PDA

View Full Version : Nhân Xuân Về: Nói Chuyện Thần Tiên, Hang Động



PDK
01/27/2007, 08:09 AM
Nhân Xuân Về: Nói Chuyện Thần Tiên, Hang Động

Thinh Quang


CÓ MỘT ĐIỀU MÀ ÍT NGƯỜI LƯU Ý ĐẾN, ĐÓ LÀ NỀN VĂN HÓA HỖN HỢP GIỮA DÒNG VĂN HÓA “VIỆT HOA” VỚI DÒNG VĂN HÓA “CHÀM”! VÀ, GẦN ĐÂY SAU CUỘC THẾ CHIẾN THỨ HAI CÁC NHÀ KHẢO CỔ LẠI PHÁT GIÁC THÊM RA LÀ DÒNG VĂN HÓA VIỆT TƯƠNG TỢ VỚI NỀN VĂN MINH ĐỊA TRUNG HẢI.

Trường hợp như các “ngôi cổ mộ” mà đặc biệt là ngôi cổ mộ gồm năm phòng được phát giác ở xế khu Chợ Lim và được xem đây là nền văn minh ngôi nhà mồ lớn nhất trong nền văn minh Lạch Trường. Ngôi cổ mộ năm phòng này gần đây đã được khai quật có lối kiến trúc đặc biệt gần gủi với lối kiến trúc của người Trung Hoa. Theo nhà khảo cổ Olov Jansé ghi trong tập tài liệu tìm hiểu về nền văn minh Lạch Trường khi khám phá ra được các ngôi nhà mồ cổ xưa được ghi nhận có những nét đặc biệt giống với cơ cấu kiến trúc tiêu biểu cho nền văn minh có tính thần tiên. Theo ông Jansé cho là người xưa đã mô phỏng theo lối cấu trúc của các hang động thiên nhiên.

Có nhiều huyền thoại loan truyền trong dân chúng về các hiện tượng huyền-hoặc xảy ra ngay khu vực của các hang động, như sự xuất hiện các đoàn “quân ma” tại những vùng có các ngôi nhà mồ cổ đại, lũ lượt kéo nhau đi trong đêm Trừ Tịch...

(Các hiện tượng ma quái này cũng từng xảy ra tại khu Rừng Cấm làng Tân Quang giáp ranh với phố Thu Xà Quảng Ngãi, vào những năm tháng trong ba thập niên đầu của thế kỷ 20! Lúc bấy giờ một số dân chúng ở địa phương nhìn thấy hình ảnh của những bóng ma kéo nhau hàng đàn hàng lũ vừa đi vừa kêu gào khóc than thảm thiết! Cũng có nhiều năm vào những đêm Giao Thừa dân chúng trong vùng loan truyền họ đã nhìn thấy Rừng Cấm trở thành khu chợ đông đảo người buôn bán đi lại tấp nập mãi cho đến khi trời rựng sáng thì phiên chợ tự nhiên tan biến mất. Lúc bấy giờ dân chúng địa phương gọi đó là khu chợ Ma Hời! Ngoài ra còn có các hiện tượng ma quái khác xảy ra quanh năm tại nơi này, như giai thoại các cô gái Hời xinh đẹp thường hiện lên giữa ban ngày hay vào những buổi hoàng hôn để trêu ghẹo khách qua đường v.v...)

Ngoài ngôi cổ mộ năm phòng qui mô ở Chợ Lim, các nhà khảo cổ còn tìm thấy các ngôi mộ khác cũng cùng một hình dạng, nhưng nhỏ hơn và chỉ có mỗi một phòng được chia thành ba ngăn cách nhau bằng ba bức vách tường đá hình vòng cung. Đặc biệt toàn thể các ngôi cổ mộ khai quật được đều có lối kiến trúc khác thường, không chỉ có vẽ hình tượng tôn giáo mà còn vẽ cả đời sống, luôn cả hoa điểu cũng như sơn thủy có khuynh hướng nửa huyền hoặc, nửa thế tục.

Vào năm 1930, tại lòng sông Vực tức Sông Hồng thuộc nhánh Sông Vệ, người ta khai quật được nhiều hình tượng như những nữ tì tại các cung đình Chiêm Thành hay ảnh tượng những thị thiếp của các nhà quí tộc... hay hình Uma vũ lộng, lá nhỉ của Chiêm Thành giữa thế kỷ 11 hoặc hình tượng Apsara, cùng nhiều hình tượng Chiêm Thành khác nữa...

