải thích những nguyên lý của vạn vật và ông giáo sư truyền bá cái học của mình cho học trò, sự hiểu biết họăc là cái gọi là hiểu biết tạo nên quyền lực cho họ. Kẻ muốn học hỏi ở vị trí thấp kém hơn kẻ ban bố sự hiểu biết. Quyền lực dựa trên hiểu biết có thể sử dụng bằng nhiều cách : cách lành mạnh nhất là cho không hay là đem bán sự hiểu biết của mình một cách luơng thiện; cách ranh mãnh là dùng nó để đánh lừa thiên hạ và cách quỷ quyệt nhất là khống chế người khác bằng cách khai thác bản năng sinh tồn của con người. Trường hợp điển hình nhất là thí nghiệm của Stanley Milgram đã viện dẫn ban đầu(2)

Ngày xưa sự thông thái và sự hiểu biết chỉ giới hạn ở một thiểu số, ngày nay nhờ vào điện thọai, truyền thanh, truyền hình, điện tử, điện toán, vân vân, có thể nói rằng sự hiểu biết của con người đã được mở rộng. Đã có lúc một số người tưởng mình là Thượng Đế sau khi đã cho con người thụ thai trong ống nghiệm, thành công trong một vài thí nghiệm y học. Cho đến nay những hiểu biết của con người về y khoa và sinh vật học vẫn còn giới hạn. Và vì giới hạn nên có thể đưa đến những thảm cảnh mà chính con người không lường trước được. Tuy nhiên hố sâu giữa những thành phần hiểu biết và thành phần thứ dân càng ngày càng lớn. Thành phần trí thức ưu tú đang lần hồi thay thế những giáo quyền. Thành phần trí thức nên khiêm nhường và không đựoc quên ba điều : thứ nhất, trí thức phát xuất từ nhân dân, trí thức hiện diện cũng là nhờ công của cộng đồng đã kiến tạo nên nó; thứ hai trí thức không nên nhường bước cho tham vọng quyền lực để chứng tỏ là mình có khả năng quán xuyến toàn bộ ; thứ ba là họ phải biết giải thích một cách đơn giản những gì họ đang làm, những gì họ biết và những gì họ không biết. Đó là một việc làm cao thượng và cũng là một lời chân thành cám ơn.

Quyền lực và tôn giáo

Tôn giáo và những biến thể của tôn giáo là những sản phẩm đặc thù do trí tuệ của con người tạo nên để đáp ứng nhu cầu bảo vệ bản năng sinh tồn. Đó là một cuộc đấu tranh chống lại tử thần với tất cả những nghi thức nhằm đánh đuổi nó. Tôn giáo đem niềm hy vọng tái sinh đến cho con người và đáp ứng nhu cầu vượt thóat của con người. Con người chấp nhận Đấng Tối Cao, bù lại được Ngài che chở, bảo bọc và đáp ứng bản năng sinh tồn của con người. Nhưng đã xẩy ra qua nhiều trường hợp, có một số vì tham vọng quyền lực đã lợi dụng lòng thành kính này đế khống chế người khác, để thỏa mãn những dục vọng cá nhân.

Cách đây không lâu, trên những ngọn đồi Nilgiri, tại Ấn độ, sinh sống bốn bộ lạc. Bộ lạc Badaga sống về nghề nông, bộ lạc Kota chuyên về thủ công nghệ, bộ lạc Toda sống về nghề chăn nuôi và bộ lạc thứ tư Kurumba không sản xuất một sản phẩm nào cả nhưng họ có một món hàng mà cả ba bộ lạc kia đều sẵn sàng trả giá cao để có món hàng đó. Bộ lạc Kurumba bán cho ba bộ lạc kia ảo tưởng kiểm soát được sinh mạng và cuộc đời của họ, kiếm soát được cả tử thần, họ đơn thuần là phù thủy. (3)

Chủ nghĩa cộng sản vào thời cực thịnh của nó, được tôn lên như một tôn giáo đã cung cấp ảo tưởng kiếm soát được một xã hội tốt đẹp. Người thợ nhận lãnh huy chương lao động có ảo tưởng đã đi vào lịch sử của một thế giới mới.

Quyền lực tinh thần tự nó không có gì xấu sa, nhưng một khi con người nhân danh đấng Tối Cao và tự nhận mình là phát ngôn nhân của Ngài, sử dụng nó để phục vụ những tham vọng thấp hèn của con người, ai là người sáng suốt để vạch trần điều này?

Quyền lực tại Việt Nam

Quyền lực là một thực tế. Nó là một trong những yếu tố cấu tạo nên xã hội. Khi có nguy biến con người luôn tìm đến và hướng về cấp trên. Có những kẻ vì tham vọng quyền lực tranh đấu để trở thành cấp lãnh đạo, nhưng cũng có những người có ý thức, có lòng lương thiện, có một niềm tin trong sáng hoặc do sự thúc đẩy của tình thế, được yêu cầu đứng ra nhận trách nhiệm để phục vụ mọi người.

Đảng CSVN hiện nay cai trị nhân dân Việt Nam bằng những thủ đoạn và không hề có những nguyên lý chính trực. Họ không khác gì anh thư công (chủ đàn vượn) trong chuyện của Lưu Cơ (1311 -1375):

“Thời nhà Chu có một lão già sinh sống nhờ bắt đàn vượn làm việc cho lão. Thiên hạ gọi lão là “thư công”. Mỗi sáng, lão già tụ họp những con vượn trước sân nhà và ra lệnh cho con trưởng đàn dắt các con khác lên núi để hái hoa quả trong bụi và trên cây. Luật lệ quy định là mỗi con vượn phải nộp cho lão già một phần mười hoa quả thu lượm. Con nào không nộp đủ sẽ bị quất đánh tàn nhẫn. Tất cả các con vượn đều cay đắng chiu khổ, nhưng không dám than phiền. Một hôm, một con vượn nhỏ hỏi các con khác:-Có phải lão già trồng tất cả các cây ăn trái và bụi rậm? Các con khác trả lời:-Không chúng mọc tự nhiên. Con vượn nhỏ hỏi thêm:-Chúng ta có thể nào lấy hoa quả không cần xin phép lão già ? Các con khác trả lời: -Phải, tất cả chúng ta có thể lấy được. Con khỉ nhỏ nói tiếp:-Như vậy tại sao chúng ta lại phải lệ thuộc lão già, tại sao chúng ta lại phải phục vụ cho y? Trước khi con vượn nhỏ chấm dứt câu nói, tất cả các con vượn khác bất chợt thoát cơn mê và tỉnh ngộ. Đêm hôm đó, canh chừng lão già ngủ say, các con vượn phá vỡ hết hàng rào chắn giam hãm chúng và phá tan trại giam. Chúng cũng lấy hết hoa quả lão già cất trong kho dự trữ, đem tất cả vào rừng và chúng không bao giờ trở lại. Cuối cùng lão già chết vì đói.”

