PDA

View Full Version : Luật Quốc Tịch VN



HaiTa
01/08/2007, 03:59 PM
Luật Quốc Tịch Việt Nam

http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=2803

Những điểm bất thường trong Luật quốc tịch VN
Lữ Giang

Ngày 3/12/2006, dưới đầu đề “Rắc rối về song tịch”, chúng tôi đã trình bày một số điểm rắc rối trong Luật Quốc Tịch Việt Nam đã gây ra nhiều khó khăn cho những người Việt đã nhập các quốc tịch khác, một số nguyên tắc tổng quát về luật quốc tịch theo quốc tế tư pháp và luật đối chiếu, và những cảnh giác của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và Bộ Ngoại Giao Cannda. Nhưng chúng tôi đã nói rõ rằng đó mới chỉ là những nét căn bản để giúp độc giả có một khái niệm tổng quát mà thôi. Luật quốc tịch rất rắc rối, không thể nói hết trong một bài báo được.

Hôm nay chúng tôi xin đề cập đến một số điểm bất thường trong Luật Quốc Tịch Việt Nam. Những điểm bất thường được nói ở đây là những điểm không phù hợp với các hiệp ước quốc tế, tục lệ quốc tế và học lý liên quan đến vấn đề quốc tịch thường được công nhận. Chính những điểm bất thường này đã gây ra nhiều phiền hà cho người Việt song tịch. Tuy nhiên, trước khi trình bày về những điểm bất thường này, chúng tôi thấy cần phải xác định hai điểm sau đây:

– Thứ nhất, chúng tôi chỉ trình bày những nguyên tắc tổng quát dựa theo quốc tế tư pháp, luật đối chiếu và Luật Quốc Tịch Việt Nam. Khi áp dụng, có rất nhiều rắc rối sẽ xẩy ra, cần tham khảo án lệ, học lý và tập tục quốc tế riêng cho mỗi trường hợp.

– Thứ hai, chúng tôi không trình bày theo “định hướng xã hội chủ nghĩa” hay “định hướng chống cộng” như đã được áp đặt ở trong nước cũng như ở hải ngoại từ trước đến nay, tức phải viết “ta phải địch trái, ta tốt địch xấu, ta hay địch dở, ta giỏi địch ngu, ta thơm địch thúi, ta thắng địch thua, v.v...” Viết theo “định hướng” như thế là tự lừa dối mình và lừa dối đồng bào. Chúng tôi chỉ trình bày dưa trên những nguyên tắc và những tiêu chuẩn khách quan để tìm một giải pháp hợp lý và công bằng cho vấn đề được đặt ra. Chúng tôi biết hiện nay có nhiều người hiểu rõ vấn đề này và muốn đóng góp ý kiến, nhưng không dám viết vì sợ viết không đúng “định hướng” sẽ bị chụp mủ là “tay sai cộng sản”, còn viết theo định hướng thì sai bét.


Một số nguyên tắc căn bản

Trước khi trình bày về những bất thường trong Luật Quốc Tịch Việt Nam, chúng tôi xin nói qua về một số nguyên tắc và tiêu chuẩn căn bản của luật quốc tịch được các hiệp ước quốc tế và tục lệ quốc tế công nhận. Phải nắm vững những nguyên tắc căn bản này, chúng ta mới nhận ra được những điểm bất thường trong Luật Quốc Tịch Việt Nam.

I. Quyền có quốc tịch và quyền từ bỏ quốc tịch: Điều 15 của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế về Nhân Quyền tuyên bố:
“Ai cũng có quyền có quốc tịch. Không ai có thể bị tước quốc tịch hay tước quyền thay đổi quốc tịch một cách độc đoán.”

Chương I, Công Ước Hague ngày 12/4/1930 về Một Số Vấn Đề liên quan đến Sự Tranh Chấp về Luật Quốc Tịch (Convention on Certain Questions relating to the Conflict of Nationality Laws), đã đưa ra một số nguyên tắc tổng quát về luật quốc tịch như sau:

Điều 3 quy định rằng theo các điều khoản của Công Ước này, một người có hai hay nhiều quốc tịch có thể được mỗi quốc gia mà đương sự đã thụ đắc quốc tịch thừa nhận quốc tịch của đương sự.

Theo Điều 4, một quốc gia không thể dùng quyền bảo vệ ngoại giao đối với một trong những quốc tịch của một người để chống lại quốc gia mà người đó cũng đã thụ đắc quốc tịch.

Theo Điều 5, đối với quốc gia đệ tam, một người có hơn một quốc tịch sẽ được được đối xử như người có một quốc tịch, đó là quốc tịch của quốc gia mà đương sự có trú sở chính và thường trú ở đó, hay quốc tịch quốc gia mà trong thực tế đương sự gần như có quan hệ chặt chẽ nhất.