Nền văn minh Lạch Trường theo nhà khảo cổ Olov Jansé, các ngôi cổ mộ Bắc Ninh đã dẫn dắt đến tín ngưỡng Thiên Động. Đây là một từ ngữ chỉ về động nhà trời. Thiên Động nằm giữa lòng núi đá, phía trên trần núi là tiêu biểu cho Trời, bên dưới là biểu trưng cho Đất, còn cửa của Thiên Động là ranh giới chia cắt giữa cảnh giới siêu nhiên với thế giới vật chất. Tại miền Trung, tỉnh Quảng Nam - nay là Quảng Nam-Đà Nẵng có núi Ngũ Hành Sơn, cảnh sắc khác thường, có đường lên Trời, có hang xuống Âm Phủ. Quanh năm như có sương mù bao phủ trông hệt như chốn Non Bồng Nước Nhược... Hình dạng Ngũ Hành Sơn có năm cụm mọc lên trên động cát dài có tên: Kim sơn, Mộc sơn, Thủy sơn, Hỏa sơn và Thổ sơn... Núi Ngũ Hành được xem là một trong các thắng cảnh bậc nhất của Việt Nam, chẳng những thích nghi cho các tín đồ Phật giáo hay Lão giáo mà còn làm cho tâm hồn con người khi đến đây viếng cảnh có những phút giây rung cảm trước cảnh tượng thiên nhiên của trời đất. Đối với khoa phong thủy thì quả Ngũ Hành Sơn là một đề tài để khảo sát... Như phần nhỏ bên dưới đây đã mô tả cảnh sắc này tiêu biểu cho một nền văn hóa cổ xưa hiếm quí.

1. Trong các ngọn Ngũ Hành thì Thủy Sơn là quan trọng hơn hết. Núi này không cao mấy, có các bực đá để đi lên, có những chỗ phẳng để nghỉ và để cho du khách dùng làm chỗ dừng chân trông xuống cảnh đồng bằng mà nhìn cảnh các động cát trắng phau phau, ruộng lúa, xóm làng và biển cả mênh mông xanh màu nước biếc... Càng lên cao càng nhìn bao quát được phong cảnh hữu tình... khiến cho khách lãng du bàng hoàng lưu luyến.

2. Các du khách trèo lên đến ngôi chùa đầu tiên, nhìn về phía dưới có cảm tưởng như mình đang chiêm ngưỡng bức tranh thủy mạc, nào: non non, nước nước, mây mây, thoảng bên tai những tiếng chày kình, mà lòng lâng lên nhẹ nhõm, tưởng chừng trong tâm hồn mình hoàn toàn thanh thoát mà chẳng còn vẩn lấy chút bụi hồng trần... Hình ảnh này trông giống như cảnh chùa Hương Tích tỉnh Hà Nam, Bắc Việt sau này được ghi nhận là Nam Thiên Đệ Nhất Động - đượm màu sắc huyền nhiệm và cũng như Hòn Non Nước đã khiến cho các du khách cũng phải ngẩn ngơ tưởng mình như đang lạc lõng vào chốn Non Bồng Nước Nhược...

Vào chùa Tam Thai chẳng khác nào cảnh tiên giới. Ngoài cổng chùa các chòm mây ngũ sắc bao quanh, nơi đây các vị sư già, nét mặt từ bi, hoặc đang làm công quả, hoặc đang lần tràng hạt đọc kinh trước Phật đài v. v...

Ngoài ra còn có các hang động như Động Huyền Không, động Linh Nham, động Vận Thông, Động Thiên Linh, có cả động Tàng Chân và động Chiêm Thành... “...Các động này toàn là các đá vôi chồng chất lên nhau thành phiến, trông ra chẳng khác nào hình ảnh của một đống gạch...Trong các phiến đá vôi có những phiến mềm nên dễ bị nước xoi mòn. Vì vậy trông hình ảnh của hòn núi đá vôi ở đây chẳng khác gì hình ảnh của một thân cây bị sâu ăn bên trong, tạo thành những lổ hổng nhìn vào thấy chẳng khác nào cảnh tượng chốn thần tiên... Các du khách thường nhận thấy các hình ảnh thiên nhiên này tại trong các động Hương Tích, Tử Trầm với nhiều nhũ đá được hình thành bởi các dây đá vôi chảy xuống đọng lại”.

“Các động ở Thủy Sơn đều là động lộ thiên. Vân Thông động, nôm na gọi là Hang Trời. Thiên Linh động có tên là Hang Gió, vì ở trên nhìn thấy trời, ở động dưới thì nghe gió thổi vi vu như tiếng sáo diều... Ngoài ra còn có hang Âm Ti thường gọi là hang Âm Phủ. Ở hang Thủy Sơn không có nhũ thạch (thạch nhũ), không có nước nhỏ tí tách, duy chỉ có một nơi trong động này có nước rỉ. Nhà sư trụ trì cho hứng vào bể, đặt trong một cái hang đào nhỏ để khách thập phương đến múc uống gọi đó là “lộc Phật”.
. . . . . . . . . . . .

Bên trong động, cạnh chùa thờ Phật có miếu thờ Bà. Được giải thích là nữ thần Thiên Y A Na tên Phạn là U Ma. Nữ thần này do Ấn Độ đem sang, người Chàm thờ cúng. Đạo Bà La Môn cũng do người Ấn mang sang cách nay lối 1.500 năm truyền dạy cho người Chiêm Thành. Chính người Chàm đã tìm ra các động ghi nhận bên trên và thờ cúng các vị thần của họ nơi đó. Một con đường đá được họ đẽo từ bên dưới dẫn lên đến tận đỉnh núi, hiện nay di tích vẫn còn lưu lại.

