PDA

View Full Version : Galang Trong Tôi



PDK
08/21/2006, 10:59 AM
Galang Trong Tôi

Sau khi vượt qua trạm công an biên phòng thì tàu tôi mở hết công suất để chạy ra khơi theo lộ trình hướng Nam Dương mà đi tới. Mấy hôm đầu, trời quang, mây tạnh và nhìn xung quang toàn nước và nước tôi đâm ra ... buồn và tự hỏi không biết lý do gì mà ngày xưa họ lại gọi là Trời Tròn, Đất Vuông ? Đúng lý ra phải gọi là Trời Xa, Đất Tròn mới đúng. Tàu chạy giữa biển, chỉ biết nó chạy khi nghe tiếng máy kêu ầm ầm phía dưới và thấy mủi tàu đang rẻ sóng và nước đánh nhẹ vào sàn tàu thành bọt, ngoài những cái có thể thấy được đó thì toàn bộ còn lại coi như mù. Tàu chạy mãi mà mình cứ như đang nằm giữa của cái tâm điểm vòng tròn, nhìn xung quanh thì ... tròn vo. Cứ thế giờ này qua giờ kia, ngày này qua ngày kia nên tôi đâm ra ... buồn. Ngày thì lởn quởn hết nhìn trời rồi lại nhìn nước xong nhìn lại những bộ mặt hốc hác của dân thành phố lần đầu biết mùi biển nước là gì và chắc chắn tôi cũng không khá gì hơn họ. Tối thì tìm cái thúng chai rồi lật ngược lại chui vào trong nằm để đở sương xuống, để ráng làm cho giống cái câu nghe lên rất mùi là những chàng trai ... sương gió. Nghe thì đã tai đó nhưng bọn chúng tôi thì ... run lập cập vì lạnh quá, giữa biển khơi lại càng lạnh nên hồi mới chui vào thúng thì còn rì rào nói chuyện tào lao nhưng sau đó thì mạnh anh nào nấy co lại cho nó ấm, cho nó đỡ bị ... tấn công bởi cá chuồn chuồn. Đêm trước tôi nằm ngũ dưới cái ghế của anh tài công, đang mơ mơ màng màng thì đột nhiên nghe cái độp như ai chọi mình vậy, giựt mình dậy chẳng thấy gì cả. Sáng dậy tôi hỏi anh thủy thủ, sau này là bạn tôi, về cái ... tự nhiên bị đánh tối qua thì anh chàng cười và nói với tôi là cá chuồn chuồn đó. Tôi cũng hơi ngạc nhiên nhưng cũng đi về phía chổ mình ngũ tối qua và quả thật tôi thấy thân xác của một anh cá chuồn chuồn đang nằm ở gần đó. Tới chiều ngày thứ tư thì trời bắt đầu đen lại, gió bắt đầu nổi lên, và mưa rơi mỗi lúc một nặng hơn, gió mỗi lúc một mạnh hơn, ông thuyền trưởng nói, bảo đó. Cả tàu im lặng, lo lắng. Mọi cửa trong tàu đều được đóng lại và mọi người đều im lặng. Sau một hồi ngồi trong khoang tàu tôi ngột ngạt quá nên di chuyển về phía cuối để ngồi mà ngó ra biển đen đang giận dữ gầm thét, bên cạnh tôi một thằng bé khoảng mười tuổi đang ói ra mật xanh, mật vàng trong rất tội nghiệp nhưng tôi chẳng làm gì được để giúp em và lúc đó tôi cũng bắt đầu ọ ọe [1]. Hôm sau, trời quang, mây tạnh, nhìn trời tôi thầm cám ơn Trời Phật và không dám ... buồn vu vơ kiểu những ngày qua nữa mà trái lại nên cảm ơn là đằng khác.

Sang sáng ngày thứ sáu thì thấy có cánh chim bay tôi bắt đầu mừng, chim bay là sắp tới đất liền, chim đâu có bay ... khơi khơi giữa biển được, bay riết cũng mỏi cánh chứ, cũng phải dừng chân, dừng cánh chứ. Tàu chạy tới chiều thì một hòn đảo từ từ hiện rỏ dần dần ra, tối đến, tàu tôi lủi vào nơi có ánh đèn duy nhất từ đảo.