Theo Điều 6, một người thụ đắc hai quốc tịch ngoài ý muốn, có thể xin từ bỏ một quốc tịch mà mình không muốn nơi nhà chức trách của quốc gia mà mình muốn từ bỏ quốc tịch đó.

Trong trường hợp một người có trú sở thường xuyên và chính thức ở ngoại quốc, nhà cầm quyền không được từ chối quốc tịch của người đó nếu việc từ bỏ quốc tịch theo luật của quốc gia kia đã được thỏa mãn.

Công Ước Liên Hiệp Quốc ngày 30/8/1961 về việc giảm bớt tình trạng vô quốc tịch (Convention on the Reduction of Statelessness) dự liệu rằng các quốc gia kết ước sẽ ban quốc tịch của nước mình cho cho những người sinh ra trên lãnh thổ của nước đó nhưng vì một lý do nào đó bị coi là vô quốc tịch.

Dựa vào những những sự quy định nói trên, chúng tôi xin tóm lược các nguyên tắc tổng quát về quyền có quốc tịch và quyền từ bỏ quốc tịch của mỗi người như sau:

1.Mọi người đều có quyền có quốc tịch và quyền thay đổi quốc tịch, không ai có quyền tước bỏ hai quyền đó.
2.Mỗi người có thể có hai hay nhiều quốc tịch và một quốc gia không được dùng quyền bảo vệ ngoại giao để ngăn cản điều này.
3.Một người thụ đác hai quốc tịch có thể xin từ bỏ một quốc tịch mà mình không muốn.
4.Mặc dầu mỗi người có quyền có nhiều quốc tịch, nhưng quốc gia đệ tam (tức quốc gia mà đương sự không có liên hệ về quốc tịch), chỉ công nhận một quốc tịch duy nhất mà thôi, đó là quốc tịch của quốc gia nơi đương sự có trú sở chính và thường xuyên hay quốc tịch của quốc gia mà đương sự trong thực tế có quan hệ chặt chẽ nhất.
5.Một người có hai quốc tịch, khi đã từ bỏ một quốc tịch hợp lệ, quốc tịch còn lại phải được quốc gia mà đương sự muốn có quốc tịch nhìn nhận, cho dù đương sự đang có trú sở chính và thường xuyên tại quốc gia mà đương sự đã từ bỏ quốc tịch.

Một thí dự cụ thể: Bà Tám sinh ra ở Việt Nam đã có quốc tịch Việt Nam theo nơi sinh và theo huyết thống. Sau khi qua Mỹ được 5 năm, bà thi nhập tịch Mỹ và trở thành công dân Mỹ. Như vậy bà đã có hai quốc tịch.

Năm ngoái bà đi du lịch ở Thái Lan và gặp một người đàn ông Thái mà bà thích. Ít lâu sau bà đã kết hôn với người Thái đó. Vì luật Thái Lan cho phép thủ đắc quốc tịch của chồng theo hôn thú (acquire the nationality of her husband) nên bà có luôn quốc tịch Thái. Như vậy bà đã có ba quốc tịch: Việt Nam, Mỹ và Thái, và bà có quyền giữ luôn cả ba quốc tịch đó. Tại Việt Nam, bà được coi là công dân Việt Nam; tại Hoa Kỳ, bà được coi là công dân Hoa Kỳ; và tại Thái Lan, bà cũng được coi là công dân Thái Lan.

Vì bà có 3 quốc tịch cùng một lúc, nên trên nguyên tắc, bà có thể xin nước nào cấp Passport cũng được và bà có thể sử dụng cùng một lúc 3 Passports của cả ba nước mà bà có quốc tịch.

Vấn đề được đặt ra là khi đến nước thứ ba, tức nước không có liên hệ gì với bà về quốc tịch, bà sẽ được đối xử như công dân của nước nào?

Bình thường, bà sử dụng Passport của nước nào, người ta sẽ coi bà là công dân của nước đó. Nhưng khi có tranh tụng, Công Ước Hague 1930 nói trên sẽ được áp dụng. Có hai tiêu chuẩn được xét đến:

Tiêu chuẩn một: xem bà có trú sở thường xuyên và chính (habitually and principally resident) ở nước nào thì coi bà là công dân của nước đó. Nếu bà có trú sở thường xuyên và chính thức ở Mỹ, người ta sẽ coi bà là công dân Mỹ.

Tiêu chuẩn hai: xem bà thực sự có liên hệ chặt chẽ nhất (to be in fact most closely connected) với nước nào thì coi bà là công dân của nước đó. Thí dụ họ thấy bà thường sử dụng Passport Thái Lan để đi đây đi đó và khi có chuyện gì xẩy ra, bà thường nhờ Tòa Lãnh Sự Thái Lan can thiệp, bà thường dùng địa chỉ ở Thái Lan để liên lạc, v.v... Lúc đó bà sẽ được coi là công dân Thái Lan.