“Người Lạc Việt tới Quảng Nam vào thế kỷ thứ 14” (Nguyễn Thiện Lâu, Bách Khoa số 49 ngày 15-1-1959). Như vậy thì quan niệm về tín ngưỡng Thiên Động với dân tộc Việt vốn có sắc thái riêng biệt bởi ảnh hưởng về Phong Thủy chứ không phải do bắt nguồn từ nền văn minh của một quốc gia nào khác truyền đến. Đạo Thần Tiên của dân Việt xuất phát từ các hang động. Như tại Quảng Ngãi, có núi Ông Rau - tên quen gọi của người dân địa phương khi nhắc đến một đạo sĩ tu thành tiên vào hai thập niên đầu của thế kỷ XX. Đây là vị “nhân tiên” tức là vì tiên tu từ kiếp người mà thành, khác với “thiên tiên” từ trên trời mà có. Trong Non Nước Xứ Quảng của Phạm Trung Việt có ghi nhận về hang động này như sau:

“...Đuôi Long Phụng Sơn, nằm sát bờ biển. Có một hang động sâu thẳm dài ước 500 m, suối chảy quanh năm, nước trong, uống rất ngon.

Chính giữa hang có ngôi chùa Ông Rau. Tương truyền tên thật là Đạo Hạnh. Đạo Hạnh thường dùng cây cỏ (ngày nay ta gọi là thuốc nam) để chữa bệnh miễn phí cho dân chúng địa phương.

Trong cuộc sống hằng ngày, ông tìm các loại rau ăn qua bữa nên khi ông qua đời dân chúng trong vùng kính trọng tài đức lập chùa lấy tên là chùa Ông Rau (có người nói là ông đã bỏ đi nơi khác). Tỉnh Quảng Ngãi có chùa nằm trong hang động sát bờ biển như chùa Ông Rau rất hiếm. Chùa vẫn còn di tích ở Long Phụng Sơn. (NNXQ trang 183).

Trong Non Nước Xứ Quảng của Phạm Trung Việt có nói đến các hang động cũng như các phong cảnh đẹp tại Quảng Ngãi như ở đảo Lý Sơn cũng có năm ngọn núi gọi là Ngũ Linh, gồm có Hòn Tai, Giống Tiền, Hòn Sỏi, Hòn Vung và núi Thới Lới - là ngọn núi cao nhất trong năm ngọn, có đến 160 m. “...Bốn phía núi cao, ở giữa trũng thấp. Đường độc đạo liên xã dài 7 km có hai dốc núi tiếp nhau: dốc Quyến và dốc Tranh... (tr 58).

Núi Thới Lới tại đảo Lý Sơn theo Non Nước Xứ Quảng là “...một quần thể thắng cảnh đẹp ngang tầm với với các thắng cảnh trong tỉnh và cả nước. Chùa Hang là một hang động lớn nhất trong hệ thống hang động ở đây, được tạo ra từ núi Thới Lới. Màu nham thạch, vách núi dựng đứng cao gần 20 m đã bị thủy triều, sóng biển qua hàng triệu năm đào đắp đẽo gọt tạo nên chùa thờ Phật nên còn có tên là “Thiên Khổng Thạch Tự” (Chùa Đá Trời Xây)... Cũng tại vùng núi Thới Lới này còn có giếng Xó La được xây bằng đá đen sát biển, giếng sâu đến 3m, được xem đây là giếng ngọt nhất trong vùng.

... Cũng từ Long Phụng Sơn có giai thoại “Cây Mai Trên Núi Đá Bạc”. Ở giữa một kẹt đá tại Long Phụng, vượt lên trên những bụi gai thưa thớt là một cây mai gốc to đến bốn gang tay. Cạnh gốc mai một tảng đá có một chỗ lõm xuống hình bàn chân to tướng. Từ đó về sau, mỗi độ đông tới xuân về, cây mai lại đơm nụ, khai hoa quyến rũ loài chim phượng bay đến làm cảnh núi Đá Bạc đẹp bội phần. Cho nên mới có câu ca dao:

Ngó lên núi đá Cao Biền
Thấy đôi loan phụng đang chuyền nhành mai”.
(NNXQ của Phạm Trung Việt, tr 183)

Quan niệm của người Việt, cho rằng “Đạo Thần Tiên” có liên hệ ít nhiều với với “Đồng Bóng”. Tuy không hẵn đi vào khuôn khổ có tổ chức thành một tôn giáo nhưng những người muốn tìm hiểu về sự huyền nhiệm thường hội họp nhau lại thành một nhóm nhỏ (các nhóm nhỏ này là bạn bè tri kỷ với nhau) để cầu thần tiên giáng cơ (nếu là đồng tiên tỉnh) hay giáng vào người đồng bóng (nếu là đồng mê) với mục đích cùng nhau xướng họa, hoặc xin gia sự, hoặc muốn tìm hiểu về chuyện thời sự v.v... nhưng đặc biệt là cầu xin thuốc men chữa bệnh. Đồng bóng có nhiều loại, như “Đồng Tiên” tỉnh do các Vì Tiên nhập vào cơ - trong lúc đó người đồng bóng này vẫn tỉnh táo như chẳng có việc gì xảy ra cho họ cả. Lối cầu đồng này có vẻ thanh lịch hơn. Khác với người đồng bóng thường hò hét nhảy múa khi có quỉ thần nhập vào thân xác họ. Cầu đồng mê phải có phù thủy, chính các vị phù thủy cầu đảo cho thần quỉ nhập xác đồng và cũng chính các phù thủy đó có bổn phận giải cứu cho người đồng bóng nếu gặp trường hợp rủi ro bị quỉ thần nhập vào hành hạ, buộc xác đồng phải làm những việc nguy hiểm có thể lâm nguy đến mạng sống của cốt đồng.