Đảng CSVN đang có nhu cầu tạo nên những kẻ thủ, tạo nên rối lọan để có cớ nói với người dân là họ phải thẳng tay trừng trị những bọn “phản động” nhân danh trật tự và ổn đinh xã hội và nhất là tôn vinh và bảo tồn cách mạng xã hội chủ nghĩa giống như các giáo chủ tìm cách bảo vệ linh hồn của họ. Những chế độ tồi dở muốn tồn tại luôn phải cố tạo ra một hay nhiều kẻ thù nhằm tạo nên một tinh thần đoàn kết keo sơn chống lại kẻ thù này, khơi dạy bản năng sinh tồn của nhóm này. Khả năng phát động chiến dịch chống lại kẻ thù ngoại xâm không còn (“chống Mỹ cứu nước”), chống lại “ngụy quân” và “ngụy quyền” cũng không còn, vì vậy đảng CSVN quay ra đàn áp và tìm cách huy diệt những thành tố của xã hội Việt Nam, trong đó có những sắc tộc ít người, những tôn giáo và ngay cả những thành phần đã từng trung kiện với đảng và tận tụy phục vụ nó.

Hiện nay, xã hội Việt Nam đang rơi vào sự hỗn lọan toàn diện vì chính đảng CSVN đã gây nên tình trạng này nhằm chống lại “diễn biến hoà bình”. Đã là hoà bình thì có gì là nguy hiểm. Chống lại hoà bình có nghĩa là đảng CSVN chống lại bản năng sinh tồn của dân tộc Việt Nam, vì người Việt Nam chỉ mong có cơm no áo ấm và sống trong hoà bình. Đảng CSVN đang đào hố chôn nhân dân Việt Nam vì đã nhượng lãnh thổ và lãnh hải cho quan thầy Trung Quốc.Những phương tiện sản xuất của Việt Nam hầu như rơi vào tay người ngoại quốc, hàng hóa Việt Nam không cạnh tranh nổi với hàng hóa quốc tế, trí tuệ của Việt Nam đang băng huyết một cách trầm trọng vì đảng chủ trương xuất cảng lao động. Nước Việt Nam đang có nguy cơ suy thoái và người Việt Nam sẽ không còn cơ hội để ganh đua với cộng đồng thế giới, chưa nói đến phát huy bản sắc dân tộc mà cho đến nay chúng ta vẫn tự hào đã có từ 4000 năm nay. Người Việt không thể tiếp tục nghe lệnh của lão thư công, vừa lao lực, vừa bị ức hiếp mà không hưởng được gì. Chúng ta phải bứt gông cùm của lão thư công mới mong sống đời tự do và dân chủ.
Nguyễn Gia Thưởng
(Bruxelles)
(1)”Blood, Toil, Tears & Sweat"-"I would say to the House, as I said to those who have joined this government: I have nothing to offer but blood, toil, tears and sweat." --Speech made to House of Commons on May 13, 1940, three days after becoming Prime Minister. Churchill first used it earlier in the day when he spoke to his Cabinet which represented all parties.( http://www.winstonchurchill.org)

(2) Obedience to Authority by Stanley Milgram. Copyright 1974 by Stanley Milgram.Harper Perennial A Division of Harper Collins Publishers

(3)Herskovits J.Melville,Economic Anthropology : The Economic Life of Primitive Peoples. 1940.New York: W.W. Norton &Co 1965

anmota
03/05/2006, 05:05 PM
“Thời nhà Chu có một lão già sinh sống nhờ bắt đàn vượn làm việc cho lão. Thiên hạ gọi lão là “thư công”. Mỗi sáng, lão già tụ họp những con vượn trước sân nhà và ra lệnh cho con trưởng đàn dắt các con khác lên núi để hái hoa quả trong bụi và trên cây. Luật lệ quy định là mỗi con vượn phải nộp cho lão già một phần mười hoa quả thu lượm. Con nào không nộp đủ sẽ bị quất đánh tàn nhẫn. Tất cả các con vượn đều cay đắng chiu khổ, nhưng không dám than phiền. Một hôm, một con vượn nhỏ hỏi các con khác:-Có phải lão già trồng tất cả các cây ăn trái và bụi rậm? Các con khác trả lời:-Không chúng mọc tự nhiên. Con vượn nhỏ hỏi thêm:-Chúng ta có thể nào lấy hoa quả không cần xin phép lão già ? Các con khác trả lời: -Phải, tất cả chúng ta có thể lấy được. Con khỉ nhỏ nói tiếp:-Như vậy tại sao chúng ta lại phải lệ thuộc lão già, tại sao chúng ta lại phải phục vụ cho y? Trước khi con vượn nhỏ chấm dứt câu nói, tất cả các con vượn khác bất chợt thoát cơn mê và tỉnh ngộ. Đêm hôm đó, canh chừng lão già ngủ say, các con vượn phá vỡ hết hàng rào chắn giam hãm chúng và phá tan trại giam. Chúng cũng lấy hết hoa quả lão già cất trong kho dự trữ, đem tất cả vào rừng và chúng không bao giờ trở lại. Cuối cùng lão già chết vì đói.”

