Đôi mắt và nụ cười người Việt

....Ông Pazzi cho rằng sau ngót hai mươi năm sống trên đất nước VN ông đã có đủ thì giờ hiểu người dân khả ái cùng cái xứ sở kỳ diệu này.Ngày đầu tiên khi đặt chân đến đất VN được thực mục sở thị nhìn người VN, ý nghĩ đầu tiên của ông Pazzi là: Người VN thật đẹp. Ông đã nêu ý nghĩ đó nhiều lần với người Việt sau này. Tất nhiên ông chỉ nhận được những nụ cười hoài nghi của người mình, ai nấy cho rằng đó là cách nói xã giao để lấy cảm tình. Con mắt là gương phản chiếu tâm hồn, và tâm hồn người Việt là một tâm hồn thuần thục ý thức được cái sức nặng văn hóa của giống nòi mình.Ông công nhận người Hoa, người Nhật đều có những nét khả ái riêng, nhưng đôi mắt, cái miệng của người VN có một sức sống kỳ lạ mà chỉ người ngoài mới nhìn thấy và phân biệt được mà thôi.

Nhiều dịp tôi đã thấy kẻ bất lương hung hăng ném những tia nhìn hằn học đục ngầu sát khí nhưng khi ý nghĩ bạo ác tàn rồi, cặp mắt của họ dịu xuống, lại trở về với cái vẻ dịu hiền sắc sảo của dân tộc mình. Dù cho đôi mắt ấy không bình thường, hay bị thương tật, cái nhìn của người VN vẫn là cái nhìn thông minh, trong đó có chiều sâu thẳm của nền văn minh.

Khi nói đến cái cười của người Việt, ông có nhắc đến ý nghĩ của ông Nguyễn Văn Vĩnh trước đây cho rằng người Việt gì cũng cười, là cái cười vô ý thức. Ông Pazzi cho rằng nếu quả thực như thế thì người ta đã phản bội dân tộc mình. Trái lại, ông cho rằng người Việt với nụ cười đặc biệt của mình đã gây được một thế quân bình đặc biệt khiến trong mọi ngành sinh hoạt người Việt có khả năng chấp nhận và dung hòa được mọi ý kiến dị đồng.

Đời sống của dân tộc họ dù có chiến thắng vẫn không có những hân hoan tột độ, và dù có chiến bại vẫn không có những bi đát vô cùng.

Sau này nghiên cứu lịch sử VN tôi càng thấy rõ rệt hơn những điều ấy. Những lúc dẹp xong kẻ thù họ vẫn ngoan ngoãn làm người triều cống và khi bị kìm kẹp giữa gông cùm nô lệ họ vẫn thản nhiên tìm cách vươn lên. Chưa có dân tộc nào chiến đấu oai hùng như họ trải qua lịch sử, mà họ nào có bản anh hùng ca nào đâu. Cũng chưa có dân tộc nào đã lầm than đến thế, mà nào họ có một lời kêu khóc nào đâu? Văn chương VN không hề có sự bi thảm, tuyệt vọng bởi vì dân tộc của họ không thể bi thảm đến mức tuyệt vọng, dù phải sống vào bất cứ là trường hợp nào.

....ông Pazzi có nhận xét rất sâu sắc là chính cái tiềm thức cộng đồng của một dân tộc mới là cái di sản lớn vô cùng....Nó là kết quả của bao nhiêu đời sinh hoạt, của bao nhiêu nỗi thăng trầm vinh quang và tủi nhục thảy đều dần tụ để mà chung đúc lại thành những phản ứng sâu xa trong mỗi người dân, khiến lúc họ đi họ đứng họ nói họ cười cái vốn liếng ấy vẫn chi phối họ, vẫn hiện diện cách này hay cách khác...

Những người Việt khi nghe ông Pazzi thốt lời khen là đẹp thường hoài nghi vì chưa hiểu rõ cái quan niệm về đẹp của ông. Ông Pazzi đâu có nói đến khuôn mặt no đủ, trắng phốp hay hồng hào của những người quen sống trong nhung lụa...Khuôn mặt đẹp của người VN, theo ông Pazzi, chính là khuôn mặt rám nắng, khắc khoải lo âu cùng những hy vọng, khuôn mặt linh động và phong phú của những kẻ đang viết những trang sử lớn, khuôn mặt do quá trình gian khổ và sức quật cường lớn lao tạc thành, khuôn mặt có cặp mắt biết quắc nhìn giận dữ mà không tàn bạo, có đôi môi biết mím chặt căm hờn mà không ác tâm.