Chúng tôi lội nước mà tiến vào đảo nhưng sao tôi bổng thấy mặt đất chồng chềnh. Lạ quá, mình đi sao mà thấy đất nó cứ ... nghiêng nghiêng nên ráng đưa tay ra, nghiêng người lại để cho nó ... thăng bằng nhưng thăng bằng đâu không thấy, chỉ thấy một đám người lểu thểu bước đi mà trông như đang nhảy múa trong bóng tối như một đám ma đang bay lất phất trên mặt đất. Sau cùng thì tôi cũng trào được lên trên một đống gổ và nằm xuống để cảm thấy mặt đất bồng bềnh và nhớ lại câu say sóng rồi ... say đất. Ngày xưa nghe nói say sóng tôi tin nhưng khi nghe nói say đất tôi hay cười khẩy, nhưng giờ thì chính tôi đang trải qua cái kinh nghiệm ... say đất đó. Bụng đói nhưng mệt quá cộng với tiếng sóng rì rào làm tôi ngũ thiếp đi trên đống gổ đó, khi ánh bình minh hừng sáng thì tôi thức dậy và thấy xung quanh tôi là một ngôi nhà cất vội, một cái chòi thì đúng hơn, có hai người Nam Dương đang đứng nói, chỉ chỏ gì đó với một người cùng tàu, sau đó anh này nói lại là chổ chúng tôi tấp vào là nơi Nam Dương đang xây một ngọn Hải Đăng, còn cái đảo mà tôi tấp vào gọi là đảo Pulau Lau (Pulau là đảo) nằm trong quần đảo Natura cực bắc của Nam Dương. Thì ra đống gổ mà tôi nằm đêm qua là gổ dùng để xây ngọn hải đăng. Sau đó họ đồng ý chuyển chúng tôi đi gặp chính quyền địa phương đảo với giá là hai chỉ vàng, mọi người đồng ý. Họ dùng hai chiếc xuồng nhỏ xíu chở bốn mươi mấy mạng chúng tôi đi không quá một cây số rồi bảo chúng tôi ... sắp tới rồi. Cho chúng tôi lên bờ và dẩn đi. Đây là cuộc đi bộ dài nhất trong đời mà tôi trải qua, đi từ sáng độ mười giờ cho đến gần tối mới tới chổ chính quyền, trong suốt đoạn đường đi họ cứ gạ chúng tôi bán vàng mà giá từ năm ngàn Rupian leo dần tới ba mươi lăm ngàn nhưng chẳng ai bán cả vì chẳng biết cái giá trị của chử ngàn của cái xứ này nó như thế nào.

Tới chổ chính quyền địa phương chúng tôi được cho vào một cái rạp hát bỏ hoang, hình như ai đó xin được một cây đèn cầy nên chúng tôi thấy trên tường có viết nhiều chữ ... Việt. Nói thì khó tin nhưng những chữ Việt ấy đáng giá ngàn vàng đối với chúng tôi thuở ấy. Nó cho chúng tôi thấy rằng, biết rằng trước chúng tôi còn nhiều người Việt nữa đã đến đây. Tối đó chúng tôi ngũ trong tâm trạng vừa mừng, vừa lo. Mừng vì biết rằng đã có người Việt đến đây tức là mình đã đi đúng đường, gặp đúng chổ nhưng lo là không biết ngày mai ra sao. Tối đó chúng tôi đang ngũ thì có kẻ trộm vào giật hành lý của chúng tôi nhưng mất mát không nhiều lắm.

Ngày hôm sau, sau một hồi điều đình họ đồng ý chở chúng tôi về đảo lớn hơn gọi là Sedanao. Tối đó họ cho chúng tôi lên tàu nhỏ và chở chúng tôi đi, vừa đi tôi cũng ... sợ sợ, chẳng may nó chở mình đi giữa chừng rồi ... nhảy tàu thì chỉ có chết. Nhưng rồi nổi lo đó cũng từ từ biến mất khi tàu cập bến đảo Sedanao. Chổ đảo này lớn hơn, phồn thịnh hơn, và có hẳn chợ búa với hơn chín mươi phần trăm chủ tiệm là mấy ông Tàu. Kể cũng hay, từ cái đô thị phồn thịnh đến cái tiểu đảo bé tí, chổ nào cũng có mặt anh người Tàu để mở tiệm, để buôn bán, để làm giàu.