Yamaha
03/06/2006, 08:05 AM
Các Hiến Pháp CS Việt Nam
Nguyễn Quang Duy

Phạm Ðỉnh: Gần ðây, trong những thảo luận về hýớng ði týõng lai của một số những ngýời quan tâm ðế ndân chủ trong nýớc, có ý kiến cổ vũ cho việc quay trở lại Hiến Pháp 1946. Ðó chẳng qua chỉ là một phản ứng lại với một bản Hiến Pháp hiện nay có tính cách chuyên chính giai cấp triệt ðể. Tính cách chuyên chính thể hiện ðầy ðủ trong ðiều 4, quy ðịnh ðộc quyền lãnh ðạo của ðảng cộng sản.

Hiến pháp týõng lai của Việt Nam sẽ phải ðặt trên cõ sở nào, và có diện mạo ra sao?

Hiến Pháp Xô-viết và Các Hiến Pháp Việt Nam
Nguyễn Quang Duy

Ngày 1/1/2006, ông Trần Xuân Bách, nguyên ủy viên bộ chính trị, bí thý trung ýõng ðảng cộng sản, qua ðời. Ông ðã ðýợc ÐCS giao nhiệm vụ nghiên cứu về lý luận trong hoàn cảnh các nýớc cộng sản, ðặc biệt là Liên Xô, lúc ấy ðang phải ðối ðầu với khủng hoảng xã hội toàn diện. Qua quá trình nghiên cứu và thực tế, ông ðã ðặt thẳng vấn ðề :"... quan hệ giữa ðổi mới kinh tế và ðổi mới chính trị là nhý thế nào? Có nýớc tự coi mình không cần ðổi mới ðã bị bục vỡ. Có nýớc coi ðổi mới kinh tế phải làm nhanh, còn ðổi mới chính trị thì chầm chậm cũng bục chuyện. Có nýớc chỉ ðổi mới kinh tế, không ðổi mới chính trị ðã bục to. Có nýớc làm cả hai, nhýng không nhịp nhàng, gặp khó khãn. Hai lãnh vực này phải nhịp nhàng, không chân trýớc chân sau, không tập tễnh ði một chân." Mặc dù thất bại trong việc thuyết phục những ngýời cầm quyền trao trả lại quyền làm chủ ðất nýớc cho ngýời dân, ông ðã ði vào chính sử Việt Nam nhý một nhà ðấu tranh cải cách chính trị.

Ngày 1/1 hằng nãm cũng nên là ngày kỷ niệm (hay ngày giỗ) cuả hiến pháp 1946. Ngày này nãm 1960 Hồ chí Minh ðã ban hành hiến pháp 1959 không qua trýng cầu dân ý. Bài viết này cho thấy các hiến pháp sau chỉ là bản sao cuả hiến pháp Xô-viết ðýợc sử dụng trong thời Stalin và hậu quả cuả nó.

Hiến Pháp Cộng Hòa Liên Bang Xô-viết.

Karl Marx cho rằng hiến pháp và luật pháp chỉ là những công cụ cuả giai cấp thống trị tý sản, không cần thiết trong nền chuyên chế vô sản, cho việc xóa bỏ các giai cấp và thành lập một xã hội không có nhà nýớc. Xã hội này ðýợc Marx ðặt tên là xã hội cộng sản.

Cách mạng tháng mýời thành công. Một Quốc hội lập hiến ðã ðýợc thành lập nhằm mục ðích soạn ra một hiến pháp cho nýớc Nga. Ðảng Bolshevik chỉ chiếm thiểu số 175 trong tổng số 707 ðại diện. Nhýng bằng tẩy chay và bạo lực, Lenin và những ngýời Bolshevik ðã giải tán Quốc hội lập hiến. Sau ðó thành lập một chính quyền Xô-viết, chỉ gồm ðại diện cuả giai cấp vô sản, không có các ðại diện tý sản và qúy tộc.

Lenin ðã giải thích cho việc giải tán Quốc hội lập hiến nhý sau: "... lợi ích cuả cách mạng cao hõn các quyền hạn hình thức cuả Quốc Hội Lập Hiến (...). Quan ðiểm dân chủ thuần túy hình thức chính là quan ðiểm của dân chủ tý sản, là kẻ không thừa nhận rằng lợi ích của giai cấp vô sản và của cuộc ðấu tranh của giai cấp vô sản cao hõn hết." và "Chuyên chính là chính quyền dựa trực tiếp vào bạo lực và không bị luật pháp nào hạn chế cả." (Lenin, Cách mạng Vô sản và tên phản bội Cau-xky, các trang 71 và 76, trích lại từ Mai Thái Lĩnh)

Khác với Marx và Lenin, Stalin sử dụng hiến pháp ðể che ðậy chế ðộ ðộc tài toàn trị Xô-viết. Tháng 2 nãm 1935, một ủy ban soạn thảo hiến pháp ðã ðýợc thành lập. Bản hiến pháp Xô-viết ðầu tiên ðã ðýợc chính thức ban hành vào tháng 11 nãm 1936, và ðýợc tự nhận nhý một bản hiến pháp "dân chủ nhất thế giới". Dân chủ ðến ðộ Bukharin và Radek, hai soạn giả cuả hiến pháp nói trên, ðã bị kết án tử hình vào tháng 3 nãm 1938. Chỉ trong hai nãm 1937 và 1938, ðể củng cố quyền lực, Stalin ðã ðạo diễn một cuộc ðại thanh trừng ðẫm máu, với hàng loạt những vụ án công khai và bí mật. Dẫn ðến việc ðày ải, tàn sát hay thủ tiêu hàng chục triệu nạn nhân bị Stalin và ðồng bọn coi là bất lợi cho việc cầm quyền.

Hiến pháp Xô-viết 1936 (và hiến pháp tu chính 1977) ðã ðề cập rất rõ mối quan hệ giữa ðảng và nhà nýớc. Ðiều 6 cuả hiến pháp 1977 ghi rõ "Ðảng cộng sản là lực lýợng lãnh ðạo và hýớng dẫn cuả xã hội Xô-viết và là hạt nhân cuả hệ thống chính trị".