Sau khi nói rõ về đôi mắt và nụ cười người Việt, ông Pazzi tìm hiểu sâu xa hơn những đức tính tinh thần cố hữu của người Việt.

Một căn bản tinh thần quý giá của người Việt Nam là óc thiết thực

Tinh thần thiết thực của người Việt phản ảnh ở khắp mọi nơi, trong khắp mọi hoạt đông. Cách ăn mặc nhã đạm của người Việt cũng đã mang khá rõ lịch sử chiến đấu gian nan, oanh liệt của mình. Dù sau này chịu ảnh hưởng Tây phương người Việt vẫn tôn trọng lề lối truyền thống ăn mặc nghiêm chỉnh của mình.

....Thật là đáng nên suy nghĩ khi người dân ở xứ nóng như họ mà không hề có kiểu áo hở cổ của người đàn bà xứ lạnh Tây phương, hoăc không có lối áo ngắn áo dài lộ cánh tay trần như người Trung Hoa là dân miền lạnh.

...Về cách ăn mặc thì thế, về các công trình kiến trúc người Việt cũng ưa nhũn nhặn lẩn vào thiên nhiên. Người Việt không ưa chú trọng thực hiện những công trình kiến trúc đại quy mô thật nguy nga tráng lệ vì:

Họ không dại gì đem sức đá gạch mong manh để chọi với sức tàn phá vô tận của dòng thời gian. Họ dành sinh lực, vật lực của mình cho những nhu cầu thiết thực, cấp bách... Người VN không hề có óc viển vông và đó là cái quân bình làm nên sức mạnh của giống nòi họ. Nếu người ta hiểu rằng người Chiêm Thành sống trên mảnh đất nghèo nàn hơn nhưng lại có những ngôi tháp cổ công phu ngày nay vẫn còn cố đứng rầu rỉ trên các sườn đồi miền Trung, thì ta hiểu vì sao người Việt lại là những người chiến thắng.

Điều ngộ nghĩnh là ông Pazzi nhận xét thấy cả tinh thần thiết thực của người Việt trong thể thơ tiêu biểu của dân tộc là thể lục bát:

Trong điệu lục bát chúng ta có thể thấy tinh thần thiết thực VN ở chỗ yêu vận: tiếng cuối câu lục vần với tiếng thứ sáu của câu bát, nói lên sự bám víu thật là chắc chắn. Hình như người Việt cần phải nghĩ lại cho thật vững tâm rồi mới bước tới nữa. Trên con đường dài tám chữ ấy, người Việt đã có một trạm nghỉ ngơi để mà đổi ngựa, kiếm nước, chuẩn bị lại hành trang để tiếp tục lên đường.


Tinh thần uyển chuyển và tế nhị của người Việt

Thoạt ông Pazzi nghiên cứu tinh thần uyển chuyển và tế nhị đó ở ngôn ngữ Việt:

Ngôn ngữ VN là ngôn ngữ duy nhất trên thế giới có nhiều giọng điệu cung bậc...

Phải nghe người dân mỗi miền, người Bắc, người Trung, hay người Nam hát những câu dân ca quen thuộc với tiếng nói thuần túy và giọng thuần túy của họ, chúng ta mới thấy ý vị của giọng nói ấy đậm đà chừng nào.

Sự phong phú trong âm thanh lại được thay đổi qua nhiều miền đất của quê hương họ...

Nếu phải tô màu các giọng nói ấy, người ta có thể vẽ một bản đồ VN thật đẹp. Có miền màu xanh, có miền màu hồng, có miền màu vàng,...Đấy là chưa nói đến mức độ đậm lợt khác nhau...

Rồi từ đó, ông Pazzi xét sâu đến tinh thần uyển chuyển và tế nhị trong chính sách truyền thống của người Việt:

...Ở cái thế yếu của một dân tộc nhỏ bé nhưng giàu tự trọng bị sự chèn ép thường xuyên, người Việt bao giờ cũng sẵn sàng đứng lên đối đầu với kẻ thù địch, và sau khi đã chiến thắng vẫn sẵn sàng đem những món bảo vật khó tìm để mà triều cống. Cái lễ lạt ấy có lẽ không gì đáng chú ý, nhưng nếu người ta hiểu rằng đó là thái độ của kẻ đã từng tỏ ra bất khuất, đó là thái độ của kẻ chiến thắng vẻ vang, thì thật là một hành động đáng cho các dân tộc ở Tây phương suy ngẫm. Tôi vẫn ngạc nhiên về sự mềm dẻo mà cương quyết ấy, khuất phục mà kiêu hãnh ấy của người VN. Ngoài các phương thức uyển chuyển để mà tự tồn, chính sách ấy còn nói lên tinh thần trách nhiệm của người cầm quyền đối với dân chúng không vì những lối cao ngạo, tự ái nhất thời mà quên đi quyền lợi lâu dài của dân tộc mình, mà đem phung phí xương máu nhân dân. Một dân tộc chưa đạt đến trình độ văn minh tế nhị tất không có sự phân biệt rạch ròi như vậy, và nếu chúng ta biết rằng ngày xưa nho sĩ VN đã tỏ ra sùng bái thánh hiền Trung Hoa đến mực độ nào, quý trọng văn hóa Trung Hoa đến chừng mức nào, vậy mà khi cần giữ độc lập quốc gia, bảo toàn dân tộc, họ không ngần ngại một sự hy sinh nào hết để tiêu diệt kẻ thù. Người Việt nhận định tinh xác được mối tương quan giữa phần chính trị và phần văn hóa, đồng thời cũng nhìn thấy sự phân biệt giữa hai phần ấy trong một mức độ phải chăng.


Ý thức luân lý của người Việt

Dân tộc VN đã tự vệ tự tồn bằng cái ý thức luân lý hết sức mạnh mẽ vững bền của mình cách ăn ở luôn luôn có tình, có nghĩa, trung hậu, thành tín.Ý thức đó đã thành một phản ứng hết sức sâu xa bén nhạy vì người dân Việt sống giữa ca dao, tục ngữ, cổ tích, thần thoại rất mực đạo đức của mình như cá sống giữa biển. Bởi vậy:

Cho đến những người dân quê thất học, tâm não cũng thấm nhuần được khá nhiều các câu răn dạy truyền khẩu có điệu, có vần để họ xử dụng trong các cuộc đối thoại như những nguyên tắc vàng ngọc, và cả trong khi chửi rủa như những luận chứng bất khả di dịch. Một điều rất đáng chú ý là có lắm câu tục ngữ hết sức bóng bẩy, rất đỗi khó hiểu, cả đến nhiều người trí thức có văn bằng cao cũng không thể nào cắt nghĩa cho gọn, thế mà những người bình dân vẫn sử dụng một cách chính xác đặc biệt trong những lúc nói năng. Tất nhiên người nói không sao cắt nghĩa các câu phát biểu một cách phân minh, vì họ chỉ hiểu nó bằng trực giác vì căn bản tâm hồn họ như làm bằng chất luân lý và thông cảm với luân lý một cách tự nhiên, dễ dàng. Nếu người ta đem so sánh trình độ dân quê nước Pháp hay là nước Mỹ với người dân quê VN, người ta sẽ thấy rõ rằng trình độ phản ứng luân lý của người VN cao hơn nhiều. Điều đó thực cũng dễ hiểu, bởi vì dân tộc VN đã lập quốc lâu đời hơn các nước nói trên hàng mấy ngàn năm, và họ là một dân tộc chiến đấu không ngừng ở trong lịch sử để mà tự tồn, phát triển, nên có ý niệm ngấm ngầm vững chắc về giá trị mình.

Vì dân tộc VN có được ý thức luân lý sâu xa bền vững như vậy nên mới đầy rẫy những gương đạo đức như Nguyễn Đình Chiểu chẳng hạn, mù mà vẫn đem sức tàn ra làm thơ chống giặc, truyền bá đạo lý, nghèo đói mà không thèm nhận tặng vật của quân xâm lược, không thèm dùng những sản phẩm của thực dân, không thèm đi trên con đường cái quan là công trình xây đắp của quân cướp nước. Bảo là cụ Nguyễn hồi đó cố chấp ư? Không, thái độ căm thù quân xâm lược như vậy đáng cảm động biết bao và đã là một lời khuyến cáo khó lòng phai nhạt đối với bao nhiêu thế hệ đến sau, đó là một tinh thần kết tinh của bao nhiêu thế hệ chống đối, một loại kim cương đọng lại từ lớp đá than sinh hoạt của bao nhiêu đời, người ngoài phê bình hời hợt với con mắt bàng quan sao được!