Tại chùa Hang núi Phú Thọ - trước kia có vị đạo sĩ tu tiên thành đạo. Về sau người đời gọi là “Ngài Thạch Động”. Nhưng cũng có người bảo, Ngài Thạch Động chính là vị đạo sĩ tu tiên có tên là Đạo Hạnh. Ngài Đạo Hạnh lúc chưa đắc đạo thường dùng rau cỏ giúp người đời chữa bệnh. Sau khi “thành tiên” các tổ chức ngồi “đồng tiên” thường cầu xin Ngài giáng cơ như phần trên đã nói để hoặc cùng các thi nhân trên đời xướng họa, hoặc cho thơ thế sự mà nội dung có ẩn ý tiết lộ... về cuộc diện của đất nước v.v...(lúc cuộc thế chiến thứ hai chưa chấm dứt) v.v...

Tóm lại các du khách thời bình thường năng lui tới để chiêm ngưỡng cảnh trí hang động, không ngoài mục đích tìm hiểu giá trị siêu nhiên của các thắng cảnh mà các huyền thoại đã góp phần không nhỏ làm tăng thêm không ít về tính hấp dẫn của nó. Trong văn bia Linh Xứng ghi chép như sau:

-“Nhân trí sở lạc sơn dã, thủy dã. Thế đại sở truyền đạo yên danh yên. Nhược phi thác kỳ sơn nhi trứ đạo dạnh bất túc dĩ quí hồ?”.
(Kẻ nhân trí thì vui với cái vui của núi sông. Truyền lại đời đời (kiếp kiếp) là truyền cái danh với đạo. Bằng không chỉ dựng Chùa ở tại núi này để mở mang đạo ra e không đủ để lấy làm quí vậy).

anmota
01/27/2007, 09:17 AM
Bài ký bia chùa Báo Ân (1)
Bài ký Hội Thích giáo Thiền tự già (2) chùa Báo Ân


Bậc thí chủ xuất tiền làm cảnh chùa thêm đẹp, được các vị hào kiệt hơn đời tôn kính.

Nay có ông Phong trị động chương công giám thần, Kim tử quang hoằng thái trưởng trưởng tử thái tử nhật trung huệ môn hạ thị công, đặc tiến phong Ân sĩ đại phu văn công, quốc công, lệnh công đem hơn trăm mẫu ruộng thế nghiệp và hơn hai nghìn quan tiền, cúng Như Lai để nêu cao công đức một nhà, cho việc mai sau thêm long trọng, và tỏ lòng thành kính mãi mãi không quên.
Xưa nay sách phật dậy không sai mà chứng quả lớn của lòng từ rành rành còn đó. Trải bao thế đại vẫn không ngừng, nay gặp hội rực hồng đuốc thiện. Nắng tỏa trăng soi nền phúc nguy nga, điềm lành vòi vọi; cổ kim tiếp nối, bè từ chói lọi, cậy đức ngất trời. Vận nước huy hoàng; núi sông tráng lệ. Thấm thía như cây nhờ ơn nước, cảnh mai sau xanh tốt thắm tươi; rạt rào ơn Phật lẫn ơn trời, nguồn nhân hậu lưu dành chan chứa. Văn ghi bia dựng, lưu lại ngàn đời; đạo cả lòng từ, khắc sâu muôn thủa. ý tốt tỏa hương thơm, lòng nhân ngời đức thiện. Nhân là lớn, đạo là lành, để lại phúc lành cho con cháu. Minh là đẹp, tùng là thơm, lẽ báo đền âu cũng hiển nhiên.

Ngọc mài thì sáng, vàng chuốt thì tươi. Như núi sông nhật nguyệt trường tồn, thêm đạo lý văn chương tô điểm. Sùng thượng thì được hưởng phúc lành, sáng tuốt là khắc sâu chữ hiếu vậy chăng?
Tiếng nói và thể phách chết đi là mất, của cải cúng vào chùa ghi tạc trong bia (3), muôn thuở lưu truyền, tiếng tăm lừng lẫy như ánh mặt trời mới mọc. Tấm lòng ngưỡng mộ, danh vẻ vang mãi mãi không mờ.

Bẩy gian san sát vừa xây, một xóm sáng tươi rực rỡ. Quy mô ấy đã nên ghi, công nghiệp nọ càng đáng khắc. Ghi nhớ ý tốt, ngợi ca việc thiện, hẳn cũng nên làm vậy. Sách Thấu hải nói: phong tục theo đời cổ là hay. Lại nói: đạo đức vốn tự trời sẵn phú. Nay thái tử thấy cảnh chùa Tự già Báo Ân: điện thánh tầng tầng, vầng dương tỏa chiếu; phật đài sừng sững, dáng núi vút cao. Thường khi ba ngày ăn chay, thường khi một lòng phát nguyện. Thái tử bèn bỏ ra hơn bảy trăm quan, sửa sang tiệc cúng; lại đem các đồ thất bảo (4), dâng lên tòa sen. Thực là: đức rộng bằng sông biển, lòng sáng như trăng sao.