Trái lại, nếu bà qua Đài Loan và Nhật Bản để vận động chính trị cho Việt Nam, đến đâu bà cũng tự xưng là “nhân dân miền Nam anh hùng”, đã từng đánh thắng ba đế quốc đầu sỏ là Nhật, Pháp và Mỹ; bà cũng là người của đất “Củ Chi thành đồng đất thép”, đã từng hạ sát 1.438 tên Mỹ, bắn rơi 84 máy bay của Mỹ... nay bà kêu gọi các nước tư bản giúp Đảng tiên phong của bà “tiến lên chủ nghĩa tư bản theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, v.v... Lúc đó, chắc chắn họ sẽ coi bà là công dân Việt Nam.

II. Quyền ấn định quốc tịch: Chính quyền của mỗi quốc gia đều có quyền ấn định định chế quốc tịch của riêng quốc gia mình, nhưng không phải muốn ấn định thế nào cũng được.

Điều 1 của Công Ước Hague 1930 nói rằng mỗi quốc gia ấn định bằng luật pháp của riêng quốc gia mình ai có quốc tịch của quốc gia đó. Luật pháp đó sẽ được các quốc gia khác công nhận trong giới hạn nó phù hợp với các công ước quốc tế, các tục lệ quốc tế và các nguyên tắc của luật pháp liên quan đến quốc tịch thường được công nhận (generally recognised).

Trong bài trước, chúng tôi đã nói qua những tiêu chuẩn mà chính quyền của mỗi quốc gia có thể dựa vào đó để ấn định quốc tịch:

- hoặc căn cứ vào yếu tố nơi sinh (jus soli),
- hoặc căn cứ vào yếu tố huyết thống (jus sanguinis),
- hoặc căn cứ vào cả hai yếu tố đó.

Có quốc gia còn cho thụ đắc quốc tịch do hôn thú (national by marriage) như Italia, Thái Lan hay Việt Nam Cộng Hoà trước đây. Ngoài ra, luật lệ của hầu hết các quốc gia đều dự liệu các trường hợp cho nhập tịch có điều kiện.

Đây là các yếu tố thường được hầu hết các quốc gia dựa vào đó để ấn định chế độ về quốc tịch của riêng quốc gia mình. Tuy nhiên, về thủ tục để thụ đắc hay từ bỏ quốc tịch, các quốc gia thường ấn định khác nhau, có quốc gia đưa ra những thủ tục rất giản dị, nhưng cũng có quốc gia bày ra những thủ tục rất phiền toái với ý đồ riêng. Vì thế, trong tài liệu hướng dẫn về việc thi hành Công Ước Hague 1930, ở phần “Thẩm Quyền của Quốc Gia và Quyền Công Dân” (State Authority and Citizenship), Tổ Chức Quốc Tế về Di Dân (International Organization for Migration, viết tắt là IOM) đã lưu ý các quốc gia như sau:

“Quốc gia có quyền tối thượng (sovereign right) trong việc ấn định các thủ tục và điều kiện thụ đắc quyền công dân. Tuy nhiên, quyền công dân là một nhân quyền căn bản được bản Tuyên Ngôn Quốc Tế về Nhân Quyền bảo đảm và nó là một căn bản cho việc thực thi nhiều quyền khác. Vì thế, một vài tiêu chuẩn tối thiểu và tiến trình thích đáng phải được quan tâm (certain minimum standards and due process should be observed).

Bất thường trong Luật quốc tịch Việt Nam

Luật Quốc Tịch Việt Nam số 07/1998/QH10 ngày 20.5.1998 có nhiều quy định không bình thường, hay nói rõ hơn là không phù hợp với các nguyên tắc và tiêu chuẩn được luật quốc tế công nhận, trong đó có hai điểm bất thường quan trọng sẽ được chúng tôi đề cập hôm nay.

I. Luật Quốc Tịch Việt Nam không thừa nhận song tịch hay đa tịch: Điều 3 của Công Ước Hague 1930 quy định rằng “một người có hai hay nhiều quốc tich có thể được mỗi quốc gia mà dương sự đã thụ đắc quốc tịch thừa nhận quốc tịch của đương sự.” Dựa vào điều luật này, nhiều quốc gia trên thế giới đã công nhận quyền có hai hay nhiều quốc tịch.Vào năm 2000, người ta ước lượng có khoảng từ 4 đến 5 triệu dân Úc có hai quốc tịch, tức khoảng 25% dân số. Hiện nay, có 69 quốc gia trên thế giới công nhận chế độ song tịch hay đa tịch. Có một số quốc gia như Đức hay Singapore chẳng hạn, chỉ công nhận chế độ song tịch cho một số trường hợp giới hạn. Mặc dầu vậy, ở Đức hiện nay có khoảng 1 triệu 200 người song tịch.