Vẫn nói về ý thức luân lý của người Việt, ông Pazzi cũng đã không quên nhắc đến trường hợp thi hào Nguyễn Du với kiệt tác Đoạn Trường Tân Thanh của người. Ông Pazzi công nhận lời thơ của một dân tộc có âm hưởng riêng của nó mà người ngoại quốc không sao thấu triệt được hết, ông chỉ có thể ghi vài dòng về ĐTTT như sau:

...Sự đả kích Truyện Kiều chỉ xuất phát từ đôi quan điểm cô' chấp hẹp hòi của vài nhân vật thủ cựu hoặc bị lệch lạc vì một quan điểm chính trị nhất thời nào đó, hoặc vì quá chú trọng đi vào chi tiết mà quên đi đại cương. Thực ra nội dung quyển ĐTTT là một nội dung luân lý, và đó là thứ luân lý sâu xa đặc biệt về người, vì nó tố cáo một sự chà đạp con người, bày tỏ một niềm khát vọng yên vui hạnh phúc về người. Tôi tưởng không nói quá khi nhận định rằng Truyện Kiều - mà tôi phải tốn bao nhiêu công phu tìm hiểu - là một tác phẩm tiêu biểu của nền văn học VN, có một nội dung cao nhất về mặt đạo đức, vượt xa hơn hẳn bao nhiêu tác phẩm cổ điển của nhiều dân tộc tự xưng có nền văn minh lâu đời trên thế giới này. Đọc nó, ta thấy nức nở một niềm tủi hổ về con người bị đày đọa, con người tài đức vẹn toàn mà không bao giờ hưởng hạnh phúc, và trong sự nức nở ấy là tiếng kêu đòi thống thiết được cao đẹp, yên lành.

Kể ra chúng ta có thể tóm tắt những trang ông Pazzi viết về ý thức luân lý của dân tộc VN thành mấy điểm chính như sau:

1. Trọng vẻ đẹp tinh thần

Chính nếp sống toàn diện đã khiến tình cảm người Việt phong phú đến nỗi người ngoài trông vào phải rất đỗi bỡ ngỡ vì thấy họ mang trong bản thân sao cực nhiều mâu thuẫn. Họ sống với một thứ triết lý tinh diệu của sự liên kết mềm mỏng mà không nhượng bộ, hiền từ mà không nhu nhược, uyển chuyển để nuôi dưỡng sự tồn tại của mình.

Mới trên đây ông Pazzi nhận xét căn bản tinh thần quý giá của người Việt là óc thiết thực, thì đây ông lại nêu một điều quan trọng khác trong ý thức luân lý của người Việt là trọng vẻ đẹp tinh thần nhiều hơn vật chất. Ông Pazzi quả là người ngoại quốc hiếm hoi đã rọi được tia nhìn sắc bén mà phân tích được những thái độ dường như có bề ngoài mâu thuẫn đó của người Việt. Lời ông viết:

Họ thích vẻ đẹp tinh thần nhiều hơn vật chất, thích thấy được cái chiều sâu tâm hồn hơn là dừng lại ở cái bề mặt hình thức. Họ vẫn giết kẻ thù để thờ liền đó, bởi vì họ quan niệm rõ một sự cách biệt giữa cái giá trị thuộc về sự sống với cái giá trị thuộc về sự chết...

Cho nên người VN giết Sầm Nghi Đống rồi để cho lập miếu thờ họ Sầm không phải là trọng vọng tên giặc cướp nước, mà chính là họ hoài niệm một kẻ bản lĩnh bị họ trừ khử vì sự tự vệ chính đáng. Trả lại cho kẻ bị thiệt thòi kia một chút an ủi tinh thần, đó là một thứ lễ nghĩa của một dân tộc có một nền văn minh độc đáo. Với lại sau khi nó chết, nó không còn phá hoại nữa, thì cái giá trị nguyên vẹn của nó về các tài năng dũng lược vẫn còn.

2. Kỷ luật về hôn nhân

Ông Pazzi nhận thấy rằng kể cả các dân tộc văn minh nhất, không có một dân tộc nào có một kỷ luật nghiêm khắc về luân lý hôn nhân như ở VN. Các người bà con gần xa và cả những người đồng tính đều có một sự cấm kỵ phối ngẫu vì người Việt quan niệm những cuộc hôn nhân như vậy là hoàn toàn vô luân và rất đáng kết tội.

Điều đó - theo ông Pazzi - chứng tỏ người Việt có một trực giác khoa học rất cao, sự nghiêm khắc đó chính là phát khởi từ cái ý thức tự vệ tự tồn rất vững mạnh để cho nòi giống khỏi bị những sự kết hợp nguy hại, mà có những miêu duệ tốt, tránh xa được sự tác hại của những ảnh hưởng di truyền đồng tính đồng tật.