Lúc ấy các sư sãi ở nhà ông đều là những người vâng mệnh triều đình cùng chung một chí hướng, dù trí hay ngu, dù lớn hay nhỏ, dốc lòng trụ trì, tu sửa mở mang, cõi phúc được trang hoàng tốt đẹp. Nguyễn công là cháu trưởng Ðề công dưới triều Cao Tông hoàng đế (5), gặp thời thịnh trị đã làm cho cửa nhà rạng rỡ, tháp đất xuân tươi nhuần. Nguyễn công sâu sắc khéo giữ phép nhà, nên được giao xem xét thị vệ ở Long cung, cùng công chúa bắc cầu, xây tháp. Ngày tháng năm ấy sinh con trai, được Tín quận công Phạm Công Trác (6) lập đàn cầu mát. Tiếp đó có chỉ thăng hàm Trung siêu quận quốc (7).

Khi ấy Nguyễn Bá Công là Công Lượng, Tể tướng Phạm Côn, người Ninh Ơn (8), trúng ất khoa, được vào chầu sân rồng, hàm tòng nhị phẩm, vâng mệnh hoàng đế và thái thượng hoàng (9) cất nhắc ông làm võ tướng. Cơ đồ mở rộng, dân thảy dân Nghiêu; bờ cõi vững bền, càng tôn phép Phật.

Bố thí rộng thì đức sáng cửa nhà; khéo dạy bảo thì người vui theo đạo Phúc báo nào có xa đâu; việc ghi vẫn còn rõ lắm (10). Ơn vua thấm khắp, cây cỏ xanh tươi; đuốc tuệ rộng soi, non sông bền vững. Nguyễn công phúc lộc dồi dào, thân bằng toàn vẹn; làng xóm khí thiêng chung đúc, sinh lắm trai tài. Chuông khánh trước tòa Phật, từng đã đúc nên; pháp khí (11) trên ban thờ, nhiều phen dâng cúng. Ðức thấu trời xanh, ơn lưu hậu thế; giận dữ ác độc, thảy đều tiêu tan (12), nghìn xưa vẫn vậy. Nhờ có sự bố thí rộng rãi, mới có cảnh chùa đẹp đẽ ngày nay.

Nguyễn công trước kia từng tới thăm chùa, khuyến hóa mọi người báo ơn trời Phật. Từ hư không dựng cảnh chiền xán lạn, làm nơi cực lạc tiêu dao, thật đáng gọi là điềm tốt đẹp.

Nguyễn công vừa tới trụ trì, chùa đã nổi danh, vui đạo diệu thiền, chăm theo giáo pháp. Dốc lòng cung kính, một niềm báo đáp Phật ân; phép báu giữ gìn, thành kính báo đền tổ đức.

[Thế rồi]: thuê người vẽ kiểu, tính toán vật tư; xem tháng bói ngày, hẹn kỳ khởi tạo. Vâng mệnh trên, người người gấp rút lo toan, khắp cả quan ty bốn bộ. Mọi kẻ thừa hành răm rắp, xem quẻ chọn được ngày lành. Các bậc cung phi, ai ai cũng góp. Muôn dân trong nước, nhà nhà đều quyên. Như đàn chim họp bày ríu rít, như chúng sinh vui được siêu thăng.

[Kết quả là]: cột sơn hoa thắm, màu ngọc tươi chiếu rọi non sông; cung điện huy hoàng, ánh nhật nguyệt chói ngời sáng láng. Tượng Phật trang hoàng; tòa sen đĩnh đạc. Chuông to gác phượng, chẳng bao lâu tu tạo đã xong; khánh quý khám rồng, vẻ lộng lẫy uy nghiêm rõ rệt. Vững như vách núi, cảnh đẹp bao mòn. Lại còn ruộng xứ đồng Bi, ghi chép giới phân càng rõ. Trong đồng, ngoài bãi rành rành, cúng Phật, cho dân minh bạch. Trong đồng thì xứ Phan Thượng 30 mẫu, xứ Phan hạ 30 mẫu, xứ Tửu Bi 20 mẫu, xứ Ðồng Hấp 30 mẫu. Ngoài bãi thì xứ Ðồng Chài 8 mẫu, xứ Ðường Sơn 5 mẫu, xứ Ðồng Nhe 3 mẫu. Các xứ cộng 126 mẫu, cúng làm ruộng oản nuôi sư, 3 mẫu cho người giữ chùa, còn bao nhiêu để lại cho dân, phòng khi tu sửa, cùng là sắm cỗ chay oản quả, dịp hội hè, bố thí cô hồn.