Bắt chước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, Luật Quốc Tịch Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không thừa nhận chế độ song tịch. Như chúng tôi đã trình bày trong bài trước, Luật Quốc Tịch Việt Nam quy định rằng tất cả những người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài sau đây vẫn được coi là có quốc tịch Việt Nam:

1.Đã nhập một quốc tịch khác nhưng chưa được Chủ Tịch Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cho thôi quốc tịch Việt Nam hay tước quốc tịch Việt Nam (điều 23, 24 và 32).
2.Trẻ em khi sinh ra có cha mẹ đều là công dân Việt Nam (vì chưa được thôi quốc tịch Việt Nam) thì có quốc tịch Việt Nam, không kể trẻ em đó sinh trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam. Trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, còn người kia là người không quốc tịch, hoặc có mẹ là công dân Việt Nam, còn cha không rõ là ai, thì có quốc tịch Việt Nam, không kể trẻ em đó sinh trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam. (điều 16 và 17).

Khi quy định như vậy, Luật Quốc Tịch Việt Nam không thừa nhận quốc tịch thứ hai mà người Việt có thể thụ đắc được cho đến khi được phép từ bỏ hay bị tước quốc tịch Việt Nam. Nghị Định số 37-HDBT ngày 5/2/1990 còn nói rất rõ: “Những công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch khác... khi ở Việt Nam được đối xử như mọi công dân Việt Nam.”

Tuy nhiên, trong thực tế, nhà cầm quyền Việt Nam đã không thi hành đúng theo các văn kiện luật pháp đã được ban hành mà hành động một cách tùy tiện, chãng hạn như:

1. 1.- Tuy Nghị Định số 37-HDBT nói những công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch khác... khi ở Việt Nam được đối xử như mọi công dân Việt Nam, nhưng trong thực tế vẫn bị đối xử như ngoại kiều: Phải xin chiếu khán (cấp thị thực) nhập cảnh, khai báo tạm trú, đóng lệ phí tạm trú, v.v. Trước đây khi đi máy bay, tàu thủy hay xe lửa đều phải chịu những lệ phí đặc biệt.

Về việc đề tậu mãi bất động sản, nhà cầm quyền có những quy định khá khắt khe và chỉ cho phép những người sau đây được tậu mãi mà thôi: Người về đầu tư lâu dài tại Việt Nam; người có công đóng góp với đất nước; nhà văn hóa, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam; và người có nhu cầu về sống ổn định tại Việt Nam.
2. Tuy không công nhận quốc tịch Hoa Kỳ của người Mỹ gốc Việt nhưng lại ký Thỏa ước Việt – Mỹ ngày 26.5.1994 về Quan Hệ Lãnh Sự, đồng ý thông báo cho Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ trong vòng 96 tiếng đồng hồ mỗi khi bắt giữ những người mang thông hành Hoa Kỳ, kể cả người Mỹ gốc Việt và dành cho Tòa Lãnh Sự quyền thăm nuôi và giúp đỡ những người này!
3.Nhà cầm quyền đã áp dụng một cách tùy tiện Luật Quốc Tịch Việt Nam và Thỏa Ước Việt - Mỹ ngày 26.5.1994 đối với người Mỹ gốc Việt: Khi thì coi người Mỹ gốc Việt là công dân Việt Nam, bị chi phối bở luật Việt Nam, nên bắt giữ không cần thông báo có Tòa Lãnh Sự liên hệ biết, như trường hợp cô Lisa Phạm chẳng hạn, khi lại coi người Việt gốc Mỹ như ngoại kiều và áp dụng Thỏa Ước ngày 26.5.1994. Tục giao pháp lý có câu: “Dura lex sed lex”. Luật tuy cứng rắn nhưng là luật. Nếu luật mà áp dụng tùy tiện như thế, còn gì là luật nữa? Nói cách khác, nhà cầm quyền Việt Nam vẫn muốn tiếp tục sử dụng mệnh lệnh thay luật như trước, tức “Miệng tao là luật”!

II. Luật Việt Nam đưa ra thủ tục từ bỏ quốc tịch không bình thường: Điều 6 của Công Ước Hague 1930 nói rằng một người thụ đắc hai quốc tịch ngoài ý muốn, có thể xin từ bỏ một quốc tịch mà mình không muốn nơi nhà chức trách của quốc gia mà mình muốn từ bỏ quốc tịch đó.

Theo bản Tuyên Ngôn Quốc Tế về Nhân Quyền, không ai có quyền tước quyền thay đổi quốc tịch một cách độc đoán.

Tổ Chức Quốc Tế về Di Dân (International Organization for Migration, viết tắt là IOM) đã khuyến cáo rằng việc quy định về quốc tịch phải quan tâm đến “một vài tiêu chuẩn tối thiểu và tiến trình thích đáng.” Tiến trình thích đáng (due process) nói ở đây là phải hợp lý và công bằng. Ấy thế mà khi ban hành Nghị định Số 104 /1998/NĐ-CP ngày 31.12.1998 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam, nhà cầm quyền Việt Nam đã không quan tâm đến các tiêu chuẩn nói trên.