Chúng tôi được cho vào một cái nhà sàn tương đối rộng gọi là cơ quan hành chánh đảo, bước vào trong chúng tôi gặp một đám dân Việt khác đã tới đó trước vài bửa, mừng quá, chúng tôi biết là mình đã đi đến đúng chổ. Tới đó, mỗi ngày họ phát cho chúng tôi mỗi người đúng hai chén cơm. Tuổi đang lớn, thiếu ăn tôi đâm ra đói và tìm cách ... chống đói. Cách chống đói duy nhất lúc đó là nằm ngũ và mơ về quê cũ cho nó quên đói. Ở được hai tuần thì họ cho chúng tôi ra ngoài để đổi vàng mà mua thêm đồ ăn, thức uống. Tôi nghèo, không tiền nên tìm cách mò cua, tát cá, sàng thuốc lá, nhổ ... rau má để sống qua ngày. Có cái lạ là không biết vì lý do gì mà đảo này nhiều ... rau má đến như vậy. Chúng cứ mọc lộn trong cỏ và ta cứ vào mà nhổ. Dân địa phương thấy thế cũng làm lơ cho ta nhổ. Hôm đầu đang đi lang thang chợt thấy một nhà Nam Dương kia gọi vào và chỉ mấy cái bịch lớn. Cứ vào đại, họ chỉ chỉ, chỏ chỏ vì khi nói thì chẳng ai hiểu ai cả, bảo đại khái, hiểu theo kiểu múa tay, thì lấy mấy cái cọng lớn bỏ vào một bao, còn cọng nhỏ, nát bỏ vào bao khác. Làm một hồi thì lớn nhỏ gì nó cũng như nhau. Sau đó người Nam Dương này mời vào nhà và cho ăn Cà Ri ... Cá. Lần đầu tiên tôi mới biết thế nào là Cà Ri cá. Ăn cũng ngon lắm do ... đói lâu ngày. Sau đó thì xin vào được tắm vì mấy tuần nay chỉ tắm toàn là nước biển mà chổ đi cầu cách chổ đi tắm cũng như rửa chén không quá chục thước. Cũng may là nước mặn cùng thủy triều lên xuống chứ không thì toi mạng từ kiếp nào vì vấn đề vệ sinh khủng khiếp quá. Nước ngọt xối lên người tới đâu, thấy nó cứ mát lịm tới đó. Vị ngọt của nước làm mát cả làn da.

Ngày hôm sau, chúng tôi tìm cách đi tát cá. Đang đi bổng thấy một cái hang cua thiệt to, nơi này nước thủy triều lên xuống nên anh cua này làm một cái ổ cua to như cái ổ mối vậy, nước thủy triều lên đưa thức ăn vào, và khi nước rút xuống thì anh ta nằm thoải mái trong ... tư dinh. Nhìn vào trong hang tôi hết hồn, trong đời tôi chưa từng thấy anh cua nào mà to đến như vậy, cái càng lớn của anh ta to bằng bắp tay tôi. Tôi không nói ngoa đâu, thêm phần tay tôi thuộc loại nhỏ, nhưng quả thật cái càng của anh cua này thuộc loại ngoại hạng, thuộc loại tiền, tiền bối lận. Người anh họ đi cùng nhảy lên cái "tổ" cua đó rồi cở áo trùm tay lại rồi chụp mãi mới lôi đầu anh ta ra được. Trên đường về chúng tôi thấy một cái vũng mà có cá nên tìm cách tát. Tát một hồi thì vũng cũng cạn và chúng tôi nhào xuống để ... mời từng anh cá, chị cá về nồi. Đang chụp một con cá nhỏ, bổng nó búng mình nhảy vào một cái lỗ, tôi chụp mạnh vào cái lổ và lôi ra ... một anh đẻn biển màu hồng !. Cũng may trong lúc xuất kỳ bất ý đó, hên sao tôi lại chụp đúng ngay phần cổ dưới đầu nên anh ta chẳng làm gì được tôi cả, tôi vung tay liệng mạnh anh ta ra xa. Hú hồn tôi chạy vội lên bờ chờ tim bớt đập rồi nhảy xuống mò tiếp. Mò gần hết cá tôi thấy một cái quẩy gần đó nên đưa hai tay vào chộp, rồi bóp chặt thì nghe cái rẹt và tôi liệng đống bùn, cùng con cá đó rồi nhảy lên bờ ôm lấy tay. Người anh rể đi cùng nói, chết bị cá ngát đâm, mau rửa ráy cho sạch người rồi đập con cá lấy cái đuôi đắp lên chổ bị đâm rồi về lẹ lên. Tôi làm y như vậy và quả thật vài tiếng sau tôi bắt đầu lên cơn sốt và tối đó cho đến ngày hôm sau thì chẳng ăn uống được gì cả. Vừa nằm đói, vừa nhức tay, vừa nghe bàn dân thiên hạ nói, cá ngát càng nhỏ đâm càng đau và càng độc. Nhưng rồi thì cơn đau cũng qua và để lại một cái thẹo nhỏ nhớ đời của kỷ niệm vượt biên cho đến ngày hôm nay. Ở gần được một tháng thì được lệnh di chuyển về đảo Pulau KuKu.