3. Lòng hiếu khách của người Việt

Ông Pazzi đã khách quan công nhận:

Họ là dân tộc hiếu khách, càng đi vào nơi hang cùng ngõ hẻm lòng hiếu khách ấy càng được duy trì phát triển. Người VN sẵn sàng dành những tiện nghi cho khách, để món ăn ngon cho khách và coi hành động khách đến thăm nhà mình là một hành động thân ái đáng nên trọng vọng. Điều đó cho ta thấy họ có một quan niệm rất thông minh về mối tương quan đối đãi giữa con người. Do đó những người đàn bà dù có nhan sắc đến đâu, tài giỏi đến đâu cũng bị người Việt coi là xấu nếu làm mất lòng khách đến thăm nhà, tỏ ra kém lịch thiệp, khó tính chẳng hạn đối với bà con bạn hữu.

4. Địa vị phụ nữ trong xã hội Việt Nam

Ở điểm này ông Pazzi cũng đã sáng suốt nhận thấy có sự phân công hợp lý trong gia đình VN giữa người chồng và người vợ. Tuy ông không nhắc đến câu cách ngôn cửa miệng của chúng ta "lệnh ông không bằng cồng bà" nhưng ông công nhận rằng vai trò của người đàn bà Việt sánh ngang loại giám đốc chính trị kiêm cả chuyên viên trong một xưởng lớn. Và nhiều lần ông đã được nghe những người Việt nói với ông là xứ sở này tồn tại, phát triển được, công lớn chính nhờ ở các bà mẹ VN.

5. Tinh thần tập thể của người Việt

Ông Pazzi cho rằng tinh thần tập thể của người Việt phản ánh ngay trong văn phạm, cú pháp Việt. Một tiếng Việt có thể vừa là động từ, có thể là bổ túc từ, có thể là danh từ,....Người ta chỉ có thể hiểu tiếng đó trong cả câu nói.

Tấm lòng hiếu khách, yêu mến bà con họ hàng, há chẳng là sự biểu hiện tinh thần đó sao? Ông Pazzi cho rằng ý thức tập thể đó bắt nguồn ở hai nguyên nhân:

a. Nguyên nhân văn hóa: Tuy người Việt chịu ảnh hưởng nhiều văn hóa Trung Hoa, nhưng căn bản chừng như vẫn là nền văn hóa Indonesian hướng về đời sống hương ẩm cộng đồng hết sức mạnh mẽ.

b. Nguyên nhân lịch sử: Ý thức tập thể ấy còn là dấu hiệu tự vệ của một dân tộc phải đương đầu nhiều với giặc ngoại xâm.

Cũng do ý thức luân lý tập thể đó mà người Việt có được những đức tính ôn hòa đặc biệt. Ôn hòa ở chỗ lịch sử chiến đấu gian lao mà không hề có anh hùng ca, ôn hòa ở chỗ không bao giờ kỳ thị với các dân tộc khác, hãy xem việc người Việt tuy vẫn chống lại người Trung Hoa suốt thời gian Bắc thuộc nhưng vẫn niềm nở đón nhận họ đến buôn bán tại xứ sở mình. Ông Pazzi còn viết thêm:

Không riêng gì trong sự đối đãi với các dân tộc, người Việt có thái độ hòa đồng thật văn minh như vậy, mà đối với mọi tôn giáo, với mọi tín ngường người Việt cũng có sẵn tinh thần ấy...

...Vì thế ngày xưa trong các khoa thi người ta vẫn hỏi nhiều về tôn giáo, và đó là thời tam giáo đồng tôn đáng xem như là một trạng thái đặc biệt của nền văn minh VN. Sau này người Việt còn là kẻ chủ xướng ra đạo Cao Đài, một thứ tôn giáo tổng hợp. Tuy có người chỉ trích sự liên kết quá rộng rãi trong các đối tượng tôn thờ, nhưng phải nhận rằng đó phát sinh từ một quan niệm rất cao và rất quảng đại chỉ có thể tìm thấy trong tâm hồn người Việt mà thôi.

Chúng tôi không thể không ghi thêm ở đây một nhận định vừa ngộ nghĩnh vừa sâu sắc của ông Pazzi về chén nước mắm với tinh thần tập thể của người Việt:

Có lẽ ý thức đồng sinh hoạt ở nơi người Việt đã được thể hiện rõ trong chén nước mắm đặt giữa mâm cơm. Nước mắm là món ăn phổ biến có nhiều sinh tố còn là thức ăn căn bản của mọi gia đình VN. Chén nước mắm không bao giờ thiếu trong các bữa ăn, hay nói cách khác là nó không thể thiếu được. Mọi người ngồi chung mâm cơm đều chấm thức ăn vào chén nước mắm ấy như cùng gặp nhau ở một điểm hòa đồng.