Ôi, cảnh chùa này phía tây tiếp giáp cầu Ðằng, suốt ngày nhộn nhịp, tiếng chèo khua, thuyền mảng qua lại. Phía nam có non Huyền cao ngất, cảnh sắc xinh tươi, chim về ríu rít. Bên bờ cây xuân thơm phức, cảnh đẹp nhờ vẻ linh thiêng. Phía bắc bát ngát đồng Bi, ruộng từng khoảnh tiếp liền một dải. Phía đông mênh mông nội cỏ, sáo mục đồng [hôm sớm vi vu]. Hơn trăm mẫu ruộng xứ Bi Ðàm là do Nguyễn công bỏ ra hơn 1000 quan tậu cúng làm ruộng oản. Chùa đặt tên là Tự Già Báo Ân, có thể gọi là xây nền phúc vậy. Nguyễn công nghĩ rằng: công lao tu tạo, ấy mới là duyên đẹp của một nhà; lại kết thắng nhân, kể tên đủ chín vị trong Hội hãn. Năm năm cúng vài quan tiền tốt, việc từ tâm nào kể ít nhiều; tháng tháng dâng trăm tấm lụa hồng, hàng áo mũ nệ gì cao thấp. Phướn bay khoe sắc, phất phơ muôn đóa hoa tươi; tàn ngọc phơi màu, lấp lánh ngàn đèn đuốc rọi. Quả đẹp hoa thơm dâng tượng thánh, phúc tràn thế giới ba nghìn: chân tiên tinh tú, hưởng tiệc hoa, chứng giám lòng thành hạ giới. Khua chiêng gõ trống, tiếng vang vang thấu đến tầng trời; phẩm oản mâm chay, mùi ngon ngọt rỡ ràng tiệc cả. Ngọn đèn soi thấu, cõi u minh siêu độ kẻ tiên vong (13); hương khói ngạt ngào, nơi đất Phật phúc lưu người hậu hóa (14). Trước hết chúc; đương kim hoàng đế và thái thượng hoàng, vâng mệnh trời mà trị vì, nối Thuấn Nghiêu mà giữ nghiệp. Sống muôn năm để trị dân đen, thọ nghìn tuổi để hộ trì Phật pháp. Thứ đến chúc tất cả các vị công hầu khanh tướng (15), ngọc vàng giàu có, lộc vị cao, thăng, giúp thánh chúa ngày ngày đổi mới, trồng thiện nhân mãi mãi không ngừng.

Tôi nay tài mỏng cánh ve, lạm dùng chữ nghĩa rông dài, thẹn không ý đẹp lời hay, gượng thuật đạo trời cao cả.

Minh rằng:

Chân như, đã định,
Ðạo Phật đang hưng thịnh.
Cái tâm phút chốc đạt đến chỗ lặng lẽ,
ý càn rỡ hung hăng chợt lắng trong.
Kẻ chết trước, người tịch sau,
Ðều lên thiên đường.
Muốn thoát khỏi cảnh chìm đắm [trong bể khổ],
Phải kính trọng Phật và sư.
Kính cẩn xây dựng chùa,
Ðó là việc làm của Nguyễn công.
Một lần khoác áo chiến bào,
Là bọn giặc tan rạp như cỏ lướt theo gió.
Vài quan tiền,
Trăm tấm lụa hồng,
Ðể sửa sang cảnh chùa,
[Cho nên] được phúc lớn.
Phướn hoa, lọng báu,
Phản chiếu ánh mặt trời rực rỡ.
Rung chuông đánh trống,
Thổi sáo, thổi tù và.
Tiệc chay thanh đạm,
Trăm vị thơm ngon.
Bố thí không kể nhiều ít,
Ban phát không kể trẻ già
ánh đèn nến sáng rực,
Thấu khắp nơi nơi.
Nguyễn công tích phúc thiện,
Nhiều đời được phong tước.
Giúp vua ức vạn năm,
Tôn sùng Phật pháp không lúc nào thiếu sót.


Dịch nghĩa:

Ðạo chân như đã định,
Phật giáo đang khơi dòng.
Tâm trở về hư tịch,
ý càn rông lắng trong
Người hóa sau, tịch trước,
Thiên đường, một lối chung.
Muốn thoát vòng bể khổ,
Phật tăng phải kính sùng.
Chùa Báo Ân lộng lẫy,
Là do sức Nguyễn công.
áo chiến bào vừa khoác,
Cỏ lướt gió hãi hùng.
Vài nghìn quan tiền tốt,
Mấy trăm tấm lụa hồng.
Sửa sang đồ pháp khí,
Ðược phúc thỏa ước mong.
Phướn hoa và lọng ngọc,
ánh mặt trời linh lung.
Trống chuông khua rộn rã,
Kèn sáo thổi tưng bừng.
Nào cỗ chay thanh đạm.
Nào trăm thức thơm lừng
Bố thí dầu nhiều ít,
Già trẻ đều hưởng cùng.
ánh đen soi rực rỡ,
Sáng chói cả một vùng.
Nguyễn công dày phúc thiện,
Ðời nối đời tước phong.
Muôn năm giúp thánh chúa,
Thờ Phật, dốc một lòng.