Theo những hiến pháp Xô-viết, nền chính trị cuả Liên Bang Xô-viết ðýợc tạo thành bởi các Xô-viết ðại biểu nhân dân. Xô-viết có thể ðýợc dịch là các hội ðồng. Các hội ðồng ðýợc thành lập ở mọi cấp trong hệ thống hành chính tòan trị. Quyền lực, trên lý thuyết, tập trung trong tay Xô-viết tối cao bao gồm hai viện: Xô-viết Liên Bang và Xô-viết các dân tộc. Cử tri lại chỉ ðýợc phép chọn lựa những ngýời ðã ðýợc ðảng cộng sản giới thiệu vào hai viện trên.

Về hình thức, việc ban hành luật pháp phải có sự phê chuẩn của cả hai viện Xô-viết tối cao. Trên thực tế mọi việc ðã ðýợc ðoàn chủ tịch quyết ðịnh. Ðoàn chủ tịch thì lại bị trực tiếp ðiều khiển bởi bộ chính trị ðảng cộng sản.

Do ðó, hiến pháp chỉ ðýợc soạn ra cho có hình thức. Các nghị quyết cuả ðảng mới là các vãn bản có giá trị. Ðây là những nguyên tắc vận hành cả guồng máy Xô-viết.

Mô hình này hiện tại vẫn còn ðýợc sử dụng tại Việt Nam.

Hiến Pháp Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

Nhật ðầu hàng ðồng minh. Trần Trọng Kim từ nhiệm. Các tổ chức chính trị ðã liên tiếp tổ chức các cuộc biểu tình ở khắp nõi ðòi thay ðổi chế ðộ quân chủ. Nhân cõ hội này, ÐCS ðã chủ ðộng cýớp chính quyền ðể thành lập Chính phủ cách mạng lâm thời. Ngày 2/9/1945, tại quảng trýờng Ba Ðình Hà Nội, Hồ Chí Minh ðã ðọc bản "Tuyên Ngôn Ðộc Lập" lấy tên nýớc là VNDCCH.

Ngay ngày hôm sau 3/9/1945 trong phiên họp của chính phủ, HCM ðã tuyên bố "Trýớc chúng ta ðã bị chế ðộ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi chế ðộ thực dân không kém phần chuyên chế nên nýớc ta không có hiến pháp, nhân dân ta không ðýợc hýởng tự do, dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi ðề nghị chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế ðộ phổ thông ðầu phiếu". Ngày 20/9/1945, chính phủ lâm thời ðã ban hành sắc lệnh số 34 thành lập ban dự thảo hiến pháp gồm 7 ngýời ðứng ðầu là HCM.

Ngày 6/1/1946, cuộc tổng tuyển cử ðã ðýợc tiến hành. Kết quả là Việt Minh ðã chiếm ðại ða số trong số 333 ðại biểu. Ngày 20/2/1946, nhân dân Hà Nội biểu tình phản ðối kết quả bầu cử có nhiều bằng cớ gian lận, ðả ðảo chính phủ HCM, yêu cầu cựu hòang Bảo Ðại ra cầm quyền ðể kết hợp tòan dân. Ngày 2/3/1946, trýớc áp lực của dân chúng và cũng nhý sức mạnh quân sự của ngýời Pháp và ngýời Trung Hoa, HCM ðã phải thu xếp mở rộng thêm 70 ðại biểu (không qua bầu cử) từ các nhân sỹ và các nhà cách mạng không thuộc ÐCS vào Quốc hội.

Trong kỳ họp Quốc hội lần thứ nhất này, HCM ðã thành lập ðýợc chính phủ Liên hiệp Kháng Chiến, do HCM làm chủ tịch. Và Quốc Hội cũng ðã bầu lại một Ủy ban dự thảo hiến pháp gồm 11 ngýời thuộc các ðảng phái, tổ chức và dân tộc cũng do HCM chủ trì.

Trong kỳ họp lần thứ hai, từ 28/10 ðến 9/11/1946, Quốc Hội ðã thông qua hiến pháp 1946. Hiến pháp này ðýợc xây dựng trên 3 nguyên tắc: ðòan kết dân tộc, bảo ðảm các quyền tự do dân chủ và xây dựng một nhà nýớc pháp trị. Trong lời mở ðầu, hiến pháp này không ðề cập gì ðến công trạng hay vai trò của ÐCS. Mà nói rõ ðộc lập là công lao cuả toàn dân. Về nội dung các quyền tự do dân chủ và quyền mýu cầu hạnh phúc của công dân ðýợc ghi thật rõ ràng minh bạch. Hiến Pháp này ðã ðýợc một Quốc Hội hợp pháp, ða nguyên, ða ðảng soạn thảo và thông qua.

Sau tám mýõi nãm Pháp thuộc và việc chấm dứt chế ðộ quân chủ, hiến pháp 1946 ðã thể hiện rõ nét cuả một hiến pháp cộng hoà, ðề cao tự do và bình ðẳng dân tộc. Hiến pháp cũng ðề cao vai trò của ngýời lãnh ðạo quốc gia, chủ tịch và quốc hội. Hiến pháp này cũng thể hiện tính dân chủ nhý trong các ðiều 32 "Những việc liên quan ðến vận mệnh quốc gia sẽ ðýa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viên ðồng ý." và ðiều 70 "Sửa ðổi hiến pháp phải theo những cách thức sau ðây: ... c/ Những ðiều thay ðổi khi ðã ðýợc nghị viện ýng chuẩn thì phải ðýa ra toàn dân phúc quyết."

Tuy nhiên, Hiến Pháp 1946 ðã không ðề ra một cõ quan có thẩm quyền giải thích hiến pháp, phán quyết về tính cách hợp hiến hay bất hợp hiến cuả các ðaọ luật, sắc luật, sắc lệnh, nghị quyết và quyết ðịnh hành chánh. Ðể dẫn ðến tình trạng ÐCS sử dụng và hủy bỏ Hiến Pháp này một cách tùy tiện chỉ nhằm mục ðích phục vụ mýu ðồ chính trị cuả họ.