Nghị Định ngày 31.12.1998 đã ấn định thủ tục thôi quốc tịch (từ điều 20 đến 24) không khác gì thủ tục xin nhập tịch trước đó.

Về hồ sơ xin thôi quốc tịch: Điều 20 quy định rằng phải làm đơn theo mẫu do Bộ Tư Pháp quy định, đính theo các giấy tờ chính sau đây:

- Bản khai lý lịch theo mẫu do Bộ Tư pháp quy định;
- Bản sao giấy tờ tùy thân, hộ chiếu hoặc giấy tờ khác chứng minh đương sự đang có quốc tịch nước ngoài (đối với người đang có quốc tịch nước ngoài); giấy xác nhận hoặc bảo đảm về việc người đó sẽ được nhập quốc tịch nước ngoài (đối với người đang xin nhập quốc tịch nước ngoài),
- Giấy xác nhận không nợ thuế đối với Nhà nước do Cục thuế, nơi đương sự thường trú, cấp;
- Phiếu xác nhận lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, nơi đương sự thường trú, cấp.
Về thủ tục cứu xét: Thủ tục này được quy định đại khái như sau:
Nếu đương sự ở trong nước, phải nộp hồ sơ tại ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Tại đây, Sở Tư pháp niêm yết tại trụ sở; đồng thời, cho đăng báo địa phương trong 03 số liên tục về việc xin thôi quốc tịch Việt Nam của đương sự. Sở Tư pháp phải thẩm tra hồ sơ, đối chiếu lời khai, chứng nhận và giấy tờ của đương sự với các điều kiện thôi quốc tịch Việt Nam.

Trong trường hợp xét thấy cần thẩm tra hoặc nhận được khiếu nại về các điều kiện thực tế của người xin thôi quốc tịch Việt Nam (như về việc nợ thuế hoặc nghĩa vụ tài sản đối với cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam), Sở Tư pháp phối hợp với các cơ quan chuyên môn thực hiện. Công an cấp tỉnh và các cơ quan chuyên môn khác phải tiến hành thẩm tra theo chức năng chuyên ngành và trả lời bằng văn bản cho Sở Tư pháp. Tiếp theo, Sở Tư pháp dự thảo văn bản, trình Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, kết luận và ký văn bản đề nghị Bộ Tư pháp.

Nếu đương sự ở nước ngoài: Cơ quan ngoại giao, lãnh sự Việt Nam nhận hồ sơ, niêm yết tại trụ sở; xem xét, thẩm tra hồ sơ, đối chiếu lời khai, chứng nhận và giấy tờ của đương sự và có văn bản kết luận, đề nghị việc giải quyết hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam và gửi Bộ Ngoại giao để chuyển cho Bộ Tư pháp.

Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra lại hồ sơ và nếu xét thấy hồ sơ đã hoàn tất, đương sự là người có đủ điều kiện được thôi quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật, thì có văn bản báo cáo Thủ tướng Chính phủ để được ủy quyền ký Tờ trình Chủ Tịch Nước xem xét, quyết định.

Chỉ cần đọc những tài liệu cần phải nộp khi xin thôi quốc tịch Việt Nam thôi, chúng ta cũng đã thấy những chuyện bất thường rồi:

1. Về tờ khai lý lịch và giấy tư pháp lý lịch: Hai văn kiện này chỉ cần thiết khi đương sự xin nhập tịch, vì chính phủ cần biết đương sự có phải là người lương thiện hay không, và nếu cho nhập tịch có nguy hại cho quốc gia hay không. Còn nếu đương sự xin từ bỏ quốc tịch, đòi hỏi những giấy tờ đó để làm gì? Không nước nào đòi hỏi như vậy.
2. Về chứng chỉ không thiếu thuế: Giấy này chỉ cần thiết khi đương sự rời quốc gia hay bán tài sản mà thôi. Giấy này không ảnh hưởng gì đến quốc tịch của đương sự. Dù đương sự có quốc tịch Việt Nam hay không, vẫn có thể truy thâu số thuế còn thiếu như thường.
3. Về giấy bảo đảm việc người đó đang có quốc tịch nước ngoài hay sẽ được nhập quốc tịch nước ngoài: Đây là một sự đòi hỏi để tránh cho người xin từ bỏ quốc tịch Việt Nam khỏi lâm vào tình trạng vô quốc tịch khi chưa thụ đắc quốc tịch mới. Luật Quốc Tịch Ba Lan (Citizenship Act of February 15, 1962) dự liệu dễ dàng hơn: Cứ cấp giấy phép cho thôi quốc tịch, nhưng ghi rõ rằng giấy này chỉ có hiệu lực khi nào đương sự đã thụ đắc một quốc tịch khác. Như vậy có phải dễ dàng hơn không?