Chở chúng tôi từ đảo Sedanao cho đến đảo KuKu là một chiếc tàu lớn, tàu này có nhiệm vụ chạy ... vòng vòng mấy đảo chính rồi vớt hết những người tỵ nạn như chúng tôi rồi đưa về đảo KuKu chờ thời gian sẽ đưa về đảo sau cùng là Galang.

Những ngày trên đảo KuKu là những ngày an nhàn nhất trong cuộc đời tỵ nạn nơi mảnh đất Nam Dương. Ngày ngày được cao ủy tỵ nạn cấp phát đủ gạo cùng patê thịt và đậu xanh, đậu nành, đường, mì gói, v.v... Gạo thịt thì chúng tôi dùng nấu ăn, đường với đậu xanh thì nấu chè, đậu nành thì ... rang lên để ăn thay đậu ... phụng. Cũng ngon đáo để. Còn mì gói thì trao đổi với dân địa phương để lấy cá biển cùng trái cây. Có một điều lạ là tôi thấy hình như tất cả nhửng người chèo xuồng mổi sáng đến để đổi mì gói hình như họ đều .... mất hết răng cửa !!! Sau hỏi ra mới biết rằng ngày trước tổng thống của họ là Sukarno theo Cộng Sản sau đó thì Suharto lật lại (con cháu vị này cũng đang cầm quyền xứ này hiện thời) thì ai theo Cộng Sản sẻ bị tử hình, còn liên hệ với Cộng Sản thì bị nhổ răng cửa và đày đi ra đảo. Nghe vậy, biết vậy, không biết đúng hay sai. Tháng ngày rồi cũng trôi qua, sáng đổi đồ ăn, chiều tắm biển, chập tối nhìn sương núi bốc lên, tối nằm nghe sóng rì rào thấy cuộc đời sao trống vắng quá. Mong sao cho ngày đi Galang mau mau tới.

Rồi ngày đến cũng đến, sau cùng tàu đi rồi tàu lại đến chở chúng tôi về đảo Galang. Tàu gần tới đảo Galang, tôi càng thấy nhiều tàu lớn, tàu nhỏ mang biển số Việt Nam nằm rải rác. Đó là những chiếc tàu đã tìm đường đến được cái hòn đảo Galang nhỏ bé này. Ngày tôi đặt chân lên đảo củng là ngày mà một số đồng bào đi định cư. Dòng người, xốc xếch nhưng đầy vui vẻ của chúng tôi dàn hàng đi vào bên này để vào đảo thì bên kia một dòng người dân Việt khác nai nịch gọn gàng, đẹp đẻ, và chắc hẳn hớn hở hơn chúng tôi chuẩn bị bước xuống những chiếc tàu khách đẹp hơn để đi về phía quốc gia đảo quốc Tân Gia Ba rồi sang quốc gia thứ ba. Trong đoàn người xốc xếch của chúng tôi có một anh thông dịch viên thật hay, nghe anh thông dịch mà cứ tưởng như anh đang ... đọc thơ vậy. Có một lần tôi thoáng thấy lại anh ở phố Tàu trên Toronto nhưng thoáng thấy rồi thoáng đó anh biến đâu mất. Cuộc đời sao vô thường quá, thoáng gặp, thoáng đi, thoáng thấy, rồi thoáng mất. Rồi tôi lại nghĩ, Galang đây sao ? Galang mà tôi chỉ có nghe qua thơ từ, lời truyền miệng đây sao ? Giờ tôi đang đứng đó mà vẫn không tin rằng mình đang đứng ở cửa ngỏ của Galang nữa ...