Ngày 18/12/1959, tại kỳ họp thứ 11 Quốc Hội khoá I, Hồ Chí Minh ðã ðọc báo cáo về dự thảo sửa ðổi Hiến pháp 1946. Ngày 31/12/1959, quốc hội ðã ðồng ý thông qua hiến pháp sửa ðổi. Và ngày 1/1/1960, HCM ðã ký sắc lệnh công bố ban hành hiến pháp 1959. Ðây là một việc làm vi phạm hiến pháp 1946. Vì ðã không làm ðúng cách thức sửa ðổi hiến pháp nhý ðiều thứ 70 ðã nêu bên trên. Nhý vậy các hiến pháp 1959, 1980 và 1992, chẳng qua chỉ là những cýõng lĩnh của ÐCS vì ðã không ðýợc "tòan dân phúc quyết" còn gọi là "trýng cầu dân ý".

Qua Ðài Á Châu Tự do, luật sý Trần Thanh Hiệp ðã nhấn mạnh hiến pháp 1946 là một ðạo luật không ðýợc ban hành. Dựa trên ðiều 49, về quyền hạn của chủ tịch, khoản ð/ "Ban bố các ðạo luật ðã ðýợc nghị viện quyết ðịnh." và ðiều thứ 31 "Những luật ðã ðýợc Nghị viện biểu quyết, Chủ tịch nýớc phải ban bố chậm nhất là 10 hôm sau khi nhận ðýợc thông tri. Nhýng trong thời hạn ấy, Chủ tịch có quyền yêu cầu nghị viện thảo luận lại. Những luật ðem ra thảo luận lại, nếu vẫn ðýợc nghị viện ýng chuẩn thì bắt buộc chủ tịch phải ban bố." Ban hành hiến pháp là một thủ tục luật pháp ðể xác nhận rằng hiến pháp này ðã ðýợc biểu quyết một cách hợp lệ. Hiến pháp này sẽ có hiệu lực từ lúc ðýợc ban hành và mọi ngýời phải tuân theo. Do không ðýợc ban hành bản hiến pháp nãm 1946 coi nhý không có giá trị pháp lý. Có chãng là chỉ có giá trị về mặt chính trị. Cũng theo luật sý Hiệp, quyền lập hiến hay quyền soạn thảo hiến pháp cuả ngýời dân ðã bị ÐCS sang ðoạt qua hiến pháp 1946 và bị chiếm ðoạt trong các hiến pháp cộng sản sau này.

Cho mãi ðến những nãm 1980, trýờng Luật mới ðýợc mở lại tại Việt Nam. Ðiều này hỗ trợ cho lập luận hiến pháp 1946 chýa bao giờ ðýợc mang ra sử dụng.

Về nội dung, khuyết ðiểm nặng nề nhất của bản hiến pháp này là một mặt ðiều thứ 49 ðã cho phép chủ tịch nýớc những quyền hạn tối cao, quyền lực tối thýợng. Mặt khác hiến pháp 1946 lại có thêm ðiều thứ 50 hết sức phi lý "Chủ tịch nýớc Việt Nam không phải chịu một trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc."

Cũng cần quan tâm tại Hội Nghị Versailles, nãm 1919, Nguyễn ái Quốc ðã gởi bản "Yêu sách của Nhân Dân Việt Nam" với yêu sách thứ bẩy mong ngýời Pháp ban hành hiến pháp cho Việt Nam. Có lẽ yêu sách này là của cả "nhóm" Nguyễn ái Quốc. Nếu là cuả cá nhân Hồ chí Minh thì khi ấy HCM chýa là một thành viên cuả quốc tế cộng sản. Trong thời gian hiến pháp Liên Bang Xô-viết 1936 ðýợc sửa soạn và ban hành, HCM cũng ðang ðýợc tái huấn luyện tại Liên Sô.

Qua việc nghiên cứu Hiến Pháp 1946, ngýời viết ðã phát hiện thêm một mặt trái về con ngýời của Hồ Chí Minh. Khi chýa cầm quyền HCM ðã hết sức tuyên truyền cho việc ban hành một bản hiến pháp dân. Khi nắm ðýợc quyền hành, HCM vận ðộng ðể vừa làm chủ tịch nýớc lại vừa chủ trì Ủy ban dự thảo hiến pháp. Với kết qủa là hiến pháp 1946 ðã cho HCM một quyền uy tối thýợng "không phải chịu một trách nhiệm nào". Quyền uy này ðã výợt trên cả hiến pháp và luật pháp quốc gia.

HCM làm việc này không ngoài mục ðích sửa soạn cho cả một guồng máy chuyên chế thần thánh hoá lãnh tụ ðảng và sýả soạn cho một thể chế ðảng trị. Thế mà HCM chýa thoả mãn ðể ban hành hiến pháp 1946. Ngày 1/1/1960, HCM ðã ký sắc lệnh ban hành cýõng lĩnh 1959 cuả ÐCS lấy "chuyên chế bạo lực" làm "công lý" ðýa cả dân tộc vào con ðýờng mòn ðầy chông gai chýa rõ lối ra.

Hiến Pháp Cộng Hoà Xã Hội chủ Nghiã Việt Nam

Nhý ðã ðề cập ở trên các hiến pháp 1980, hiến pháp 1992 và hiến pháp bổ sung 2001, cuả nýớc CHXHCNVN ðều dựa trên mô hình Liên Bang Xô-viết, ra ðời dýới chế ðộ ðộc tài Stalin. Theo ðó vai trò cuả ðảng và guồng máy ðýợc ghi rất rõ trong các hiến pháp kể trên. Ðiều 4 ghi "ÐCSVN, ðội tiên phong cuả giai cấp công nhân Việt Nam, ðại biểu trung thành của giai cấp công nhân Việt Nam, nhân dân lao ðộng và cuả cả dân tộc, theo chủ nghiã Mác - Lênin và tý týởng Hồ chí Minh, là lực lýợng lãnh ðạo nhà nýớc và xã hội." Còn ðiều 6 lại ghi rõ hõn "Quốc hội, hội ðồng nhân dân và các cõ quan khác cuả nhà nýớc ðều tổ chức và hoạt ðộng theo nguyên tắc tập trung dân chủ." Mọi quyền công dân ðýợc ghi trong hiến pháp ðều ði kèm với các hạn chế do hiến pháp và luật pháp quy ðịnh.