Những thủ tục kiểm tra mà Nghị Định ngày 31/12/1998 đã đưa ra cũng hoàn toàn không cần thiết đối với một người xin thôi quốc tịch. Chỉ cần so sánh thủ tục xin từ bỏ quốc tịch của Việt Nam với một số quốc gia trên thế giới, chúng ta sẽ thấy ngay thủ tục đang áp dụng tại Việt Nam là một thủ tục không bình thường:

Thủ tục tại Hoa Kỳ: Thủ tục xin từ bỏ quốc tịch Hoa Kỳ (renunciation of U.S. citizenship) được quy định ở Tiết 349(a)(5) của Luật Di Trú và Quốc Tịch (Immigration and Nationality Act). Thủ tục này khá đơn giản: Nếu ở ngoại quốc, đích thân đến trước một viên chức lãnh sự hay ngoại giao của Hoa Kỳ ký tên vào một lời tuyên thệ xin từ bỏ quốc tịch trước sự hiện diện của các viên chức này. Luật Hoa Kỳ không cho phép từ bỏ quốc tịch bằng thư.

Khi đến, đương sự chỉ cần xuất trình Passport, chứng thư nhập tịch nếu đã xin nhập tịch và bằng chứng đang có quốc tịch ngoại quốc.

Thủ tục tại Úc: Luật Quốc Tịch Úc (Australian Citizenship Act và các văn kiện sửa đổi) cho phép những người trên 18 tuổi muốn tử bỏ quốc tịch Úc được điền Form 128 gọi là “Declaration of renounciation of Australian Citizenship” để xin từ bỏ quốc tịch Úc và gởi cho Bộ Di Trú và Đa Văn Hóa Sự Vụ hay cơ quan đại diện của cơ quan này ở ngoại quốc.

Vì Úc có ký kết Công Ước Liên Hiệp Quốc ngày 30.8.1961 về việc giảm bớt tình trạng vô quốc tịch (đã nói trên) nên chính phủ Úc chỉ cho phép từ bỏ quốc tịch Úc khi nào đương sự chứng minh rằng đã có quốc tịch khác.

Thủ tục tại Thái Lan: Luật Quốc Tịch Thái Lan (Thailand’s Nationality Act B.E. 2508 và các văn kiện sửa đổi) quy định rằng người phụ nữ có quốc tịch Thái thủ đắc quốc tịch của chồng khi kết hôn, nếu muốn từ bỏ quốc tịch Thái, chỉ cần khai trước viên chức có thẩm quyền ý muốn của mình theo mẫu và thể thức đã được ấn định. Những người đã thủ đắc quốc tịch Thái bằng nhập tịch, nếu muốn từ bỏ quốc tịch Thái, chỉ cần nộp đơn tại viên chức có thẩm quyền theo mẫu và thể thức đã được ấn định.

Thủ tục tại Nhật Bản: Điều 13 của Luật Quốc Tịch Nhật Bản (Law No.147 of 1950 và các văn kiện sửa đổi) quy định rằng người có quốc tịch Nhật Bản muốn từ bỏ quốc tịch này, chỉ cần thông báo cho Bộ Tư Pháp biết. Người đó sẽ mất quốc tịch Nhật Bản kể từ khi thông báo (shall lose Japanese nationality at the time of the notification).


Một vài nhận xét

Qua những dẫn chứng mà chúng tôi đã nêu ra ở trên, chúng ta thấy Luật Quốc Tịch Việt Nam có những quy định không bình thường, tức không phù hợp với các nguyên tắc và tiêu chuẩn quốc tế thường được công nhận, nhất là trong vấn đề song tịch và vấn đề xin từ bỏ quốc tịch. Tại sao nhà cầm quyền Việt Nam phải quy định khác thường như vậy? Có thể có hai lý do:

Lý do thứ nhất: Nếu công nhận chế độ song tịch hay đa tịch như hầu hết các quốc gia trên thế giới, khi xẩy ra những tranh chấp về nhân thân, về gia đình, về tài sản, v.v... nói chung là các vấn đề liên quan đến quốc tế tư pháp, các thẩm phán Việt Nam hiện nay không đủ khả năng để xét xử.

Khi giải quyết một số vấn đề về dân sự liên quan đến những người song tịch, rất khó tránh khỏi những tương tranh về luật pháp giữa hai quốc gia có luật pháp khác nhau, lúc đó phải áp dụng những quy tắc, những tiêu chuẩn, những án lệ hay tục lệ của quốc tế tư pháp và luật đối chiếu. Khó mà tìm thấy một thẩm phán nào ở Việt Nam hiện nay có thể nắm vững những vấn đề này.

Lý do thứ hai: Nhà cầm quyền muốn giữ số người Việt hải ngoại đã thủ đắc các quốc tịch khác mãi mãi là công dân Việt Nam để dùng luật pháp Việt Nam khống chế họ. Luật Quốc Tịch Việt Nam đang được nhà cầm quyền coi như là một công cụ để răn đe người Việt chống Cộng.