6. Tinh thần bất khuất của người Việt

Chúng ta đã từng nói đến những kẻ thù khá quan trọng không ngừng đe dọa VN. Dân tộc VN chính là dân tộc duy nhất trên địa cầu này đã chiến thắng những kẻ xâm lược có khuôn mặt lớn lao nhất trong lịch sử loài người...

...cái ý chí bất khuất của dân tộc ấy bắt nguồn từ trong lịch sử ngàn xưa, thấm sâu ở trong xương tủy của họ, chan hòa ở trong huyết mạch của họ, bàng bạc trong niềm kiêu hãnh vô biên của một giống nòi không chịu sống trong tủi nhục, luôn luôn có sự gắn bó mãnh liệt vào mảnh đất của quê hương, vào di sản của dân tộc, di sản đau thương mà rất kiêu hùng! Kẻ thù của dân tộc Việt chỉ bắt đầu thấy được sức mạnh ấy khi họ đã thất bại, và thật là quá muộn màng.

Ông Pazzi đã sống ngót 20 năm trên đất nước Việt nên ông đã bắt mạch rất đúng để giải thích rất tận tình một niềm thắc mắc của một số người Việt thử thời:

Có lẽ người VN khi nhìn thấy Kim tự tháp, thấy đền Angkor hay là Vạn Lý Trường Thành bỗng sinh tấm lòng phiền muộn hay mặc cảm tự ty, vì thấy dân tộc mình thiếu những công trình kiến trúc quy mô. Họ quên hẳn rằng dân tộc của họ có thừa nghị lực, thông minh cũng như tài năng tuyệt xảo để làm những công trình ấy, nhưng phải dồn hết tâm lực vào đầu mũi giáo, lưỡi cày trong cuộc chiến đấu tự tồn quá sức gian nan. Dân tộc họ không có những phút rỗi rãi dư thừa, không có tháng năm yên ổn kéo dài trong cảnh thái bình thịnh trị để mà đúc chữ, gò câu, xây đền, tạc tượng. Đó là một dân tộc chỉ biết có đi chứ không có đứng hay ngồi, một dân tộc chỉ quen làm lụng chứ không hề thích nghỉ ngơi, một dân tộc chiến đấu để mà xây dựng mãi mãi, không ngừng.

Ông Pazzi nhấn mạnh ở điểm văn minh VN súc tích và sâu thăm thẳm, nên đi vào bất cứ hang cùng ngõ hẻm nào, tới chốn đèo heo hút gió nào cũng đều gặp thấy những người VN chịu đựng mà kiêu hãnh, nhỏ bé mà vinh quang. Ông kể:

Một người VN hết sức đáng yêu bảo với tôi rằng:"Ở trên đất nước chúng tôi, nơi nào cũng có anh hùng. Hãy đi vào các xóm làng, hỏi các nấm mồ và các bờ cây gốc đá, quý ngài sẽ nghe kể lể biết bao nhiêu chuyện phi thường về giống nòi Việt."

Có một điểm đặc biệt cần ghi nhớ thêm ở đây là suốt tập khảo luận nói về dân tộc VN, ông Pazzi luôn luôn bằng cách này hay cách khác lưu ý chúng ta là ông nói đến những người Việt thuần túy mà theo ông càng xa chốn thành thị càng dễ gặp:

Nền luân lý ấy thấm sâu đặc biệt trong đời sống quần chúng và người ngoại quốc có thể kinh ngạc khi càng vào sâu các miền thôn quê lạc loài, núi rừng hẻo lánh thì vẫn gặp được những người Việt hiền hòa, đức độ hiển nhiên, và hình như càng xa thị thành bao nhiêu thì cái tinh thần đạo đức của người Việt lại càng rõ rệt...

Như thế chính bởi người Việt ở chốn phố phường bị sự xâm nhập cưỡng ép của văn minh nước ngoài, và nhiều nền văn minh này kéo đến đất nước VN không phải với thiện tâm thiện ý cùng nhau trao đổi xây dựng, hoặc với ý định dung hòa thân ái.

Với một cái nhìn trầm tĩnh ông Pazzi đã biết nhận định rằng nền văn minh VN không có mặt nổi mà có mặt chìm, không có số lượng mà có phẩm chất, đó là một loại văn minh không hoàn toàn giống với bất cứ nền văn minh nào đã có thời sôi nổi trên mặt địa cầu.