Theo ông Nguyễn Vãn An, ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch ủy ban dự thảo sửa ðổi, bổ sung hiến pháp 1992 thì "Việc sửa ðổi, bổ sung một số ðiều của Hiến pháp nãm 1992 phải tiếp tục khẳng ðịnh bản chất và mô hình tổng thể của bộ máy Nhà nýớc ðã ðýợc quy ðịnh trong Hiến pháp nãm 1992, và thể chế hóa các quan ðiểm, chủ trýõng ðổi mới của Ðảng. ... Ðồng thời cần sửa ðổi, bổ sung một số ðiều khác về kinh tế, giáo dục, khoa học và công nghệ cho phù hợp những nội dung mới ðã ðýợc Nghị quyết Ðại hội lần thứ IX của Ðảng xác ðịnh." (Nguồn: Báo Nhân dân, ngày 12/9/2001)

Ðiều ông An tuyên bố ðồng nghĩa với việc hiến pháp cũng chỉ là một công cụ cai trị cuả ÐCS. Hiếp pháp và luật pháp chỉ là hình thức. Các nghị quyết cuả ðảng mới là các vãn bản thực sự có giá trị. Hiến pháp thì ðặt dýới nghị quyết cuả ðảng. Luật pháp thì lại ðýợc ðặt dýới kỷ luật cuả ðảng.

Trên lý thuyết thì quyền lực thuộc về nhân dân mà ðaị diện là quốc hội. Trên thực tế việc ðảng ðộc quyền lãnh ðạo ðã ðýợc thể chế hoá qua hiến pháp. Nguyên tắc chọn ðại diện quốc hội thì lại theo kiểu "ðảng cử dân bầu". Cử tri chỉ ðýợc phép chọn lựa những ngýời ðã ðýợc ÐCS giới thiệu.

Về hình thức, việc ban hành luật pháp phải có sự phê chuẩn của quốc hội. Trên thực tế mọi việc ðã ðýợc bộ chính trị và ban chấp hành trung ýõng ðảng sýả soạn thông qua các nghị quyết cuả ðảng, trýớc khi ðýa ra quốc hội.

Ðây là một mô hình mà ngýời soạn luật, ngýời ra lệnh bắt giam, khởi tố cũng chính là ngýời nắm quyền kết án và thi hành án. Các cõ quan ðiều tra, xét xử và trừng phạt cũng là một. Hành pháp, lập pháp, tý pháp, quân ðội và cảnh sát là một. Ngay cả tổ chức dân sự nhý công ðoàn, tôn giáo, từ thiện, phi chính phủ,... nằm trong tổ chức ngoại vi mặt trận tổ quốc. Và tất cả ðều ðặt dýới sự ðộc quyền lãnh ðạo cuả ðảng.

Cố luật sý ðại biểu quốc hội Ngô Bá Thành ðã than rằng "Việt Nam ngày nay có cả một rừng lụât. Nhýng lại chỉ sài luật rừng." Ðể thể hiện một nhà nýớc pháp quyền, phýờng, huyện, tỉnh, thành phố, bộ, quốc hội, chính phủ và các ðảng ủy cộng sản thi ðua nhau ban hành luật. Luật rừng này chỉ áp ðặt lên ngýời dân, còn ðảng và các ðảng viên cầm quyền không cần tôn trọng và thi hành. Cao ðiểm cuả luật này ðã ðýợc thể hiện qua việc ðảng ra lệnh cho ðàn em xử công dân Hoàng Minh Chính, trýớc sự chứng kiến cuả công an.

ÐCS lại muốn quay về thời cách mạng tháng tám hay học theo mô hình quốc hội ðang ðýợc áp dụng tại Trung cộng. Sáng ngày 20/1, chủ nhiệm ủy ban ðối ngoại Vũ Mão ðã ðề ðạt tới Ủy ban thýờng vụ quốc hội :"Nên chọn các Việt kiều về nýớc công tác ðã có cống hiến lớn cho ðất nýớc làm ðại biểu quốc hội dù họ còn chính kiến nào khác." Theo ông các ðại biểu này sẽ ðýợc ÐCS chọn không qua bầu cử vì "khó ép họ vào ðõn vị bầu cử nào".

Thật rõ, mô hình tập trung dân chủ kiểu Stalin vẫn còn ðýợc thử nghiệm tại Việt Nam. Chả trách dý luận cho rằng, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam chỉ là tàn dý của chế ðộ ðộc tài Stalin. Ðổi mới kinh tế nýả vời ði liền với mô hình dân chủ này là nguyên nhân dẫn ðến khủng hoảng xã hội toàn diện tại Việt Nam. Mô hình này ðã bị ðào thải tại chính nõi ðã sản sinh ra nó và trên hầu hết các quốc gia ðã thử nghiệm nó. Mô hình này cần phải ðýợc ðào thải càng sớm càng tốt.

Hiến pháp Việt Nam Cộng Hoà

Khi nói về hiến pháp Việt Nam mà không nhắc ðến hiến pháp 1956 và hiến pháp 1967 cuả VNCH thì qủa là ðiều thiếu sót. Các hiến pháp này ðýợc các Quốc hội lập hiến VNCH soạn ra nhằm xây dựng và bảo vệ chế ðộ cộng hoà tại miền Nam.

Sau hiệp ðịnh Geneve chia ðôi ðất nýớc, ngày 23/10/1955, tại miền Nam dýới thời thủ týớng Ngô Ðình Diệm một cuộc trýng cầu dân ý ðã ðýợc tổ chức. Ngýời dân miền Nam ðã ðýợc quyết ðịnh chọn nền cộng hòa thay vì tiếp tục thể chế quân chủ. Và quốc trýởng Bảo Ðại ðã tôn trọng ý dân ðể nền Ðệ Nhất Cộng Hoà ra ðời. Tiếp theo ðó là một cuộc bầu cử ðể thành lập một Quốc hội lập hiến nhằm soạn ra Hiến Pháp 1956.