Sau màn thủ tục hành chánh chúng tôi được xe đưa vào trại Galang I. Ngồi trên xe tôi thấy có một điều lạ là những đồng bào tới trước sao mà đi đường ai cũng mang theo một cây dù màu đen và mang đôi dép nhựa trắng và đa số mặc quần Jean. Vừa vào tới cái barrack 45 mình ở (barrack là cái nhà dài có sập ở hai bên và lối đi ở giữa) thì bà con ở lâu đi vào tìm ... người quen. Lúc đó mới học được chữ gọi là ... Galang Tình Xù, rồi ... Anh đi anh để ... cái dù cho em. Hỏi người này, hỏi người kia, anh thì sáu tháng, lâu lâu có anh nói anh đã ở gần ... hai năm, nghe hết hồn. Tưởng tới chừng dăm tháng thì đi chứ đâu nghĩ ở chi ... lâu vậy ? Sau đó thì được phòng xã hội cung cấp cho chiếc chiếu, cái mùng bằng vải lưới đan, và đôi dép mang từ ngày mới tới cho đến ngày ... đi định cư. Thôi vậy cũng được, con bà phước, có gì xài nấy, ai sao mình vậy, dễ yên thân. Đang ngồi nghĩ mệt tự dưng nghe người trong tàu đang bàn chuyện nước tè ... vàng khè. Không biết tại sao, nhớ lại hồi ngoài cầu tàu họ có cho uống cái thuốc gì đó nên chắc vậy, chạy đi tè thử, thấy ai cũng y chang, nên mọi người trở lại bình tỉnh lại như thường.

Những ngày kết tiếp là đăng ký đi học thêm Anh văn rồi chờ phái đoàn phỏng vấn. Từ chổ tôi ở, đi lên khối CVC, cũng chẳng nhớ cái chữ CVC này là chữ tắt của chử gì nữa, để học Anh văn phải đi qua một ruộng rau muống lớn mà những người tới trước dựng lên sau sang lại cho người khác trước khi đi định cư rồi đi qua một cầu gổ đầy dây leo mà tôi hay sợ có rắn lục, rồi leo lên một con dốc trước khi vào chổ học. Đó là đường tắt còn lối chính thì xa hơn. Ngày mới tới ai cũng hồ hởi, cũng tất bật ... người đi tớ cũng đi, ráng học cho được dân ba cái chữ Thánh hiền nên mỗi khi có người mới đến đảo là lúc ghi danh vào khối CVC học Anh văn ... đông nhất. Sau đó thì nó lèo tèo trông thảm nảo. Lúc mới vào học thì họ phát cho quyển sách, cây bút chì để mà học để giành lấy cái chữ, để được gọi là ... của anh. Học được hai ba tuần thì bà con mình biến dần dần. Tôi ráng gồng mình cho qua cơn bỉ cực để ráng dạn lên mà giương cổ ra hót cho được vài chữ Anh văn để hy vọng sau này ấm thân. Học xong cái lớp C (họ phân theo A, B, C, và D) đó tôi bỏ học và vào thư viện tập nghe Streamline rồi về tìm English 900 ra mà nghiền ngẩm. Sáng thư viện, trưa thư viện, tối thư viện, tôi cật lực ráng mò cho nó ra cái chữ, cái nghĩa mà tôi biết rằng sau này chắc chắn tôi sẽ cần tới. Những ngày ở Galang I với những trưa nắng gắt, cùng những ngày mưa tầm tả, cùng những đêm ngũ ... cùng chuột, đá chuột ra để ngủ, trùm mền lại để chống muổi cùng chống chuột. Cũng may là đảo Galang không có rận. Thêm rận nửa là đủ cả xe tăng, máy bay, lẩn du kích chiến. Chuột ở Galang nhiều lắm, họ đã treo giải ai kiếm được 100 cái đuôi chuột sẽ ... tặng một cái áo thun mang danh ... anh hùng diệt chuột ! Thế mà cũng có khối người mang áo ấy ! Không biết là đập được 100 chú tý hay là quen với ... phòng xã hội. Chuột nhiều mà khi mới tới Cao Ủy Tỵ Nạn phát cho mổi anh một cái mùng bằng lưới đan, ngũ được ba bửa lổ nào lổ nấy to bằng hang chuột, chuột tưởng hang chạy vào. Hôm đầu một chú vào thì tôi giật mình tỉnh dậy. Dăm ba bửa sau, thì trùm mềm kín mít lại, lấy hai tay che mắt lại vì sợ móng chuột cào sảng vào mắt, nhưng mấy ngày sau đó thì kệ chúng, có vào đụng đâu tôi đạp đó, đụng đâu tôi đấm đại đó. Cái barrack tôi ở sát bên đám tranh, một anh bạn trong tàu bửa nọ siêng ra đi gom tranh lại để đốt cho sạch, ai ngờ, cháy rụi cả vạt tranh lớn nên chuột hết đất sống đồng thời thiêu gọn hai con rắn bự làm ổ sát bên đường chúng tôi đi xuống nhà vệ sinh dưới suối. Bà con lại thêm một phen đỡ hết hồn.