Có lẽ vì trầm tĩnh nhìn vào chiều sâu tâm hồn người Việt như vậy, nên khi nói đến những người trí thức ông thường có thái độ nghi ngờ vì biết phần nhiều ở họ khi hấp thụ học thuật Tây phương thì "hương đồng phấn nội" của quê hương cũng bay đi ít nhiều mất rồi. Chẳng thế mà phê bình về thái độ ông Nguyễn Văn Vĩnh với nụ cười Việt, ông Pazzi đã viết (mặc dù ông thừa hiểu ông NVV là một học giả có uy tín):

...và phải nhận rằng một số trí thức VN tuy có bằng cấp, có kiến thức rộng nhưng lại không có căn bản dân tộc bao nhiêu...

Và chúng ta nên nghiền ngẫm kỹ lời nhận xét này của ông về giới trí thức VN:

Bởi thế chưa một dân tộc nào mà người trí thức lại nói pha trộn nhiều tiếng ngoại ngữ như vậy, thích xài đồ ngoại hóa như vậy. Nhưng may mắn thay, nếu lớp bọt bèo ở trên có những thành phần không bám được rễ xuống dưới đáy sâu, thì chính đông đảo quần chúng của họ lại tỏ ra quý dân tộc của mình một cách rõ rệt.

Giới trí thức VN hẳn còn nhớ nhà "đại trí thức" nọ gọi là trạng Mẹo...tuyên bố tại Pháp đại ý: vì tiếng Việt quá nghèo nàn nên những ai muốn diễn đạt cho đủ ý bắt buộc phải dùng ngoại ngữ.

Tôi thành thực nghĩ các vị đó dùng tiếng Pháp thành thạo như tiếng mẹ đẻ là một điểm không những khiến người Pháp phải phục mà người Việt chúng ta cũng lấy làm kiêu hãnh, nhưng chỉ xin những người đó đừng vong bản, đừng quên rằng sở dĩ mình có được trí thông minh như vậy cũng là do dòng máu mình đã được hưởng cái khôn ngoan, cái thông minh tích lũy của cả dân tộc.

Trở lại với bóng dáng trí thức trong thiên khảo luận của ông Pazzi, khi ông ca ngợi tinh thần sống tập thể của người dân Việt ở lối chơi góp họ (hụi) hay góp tiền thăm viếng nhau trong những trường hợp hiếu hỉ, ông có ghi thêm:

Lối đóng góp này vẫn bị một số trí thức VN công kích nhưng chừng như sự công kích không đi sát với sinh hoạt căn bản của người dân nghèo VN bao giờ cũng đòi hỏi một sự giúp đỡ hỗ tương, và bao giờ cũng có cái ý hướng chia xẻ cùng nhau những nỗi vui buồn, điều mà tinh thần cá nhân chủ nghĩa Tây phương không làm thế nào có được.

Khi ông Pazzi ca ngợi tinh thần tập thể của người Việt thể hiện ở chén nước mắm đặt giữa mâm để chấm chung, ông cũng lại một lần nữa nhắc đến thái độ của giới trí thức vong bản:

Những người trí thức tân học VN có thể cho rằng lối ăn như vậy không hợp vệ sinh, và họ vẫn có lý lẽ để mà chỉ trích, nhưng khi nói thế cơ hồ họ đã quên mất cái phần tinh thần sâu sa duyên khởi ở trong sự việc.

Nói tóm lại hễ khi nào nhắc tới giới trí thức tân học VN ông Pazzi lại bằng một giọng ôn tồn nhũn nhặn nhưng ân cần nhắc họ hãy luôn luôn thận trọng nhớ thả rễ xuống cho bám lấy đáy sâu của tiềm thức dân tộc kẻo vong bản. Ông có một thái độ vô cùng bén nhạy và tinh tế - bén nhạy và tinh tế như hoa hổ ngươi - để ngưi thấy mùi vong bản ở những con người hãnh tiến vì có điều kiện thâu nhận hoặc ít hoặc nhiều văn hóa Tây phương mà ta gọi là trí thức đó...Ngẫm cho kỹ họ cũng có lý phần nào ở thái độ dè bỉu khinh khi chương trình Việt khi nhìn vào hiện tình giáo dục nước nhà. Nếu chúng ta đã tạm thực hiện được những nhiệm vụ khẩn cấp đề cập ở phần ba (vài ý kiến xây dựng quốc học) có lẽ chúng ta dễ ăn nói hơn để đưa những tâm hồn vong bản đó trở về với hơi ấm của lòng mẹ...