Viết ðến ðây ngýời viết chợt nghĩ. Chỉ trong vòng 2 nãm ðầu, miền Nam ðã trải qua một cuộc trýng cầu dân ý và một cuộc bầu Quốc hội lập hiến. Trong khi miền Bắc, do ảnh hýởng cuả cải cách ruộng ðất, cuả thanh trừng nội bộ, cuả cải tạo tý sản, cải cách vãn hóa, ... mãi ðến nãm ðầu cuả thập niên 1960, Quốc hội khoá 2 mới ðýợc ÐCS thành lập thay thế cho Quốc Hội khoá 1 ðýợc ðýợc bầu từ cách mạng tháng tám. Ðiều này ðồng nghiã với nếu một cuộc tổng tuyển cử nhằm thống nhất Việt Nam xảy ra nãm 1956, ða số dân Việt có thể ðã chọn một thể chế tự do, khác với dự ðoán hay nhận xét cuả một số ngýời, kể cả Ngô ðình Diệm.

Sau khi chính quyền Ngô ðình Diệm bị ðảo chánh, một Quốc hội lập hiến lại ðýợc bầu ra nhằm soạn ra Hiến Pháp 1967.

Việc nghiên cứu các hiến pháp kể trên rất hữu ích cho việc soạn thảo một Hiến Pháp mới cho Việt Nam. Thí dụ ðiều 81 cuả hiến pháp Việt Nam Cộng Hoà 1967 diễn giải vai trò cuả Tối Cao Pháp Viện. Viện này có thẩm quyền giải thích hiến pháp, phán quyết về tính cách hợp hiến hay bất hợp hiến cuả các ðaọ luật, sắc luật, sắc lệnh, nghị quyết và quyết ðịnh hành chánh. TCPV có thẩm quyền ngãn cản chính phủ thi hành các chính sách vi hiến, nhý cải cách ruộng ðất, cải taọ công thýõng nghiệp, cải tạo vãn nghệ sỹ, ðối xử bất công (xét lý lịch), vi phạm tự do cý trú (hộ khẩu), vi phạm quyền tý hữu (nhý ðất ðai, tài sản...), ... hay ðộc quyền, ðảng trị ðã và ðang xảy ra ở Việt Nam. Viện này cũng có thẩm quyền phủ quyết việc ÐCS chiếm ðoạt quyền phúc quyết cuả dân tộc nhý việc sửa ðổi hiến pháp không thông qua trýng cầu dân ý.

Hay ðiều 88 cuả Hiến pháp Việt Nam Cộng Hoà 1967 diễn giải vai trò cuả Giám Sát Viện với thẩm quyền:
1-Thanh tra, kiểm soát và ðiều tra nhân viên các cõ quan công quyền và tý nhân ðồng phạm hay tòng phạm về mọi hành vi tham nhũng, ðầu cõ, hối mại quyền thế hoặc phýõng hại ðến quyền lợi quốc gia.
2-Thẩm tra kế toán ðối với các cõ quan công quyền và hợp doanh.
3-Kiểm kê tài sản các nhân viên các cõ quan công quyền kể cả Tổng Thống, Phó Tổng Thống, Thủ Týớng, Dân Biểu, Nghị Sỹ, Chủ tịch Tối Cao Pháp Viện.
4-Riêng ðối với Chủ tịch Giám Sát Viện và các Giám Sát Viên, việc kiểm kê tài sản do Tối Cao Pháp Viện ðảm trách.

Vai trò của hai viện này là chống lạm quyền. Hai viện chỉ có thể hoạt ðộng một cách hiệu quả dýới một thể chế dân chủ và pháp trị.

Vài sự kiện quan trọng

Ðiều 2 cuả hiến pháp CHXHCNVN ghi rõ ðảng và nhà nýớc cộng sản "xây dựng trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức". Nông dân ðã nổi dậy ở nhiều nõi trong nhiều lúc khác nhau. Trí thức cũng càng ngày càng nhiều vị lên tiếng.

Tuy nhiên việc trên 40 ngàn công nhân khu công nghiệp có vốn ðầu tý nýớc ngoài ðồng loạt ðình công ðúng là một býớc tiến trong diễn trình dành lại quyền làm chủ ðất nýớc cho dân tộc. Ðình công nhý vậy có hợp pháp hay không? công ðoàn sao không hay biết gì cả ? công an mật vụ ðâu cả? tự phát? ai lãnh ðạo? ai tổ chức? ai vận ðộng? ... Phan vãn Khải ðã phải làm ngõ với những câu hỏi nhý trên ðể vội vã ký sắc lệnh tãng mức lýõng tối thiểu một lúc 40 %. Việc làm này chỉ rõ sự yếu kém trong việc ðiều hành kinh tế quốc gia và sự thiếu quan tâm quyền lợi và ðời sống công nhân cuả Phan vãn Khải nói riêng và cuả ÐCS nói chung.

Ít ngýời còn nhớ hay biết ðýợc, bộ luật lao ðộng Việt Nam hiện hành ðã ðýợc một công ty luật Úc, soạn ra. Bộ luật này vì thế rất týõng tự với bộ luật ðang ðýợc áp dụng tại Úc. Chúng ta cần nghiên cứu và sử dụng bộ luật này ðấu tranh cho quyền lợi cuả công nhân.

Riêng về mặt kinh tế vĩ mô tãng lýõng cho hằng triệu công nhân một lúc 40%, ðồng nghĩa với lạm pháp phi mã trong những ngày sắp tới. Và nhý thế ðời sống cuả nông dân, hýu trí, công chức, công nhân, sinh viên, ... ðã khổ sẽ lại khổ hõn.

Việt Nam sẽ phải gia nhập WTO, ðiều này cũng ðồng nghĩa với việc khu vực kinh tế nhà nýớc, khu vực kinh tế tý nhân sẽ phải cạnh tranh sống còn với sản phẩm các quốc gia khác. Thiếu khả nãng và chính sách rõ ràng sẽ dẫn tới nạn thất nghiệp trầm trọng trong thời gian chuyển tiếp sắp tới.