Điều 5 của Bộ Luật Hình Sự Việt Nam quy định rằng bộ luật này “được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”
Điều 6 quy định thêm: “Công dân Việt Nam phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo Bộ luật này.”

Như vậy, một người Việt ở hải ngoại tuy đã thụ đắc một quốc tịch khác, nhưng vẫn bị Luật Quốc Tịch Việt Nam coi là công dân Việt Nam, nên nếu họ vi phạm Luật Hình Sự của Việt Nam ở ngoại quốc, như tội tuyên truyền chống chế độ chẳng hạn, khi trở lại Việt Nam, họ có thể bị bắt và truy tố. Điển hình nhất là trường hợp của cô Lisa Phạm.

Tuy nhiên, chúng tôi thấy rằng những âm mưu này sẽ không có hiệu quả bao nhiêu, và đem lại nhiều hại hơn lợi vì các lý do chính sau đây:

1.- Cộng đồng người Việt hải ngoại tuy nhỏ nhưng rất thành thạo trong việc tạo áp lực quốc tế. Do đó, dù chính quyền có bắt giữ và không chế họ, cũng chỉ trong một thời gian mà thôi. Khi áp lực quốc tế mạnh đến mức nào đó, chính quyền cũng phải thả ra, nếu không sẽ bị những thiệt thòi khó lường được về nhiều phương diện. Điễn hình là vụ cô Lisa Phạm và anh Đỗ Thành Công mới đây. Do đó, chẳng mấy ai sợ những răn đe này.

2.- Việt Nam đã gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Quốc Tế nên không thể duy trì hệ thống tư pháp trong tình trạng tồi tệ như hiện nay được. Phải cải thiện cả hệ thống luật pháp lẫn tổ chức tư pháp. Nhữrng luật lệ không bình thường, tức không phù hợp với các quy tắc và tiêu chuẩn của luật quốc tế, như luật quốc tịch hiện nay chẳng hạn, phải điều chỉnh lại. Trong chế độ phong kiến ngày xưa cũng như trong các chế độ văn minh hiện nay, muốn ngồi xét xử người khác, thẩm phán phải có trình độ ít ra ngang đại học và tốt hơn là trên đại học. Luật pháp ngày càng phức tạp và đa dạng, những người chưa học hết trung học như hiện nay không thể am tường được nên không thể giao cho họ xét xử.

3.- Điều quan trọng không phải là giữ hay bỏ quốc tịch Việt Nam. Điều quan trọng là lòng trung thành (allegiace). Khi nhập quốc tịch Hoa Kỳ, người xin nhập tịch bao giờ cũng phải tuyên thệ trung thành với Hiến Pháp Hoa Kỳ. Luật Quốc Tịch Việt Nam năm 1998 đã mở đầu bằng câu như sau:

“Quốc tịch Việt Nam thể hiện mối quan hệ gắn bó của cá nhân với Nhà nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước và quyền, trách nhiệm của Nhà Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đối với công dân Việt Nam.”

Câu mở đầu này là nguyên nhân gây ra những phức tạp và rắc rối mà chúng tôi đã đề cập nói trên. Khi người Việt thủ đắc quốc tịch khác khẳng định rằng họ không thể trung thành với Nhà Nước CHXHCNViệt Nam thì giữ quốc tịch Việt Nam của họ cũng chẳng ích lợi gì. Loại bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, một chế độ đã lỗi thời, những rắc rối sẽ không còn.

HaiTa
01/10/2007, 04:29 PM
Song tịch: một vấn đề cần phải cảnh giác khi về Việt Nam
Hà Ngọc Cư

LTS – Giáo sư Hà Ngọc Cư trong ban biên tập Ngày Nay, hiện là Giám đốc điều hành cơ quan CIS chuyên lo về di dân và tị nạn, văn phòng tại: 2701 Fannin, Suite # 100-107, Houston, TX 77002.

Sở dĩ có vấn đề song tịch (dual citizenship) vì luật lệ của quốc gia cấp quốc tịch cho họ có quyền hạn về quốc tịch của mình. Luật lệ quốc tế dăt ra rất ít giới hạn đối với các quốc gia trong quyết định về quốâc tịch của công dân của nước đó. Dĩ nhiên quyền đó cũng có một giới hạn nào đó. Các thỏa ước và công ước quốc tế về quốâc tich cũng có những giới hạn vì mỗi quôc gia có một luật quốâc tịch riêng trái ngược với luật quốc tịch của quốc gia khác.