Galang I với tôi có ba cảnh đẹp, đẹp nhất là chùa ở Galang I, chùa tọa lạc trên một ngọn đồi cao, từ dưới đất đi lên chùa phải leo không biết bao nhiêu bậc thang cong cong, quẹo quẹo rất hữu tình. Vào chùa lạy phật xong, ra sân ngoài nhìn phong cảng xung quanh tôi luôn thấy lòng mình chùng xuống, một cảm giác chơi vơi theo ngày tháng bất định trổi lên ... Sau chùa Galang một thì phải nói đến nhà thờ Công Giáo vào nhà thờ Tin Lành. Cảnh rất đẹp và chắc hẳn rất nhiều người còn nhớ mãi trong ký ức với những mối tình lãng mạn khi cùng em đứng tại nhà thờ Galang I rồi nhìn về hướng ánh sáng hắt lên nơi đảo quốc Tân Gia Ba, mơ một ngày sau cùng em, hẹn một ngày sau cùng em với cuộc sống tươi đẹp hơn như ánh đèn đang mập mờ trước mặt ...

Sau vài tháng ở Galang I thì tôi được dời vào Galang II để nhường chổ cho đồng bào mới tới, Galang II đối với tôi không lạ vì đã đi vào nhiều lần cùng bạn bè. Muốn vào Galang II thì phải đi qua một địa danh mà bà con hay gọi là Galang III. Đó là nơi yên nghĩ sau cùng của những đồng bào không may khi ở đảo. Galang III nằm trên đỉnh dốc giữa Galang I và Galang II, ba phần tư đoạn đường từ Galang I vào vào thả hết dốc thì ta gặp Galang II. Galang II là nơi ở sau cùng trước khi đi định cư, ngày tôi ở, Galang II gồm năm khu vực theo thứ tự là A, B, C, D, và E. Họ dành khu vực D và E cho những người đã được phái đoàn Mỹ chấp nhận vào Mỹ và ở đó để học Anh văn còn khu A, B, và C thì cho những thành phần không đi Mỹ hoặc chưa được Mỹ nhận. Tôi ở cái khu C gần cái quán trên đồi. Vì nghèo từ nhỏ cho đến lúc đó nên tôi chỉ chú tâm một việc duy nhất là học Anh văn, học không phải ham học mà có lẽ là do không có tiền thì phải đi học vậy để trám bù vào cái lổ hổng thời gian, để đở trống trải, để tránh cái nắng khủng khiếp ở trong mấy cái phòng nhỏ phía trên sát mái tôn nóng khủng khiếp vào mỗi trưa. Mưa Galang cũng buồn lắm, và buồn nhất là mỗi sáng phải đi lấy nước mà trời mưa, đường đất sét trơn mà phải ráng gánh gồng mấy sô nước để xài trong ngày.

Rồi sau cùng thì tôi cũng được phái đoàn Canada dang bàn tay nhân ái nhận tôi vào đất nước của "Xứ Lạnh Tình Nồng", những tháng cuối cùng tôi hay lên chùa Galang II để phụ giúp công việc xây chùa.

Giờ đây ngồi viết lại những dòng này, tôi vẫn còn nhớ như in những con đường, những cái barrack mà tôi, bạn tôi đã từng ở, cái con đường đi ra biển Galang để tắm ngang chổ phát dầu nơi Galang I, những con suối mà tôi từng tắm. Galang đã ghi vào đời tôi một kỷ niệm, một hình ảnh mà có lẽ khó phai trong cuộc đời này.

[1] Sau này nghe nói thằng bé này là anh em họ với anh XT