Cao trào ðòi quyền làm chủ ðất nýớc và làm chủ cuộc sống cuả mình ðang bùng nổ. Phýõng pháp ðấu tranh thoạt nhìn lại có nhiều ngã rẽ. Phýõng Nam vận ðộng cho một cuộc trýng cầu dân ý, Phong trào dân chủ Việt Nam hýớng bầu cử 2007 là bầu cử tự do, các linh mục Công giáo vận ðộng tẩy chay cuộc bầu cử này, bác sỹ Nguyễn ðan Quế với tách ðảng ra khỏi chính quyền, nhiều ðảng viên cấp tiến và trí thức trong nýớc ðòi ÐCS phải tôn trọng những gì ghi trong hiến pháp và luật pháp hiện hành. Thực ra ðây chỉ là phát khởi cuả ða nguyên ðể dẫn ðến ða ðảng. ÐCS nhận rõ ðiều này nhýng ðang lúng túng trong ðịnh hýớng, chýa biết ðánh ðỡ cách nào, ðàn áp thì chắc chắn sẽ dẫn ðến sự ủng hộ cuả quốc tế, cuả ngýời dân... Và nhý thế cách mạng sẽ xảy ra sớm hõn.

Kết Luận

Ông Trần xuân Bách ðã từng tiết lộ :"Tập thể bộ chính trị phân ðịnh có hai loại mâu thuẫn cần chú trọng: mâu thuẫn nội tại tích tụ lâu ngày cuả chủ nghiã xã hội và mâu thuẫn giữa hai hệ thống. Nguyên nhân khủng hoảng là lãnh ðạo sai lầm, vi phạm dân chủ, duy ý chí, bảo thủ, trì trệ, ðổi mới lệch lạc, ðội ngũ ðảng viên thoái hoá hý hỏng." Và ông ðã xác ðịnh "Dân chủ không phải là ban õn, không phải là mở rộng dân chủ (mở rộng). Ðó là quyền cuả dân, với tý cách là ngýời làm nên lịch sử, không phải là ban phát, do tấm lòng của ngýời lãnh ðạo này hay ngýời lãnh ðạo kia. Thực chất của dân chủ hoá là khõi ðộng trí tuệ của toàn dân tộc ðể thaó gỡ khó khãn và ðýa ðất nýớc ði lên kịp thời ðại." Ông ðã từ bỏ ðặc quyền ðặc lợi ðảng ban ðứng về phía dân tộc. Tý cách cuả ông là một tấm gýõng sáng cho mọi ngýời noi theo.

Ngày nay bộ chính trị vẫn còn cố bám víu học thuyết Marx, nhýng quên rằng Marx ðã tuyên bố:"Kinh tế quyết ðịnh chính trị, cõ sở hạ tầng quyết ðịnh ý thức thýợng tầng."

Dân chúng càng ngày càng nhận rõ việc ÐCS chỉ mang ðến chiến tranh, nghèo ðói, hận thù, chia rẽ, thay vì cõm no, áo ấm, công ãn việc làm, ý tế, giáo dục... Cũng cần nhớ một ðiều trong chế ðộ cộng sản không thành phần nào ðói khổ hõn những bộ ðội tại ngũ. Cũng nhý trong thế hệ trẻ nhiều bạn ðã nhận ra ðảng là vật cản býớc tiến cuả mình và của dân tộc. Ngày mà ngýời dân ðứng lên ðòi có một thể chế nhân bản và dân chủ ðã gần kề.

Hiến pháp là nền tảng ðể xây dựng một chính phủ dân chủ. Hiến pháp là bộ luật tối cao quy ðịnh các quyền và nghĩa vụ của ngýời công dân. Hiến pháp cũng quy ðịnh các nguyên tắc xây dựng quyền lực cho chính phủ, các giới hạn của chính phủ và ðề ra các thủ tục họat ðộng cõ bản cho chính phủ. Nói một cách bình dân hiến pháp là một hợp ðồng giữa dân và chính phủ. Bài viết chỉ rõ ngýời dân Việt Nam chýa bao giờ ký bất cứ một hợp ðồng nào với ÐCSVN.

Hiến pháp cũng là nền tảng xây dựng các chính sách xã hội, giáo dục, chính trị, kinh tế, vãn hoá, ..., các quyết ðịnh pháp lý, các ðạo luật quốc gia. Nói cách khác hiến pháp là một ðịnh hýớng mà một dân tộc chọn lýạ cho mình.

Một hiến pháp cho Việt Nam, với sự tham gia ðóng góp xây dựng (thông qua một quốc hội lập hiến) và với ðồng thuận cuả ðại ða số dân chúng Việt Nam sẽ là nền tảng vững bền cho một nýớc Việt Nam dân chủ, nhân bản, pháp trị và cýờng thịnh.
Nguyễn Quang Duy

Tài Liệu Tham Khảo:
- Mai Thái Lĩnh, "Huyền thoại về một nhà nýớc tự tiêu vong - Bàn về lý thuyết nhà nýớc cuả Karl Marx", http://www.talawas.org
- Trần Thanh Hiệp và Nguyễn An "RFA Phỏng Vấn LS Trần Thanh Hiệp: Hiến Pháp Việt Nam", http://www.doi-thoai.com/baimoi0905_91.html
- Trần Xuân Bách, Chủ Nghĩa Xã Hội thật sự là gì? http://www.talawas.org
- Báo Nhân dân, ngày 12/9/2001, "Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Vãn An chủ trì Hội nghị lấy ý kiến sửa ðổi, bổ sung một số ðiều của Hiến pháp nãm 1992"
-Vãn Tiến, Vietnamnet 20/1/2006, "Việt kiều sẽ có ghế trong quốc hội?"

anmota
03/06/2006, 10:11 AM
Hiến Pháp Mã Viện:
Đồng Trụ Chiết, Giao Chỉ Diệt.
Hiến Pháp Mã Khắc Tư:
Vô Sản Chuyên Chính.
-------------------------
AMT