Đa số các quốc gia tôn trọng hai nguyên tắc về quốc tịch: một là quốc tịch theo huyết thống (jus sanguinis), hai là quốc tịch theo lãnh thổ ra đời (jus soli). Theo luật của Mỹ thì con của người (bố hoặc mẹ) có quốc tịch Mỹ thì sinh trưởng ở đâu cũng có quốâc tịch Mỹ vì đó là nguyên tắc theo huyết thống. Mặt khác bất cứ đứa trẻ nào ra đời trên đấât Mỹ, dù bố mẹ ở Mỹõ hợp pháp hay bấât hợp pháp, cũng đều có quốc tịch Mỹ, vì đó là nguyên tắc lãnh thổ. Nếu một đứa nhỏ sinh trưởng tại Mỹ thì có quốââc tịch Mỹ theo luật lệ Hoa Kỳ, nhưng nếu bố/mẹ đứa trẻ là người Việt Nam thì lại có quốc tịch Việt Nam vì luật lệ Việt Nam công nhận quốc tịch theo huyết thống. Ngược lại con của công dân Hoa Kỳ sinh tại Việt Nam vừa có quốc tịch Mỹ (theo luật về huyết thống của Mỹ) vừa có quốc tịch Việt Nam (vì sinh trưởng tại Việt Nam, theo luật cuả Việt Nam).

Đối với những người nhập tịch Mỹ (naturalized) thì vấn đề quốc tịch ra sao? Sứ quán Mỹ giải thích vấn đề song tịch như sau

Nước ngoài có thể coi bạn là công dân của họ nếu:
- Bạn sinh trưởng tại quốc gia của họ
- Bố hoặc mẹ hay cả hai từng là công dân của nước đó
- Bạn đã nhập tịch Mỹ nhưng vẫn được luật pháp của quốc gia gốc công nhân còn là công dân của nước đó.

Luật lệ của CHXHCN Việt Nam vẫn coi người Mỹ gốc Việt là công dân Việt Nam. Muốn bỏ quốc tịch Việt Nam thì phải nộp đơn xin từ bỏ quốc tịch. Đơn Xin Thôi Quốc Tịch Việt Nam phải gửi cho Chủ tịch nước CHXhCN Việt Nam thông qua sứ quán VN tại Hoa Kỳ, lệ phí 150 Mỹ kim.

Một số vị cao niên nếu vì muốn hồ hương mà có ý dịnh làm đơn xin trở lại quốc tịch Việt Nam thì xin lưu tâm: Nếu xin nhập tịch một quốc gia khác sau khi đã có quốc tịch Mỹ thì tức là mình đã tự nguyện bỏ quốc tịch Mỹ, nghĩa là quốc tịch Mỹ của mình đương nhiên bị mất.

Nhiều quốc gia gốc của mình vẫn cho mình giữ quốc tịch cũ sau khi mình đã vào quốc tịch khác, trong khi đa số quốc gia khác lại coi mình mất quốc tịch gốc khi tuyên thệ nhập tịch một quốc gia khác.
Sau đây là một vài thí dụ:
Úc: mất
Căm Bốt: còn
Gia Nã Đại: mất
Trung Quốc: mất
Đức: mất
Nhật Bản: mất
Mễ Tây Cơ: còn
Nga: còn
Việt Nam: còn.
Sứ quán Mỹ tại Saigon luôn luôn nhắc nhở người Mỹ gốc Việt là họ rất khó can thiệp cho người song tịch. Nếu vì lý do nào đó bạn bị chính quyền Việt Nam bắt giữ thì Sứ quán Mỹ được thông báo, được thăm viếng, được giúp đỡ tìm luật sư biện hộ cho bạn nhưng rất khó bảo vệ bạn được vì bạn còn được chính quyền Việt Nam coi là công dân Việt, nghĩa là bạn vẫn bị xét xử như mọi công dân Việt Nam khác.
Bởi vậây khi về Việt Nam xin nhớ đến tình trạng song tịch của mình để đề phòng tai bay vạ gió.
Thông báo: về chiếu khán di dân của tháng Giêng năm 2007.
Dưới đây là thông báo của Trung Tâm Chiếu Khán Quốc Gia (National Visa Center) về ngày đáo hạn visa (cut-off date) của các đơn xin định cư tại Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình (family based immigrant) của tháng 1 năm 2007:
F1 (Con độc thân trên 21 tuổi của người có quốc tịch): 22 tháng 4 năm 2001.
F2A (Vợ/chồng và con độc thân dưới 21 tuổi của thường trú nhân): 15 tháng 3 năm 2002.
F2B (Con độc thân từ 21 tuổi trở lên của thường trú nhân): 8 tháng 4 năm 1997.
F3 (Con đã có gia đình của người có quốc tịch): 1 tháng 1 năm 1999.
F4 (Anh Chị Em của người có quốc tịch): 8 tháng 1 năm 1996.
Như vậy so với tháng 10/06 thì:
Diện F1, không lên được ngày nào.
Diện F2A, lên được gần nửa tháng
Diện F2B lên được 1 tháng.
Diện F3 lên được 3 tuần
Diện F4 lên được 5 tuần.