Trấn ti viên ngoại lang Ngụy Tự Hiền soạn.
Tháng 12 năm Trị Bình Long ứng thứ năm (1209) ngày tốt dựng bia (16)
Ngô Thế Long và Băng Thanh dịch


Khảo Đính:


Văn bản khảo đính: bản dập


Ðể khảo đính bài bia này, chúng tôi dựa vào bản dập mang ký hiệu 4102 - 4103 của Thư viện Khoa học xã hội. Bản dập cho ta biết bia cao 129 cm rộng 78 cm, do: Ngụy Tự Hiền soạn, kể công đức bố thí làm chùa của Nguyễn công, một tướng võ dưới thời Lý Cao Tông. Nét chữ trên bản dập còn rõ nhưng một số câu văn rất tối ý và rất khó dịch chính xác. Có lẽ bia đã được khắc lại và nhiều chữ bị sai lạc đi. Ðiều đó cũng thường gặp. Tuy nhiên, có một chi tiết đáng được lưu ý khi xếp niên đại của tấm bia này. Bia ghi rõ "dựng ngày tốt tháng Chạp năm Trị Bình Long ứng thứ năm" (1209), mười tháng trước khi Cao Tông chết. Như vậy bài văn chắc chắn phải viết xong trước thời điểm đó. Vậy mà trong bia lại có câu: "... thị Cao Tông đại Ðề công trưởng tôn"; nghĩa là: "... là cháu trưởng Ðề công đời Cao Tông". Cao Tông là thụy hiệu, mà ai cũng biết, thụy hiệu chỉ được đặt sau khi vua đã chết. Có nghĩa là có một sự mâu thuẫn giữa ngày tháng đề trên bia và sự kiện trong bài văn. Mặc dầu vậy, sau khi nghiên cứu, chúng tôi thấy có thể có hai nguyên nhân dẫn đến sự khập khiễng trên:

1. Thường thường từ khi bài văn bia viết xong đến lúc tấm bia hoàn thành phải trải qua một thời gian, có khi đến mấy chục năm (như trường hợp bia Linh Xứng). Cho nên, có thể bài văn này Ngụy Tự Hiền viết xong vào năm Trị Bình Long ứng thứ năm nhưng lại được khắc sau khi vua đã mất. Và lúc đó, người khắc tự tiện thay đại từ chỉ Cao Tông bằng thụy hiệu đã ban bố.

2. Cũng có thể sự sửa đổi này xảy ra vào lần bia khắc lại, mà khắc lại khá muộn. Cho nên, bên cạnh hai chữ Cao Tông, ta còn thấy cả tên những đơn vị hành chính rất mới như: xã, bản xã.


Chú thích:

(1) Chùa Báo Ân: hồ sơ của bia ghi chú chùa ở xã Tháp Miếu, tổng Bạch Trĩ, huyện Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên. Theo ÐNVNQCÐ, Yên Lãng là tên đặt sau đời Lý. ở đời Lê, huyện Yên Lãng thuộc trấn Sơn Tây. Trấn Sơn Tây đời Lý là miền đất thuộc lộ Quốc Oai. Hiện nay Yên Lãng thuộc tỉnh Vĩnh Phú.

(2) Hội Thích giáo thiền tự già: có lẽ là hội của những người theo đạo Phật nhưng không xuất gia. Hiện chưa tìm được tài liệu ghi chép rõ về kiểu tổ chức này.

(3) Tiếng nói và thể phách chết đi là mất, của cải cúng vào chùa còn ghi tạc trong bia: nguyên văn: âm thể viễn nhi viễn dã: sở dụng chí hoàn nhi bi chi khắc. Câu này rất khó hiểu. Trong Phật học, khái niệm âm và thanh rất quan trọng. Câu này cũng có thể hiểu theo nghĩa chữ là: "cái thể" của âm thì xa và càng xa mãi, nhưng "cái tác dụng" của nó thì tuần hoàn (tồn tại) và bia được khắc lại. Nhưng chủ ý của tác giả định nói về vấn đề gì cũng chưa rõ ràng.

(4) Thất bảo: còn gọi là thất trân.

(5) Cao Tông: tức Lý Long Trát.

(6) Ðoạn này mạch văn rất rối, tạm dịch như trên. Các nhân vật này cũng chưa rõ tiểu sử.

(7) Hàm Trung Siêu quận quốc: nguyên văn: "Phụng cấp Trung siêu quận quốc" nghĩa là vàng và chỉ trao hàm Trung siêu quận quốc. Chưa rõ hàm tước này.

(8) Ninh Sơn: Trong Lĩnh Nam chích quái, Ninh Sơn là một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Dư địa chí của Nguyễn Trãi cũng có ghi. ở đời Lê, Ninh Sơn thuộc phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây, có lẽ ở đời Lý thuộc lộ Quốc Oai chăng? Phủ Quốc Oai nay là huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây.

(9) Hoàng đế và thái thượng hoàng: chế độ vua và thái thượng hoàng cùng coi chính sự là đặc điểm của nhà Trần. ở thời Lý sử sách chỉ ghi có hai trường hợp: Lý Thần Tông (1128-1137) sau khi lên ngôi tôn Sùng hiền hầu là thái thượng hoàng. Lý Huệ Tông (1211-1224) sau khi nhường ngôi cho Lý Chiêu Hoàng cũng xưng là thái thượng hoàng. Tuy nhiên, bài văn bia này được viết vào năm Trị Bình Long ứng thứ năm (1209), lúc tình hình chính sự rối ren. Theo Việt sử lược và Ðại Việt sử ký toàn thư, lúc đó có các cuộc chống đối của Quách Bốc, Phạm Du, Trần Tự Khánh làm cho triều đình ly tán. Lý Cao Tông chạy ra Quy Hóa, hai con trai chạy về mạn Lưu Gia. Một trong hai con trai đó là Lý Hạo Sảm được bọn Trần Lý tôn lên ngôi, xưng là Thắng Vương, có phong chức tước cho một số người và lập nguyên phi. Trước sự kiện đó, có lẽ nhiều người đã coi Lý Cao Tông là thái thượng hoàng chăng?

(10) Nguyên văn: viễn quán hưu viễn, minh thẩm do minh, ý chưa rõ ràng, chúng tôi tạm dịch như trên.

(11) Pháp khí: ở đây chỉ các đồ thờ Phật như đèn, hương, chiêng, mõ...

(12) Nguyên văn: án diễn Trụ trừng. án diễn là chữ trong bài Cầm phú của Kê Khang, có nghĩa là vẻ bất bình. Trụ là vua cuối cùng của nhà Ân, rất tàn bạo độc ác. ở đây tác giả muốn nói mọi sự độc ác giận dữ đều được lắng đi.

(13) (14) Tiên vong, hậu hóa: thuật ngữ đạo Phật, đều có nghĩa là chết.

(15) Công hầu khanh tướng: dịch ý chữ ngũ đẳng, tức là các hàng quan to trong triều được phong theo tước công, hầu, bá, tử, nam.

(16) Sau đoạn này, bia còn một đoạn ghi tên 10 người trong Hội và địa giới ruộng chùa.
http://www.nhanmonquan.net/vbulletin/images/statusicon/user_offline.gif

anmota
01/27/2007, 02:14 PM
Trong Non Nước Xứ Quảng của Phạm Trung Việt có ghi nhận về hang động này như sau:

“...Đuôi Long Phụng Sơn, nằm sát bờ biển. Có một hang động sâu thẳm dài ước 500 m, suối chảy quanh năm, nước trong, uống rất ngon.

Chính giữa hang có ngôi chùa Ông Rau. Tương truyền tên thật là Đạo Hạnh. Đạo Hạnh thường dùng cây cỏ (ngày nay ta gọi là thuốc nam) để chữa bệnh miễn phí cho dân chúng địa phương.

Trong cuộc sống hằng ngày, ông tìm các loại rau ăn qua bữa nên khi ông qua đời dân chúng trong vùng kính trọng tài đức lập chùa lấy tên là chùa Ông Rau (có người nói là ông đã bỏ đi nơi khác). Tỉnh Quảng Ngãi có chùa nằm trong hang động sát bờ biển như chùa Ông Rau rất hiếm. Chùa vẫn còn di tích ở Long Phụng Sơn. (NNXQ trang 183)."
Thinh Quang .
--------------------------------------
Vài bốn năm trước đây, có ông cháu sang thăm , mang cho tôi một số Tạp chí ( Quảng ngãi - Sông Trà ).
Trong đó có bài viết về Chùa Ông Rau , của người Long Phụng : Lê Vinh Bổn .
Lại có bài viết của người An mô , Nguyễn Tấn Phùng .
Đọc kỹ bài của Nguyễn Tấn Phùng , tôi nhận ra đây là người láng giềng xưa . Thủa còn học Tiểu học với, anh có tên là Nguyễn Tấn Thông .
Ai ở Canada , có thể biết anh Nguyễn Tấn Thanh .Thanh là em của Phùng .
...
Theo anh Phùng , thì ông Rau là một người có họ Nguyễn hữu ... Về sau họ Nguyễn hữu đổi ra họ Nguyễn tấn ...Trong gia phả nhà anh , có lẽ nhằm vào thời ...trước , gần với thời Tây sơn ( 1771 - 1801) thì ông Rau đã là người tu hành, từ làng An mô ...vào núi Đất , núi Long Phụng ...tiếp tục tu .
Sau khi ngài viên tịch , thì nhục thân có đem về táng tại An mô , Tại gò mả lớn : Gò Hống .
Anh Phùng cho biết là họ nhà mình thường tu tảo ngôi mộ , mộ ông Rau .
Gò Hống ở cuối làng .
Từ sau 1970( ?), sông Vệ đã ' bứt phá' làng Yên mô . Không rõ bây giờ ...ra thể nào .
Như vậy , cái huyền thoại ông Rau bị nước cuốn đi , hay bỏ đi đâu về cõi Trời , cõi Phật là nên coi như là một tồn nghi .
...
Ông Phạm Trung Việt , bảo hang chùa ông Rau ...dài những 500 mét.Chuyện này hoàn toàn không đúng.Báo hại ...ông Thinh Quang ...trích dẫn .
========================
Thời Tây sơn ,trong gia phả nhà bên ngoại tôi có một ông Thầy Nho , Thầy thuốc Nam , Thầy Tu ...Phật .Thụy hiệu là Phất Lộc .Ông là vị Tiên hiền , sáng lập ra chùa ...ở Bồ đề , Đức nhuận .Bà là người họ Biện , Bồ đề . Vào thời này ông bà cũng từng về miệt Núi đất , vở hoang khai hóa ...
Tây sơn bắt lính triệt để . Có lẽ các ông vào thời này cũng đã biết đi tu , trốn lính đó chăng .
...