...Người bình dân VN ngút ngàn bên dưới, họ phức tạp mà đơn sơ, họ thực tế kính trọng những người kiến thức rồi họ lại vượt thực tế đó trong thái độ sống ung dung hiền hòa. Những người dân kỳ diệu đó trên mảnh đất kỳ diệu này, họ có bao giờ đòi chia sẻ cái gì với những kiến thức trên đâu. Bởi trong khi họ nhẫn nại cần cù đem mồ hôi, đem máu ra làm đủ bổn phận người dân, họ vẫn luôn luôn điều hòa nhịp đi hải hà của cuộc sống với cái mênh mông tuyệt vời của thiên nhiên, những thứ mà cho đi không bao giờ hết, lấy đi không bao giờ tận.


Ông Pazzi đã suy tư khi ông kết luận thiên khảo luận của ông bằng những trang thống thiết như sau:

Một điều đáng tiếc là những anh hùng lịch sử Việt rải rác khắp nơi thôn xóm, núi rừng, vẫn chưa được đề cập đến đầy đủ trong sách vở, chưa được phát hiện đúng mức trong văn học. Những chế độ áp bức lệ thuộc ngoại bang đều muốn che dấu, phủ nhận các vị anh hùng dân tộc và chỉ cho học ở nhà trường hết sức sơ lược về một số người lớn lao không thể che dấu nổi. Công cuộc tìm kiếm anh hùng, giới thiệu anh hùng dân tộc, để mà phát hiện và phát triển thêm những anh hùng ấy còn là công tác dành sẵn cho người trí thức VN. Những phần đông trí thức không chịu quan tâm, vì không tha thiết. Điều đó, như trên đã nói, bắt nguồn từ sự kiện trí thức bị sự giáo dục đầu độc của các chế độ ngoại lai hay là lệ thuộc ngoại bang, nên bị vong bản, không còn thấy gì đáng kể về giống nòi mình, trừ cái tên gọi do cha mẹ đặt cho mà họ vẫn muốn kèm thêm một tên gọi nữa bằng tiếng nước ngoài. Bởi vậy số trí thức vong bản ấy họ không nhìn thấy những hy sinh vô tận của người nông dân VN, và điều kinh ngạc hơn hết, quái đản hơn hết, là họ không thuộc lịch sử về giống nòi mình. Nói về xứ sở của họ, họ sẵn có những thành kiến nguy hại, thiên về chỉ trích, để chứng tỏ họ biết nhiều về các nước ngoài, hoặc đã được các nước ngoài giáo dục, dù nước ngoài ấy là kẻ muốn làm ô nhục giống nòi của họ, muốn đem lại sự diệt vong cho dân tộc họ. Bởi vậy họ thường khen ngợi các "cường quốc văn minh" một cách không hề ngượng nghịu mà quên hẳn rằng chính dân tộc họ đã không lóa mắt trước các văn minh hình thức, chính dân tộc họ đã có một niềm tự tin sâu xa, đã ý thức được cái giá trị độc lập của mình nên mới tồn tại cho đến ngày nay. Cho nên thật là chán nản khi nghe một số trí thức VN nói về xứ sở của họ - xứ sở đau thương mà rất anh hùng - và cũng bi thảm hết sức khi nghe số trí thức ấy nói về nước ngoài mà họ hướng vọng một cách mù quáng.

Thậm chí nhiều người VN viết sách sử ký, địa lý VN mà vẫn chép lại y nguyên luận điệu của bọn thực dân, đế quốc đã viết sách về xứ sở VN, quên rằng bọn này nhìn nước VN với con mắt của dân khai thác thuộc địa nghĩa là không lý không tình gì hết. Thành thử họ nói về VN như nói về một miền xa xôi ở tận châu Phi, châu Úc đâu có tấm lòng gắn bó thiết tha, đâu nghe được dòng máu chảy trên sông, đâu thấy được mảnh xương phơi trên núi, đâu biết được giọt mồ hôi tưới trên luống cày của bao nhiêu đời cay đắng gây dựng và của bao nhiêu thế hệ oanh liệt bảo tồn. Bởi vậy những người trí thức VN chưa hiểu sâu xa về đất nước mình, cần phải tỏ ra khiêm tốn nhiều hơn, sớm gột rửa những thái độ vong ân bội nghĩa đối với giống nòi cần cù hy sinh của họ, để mà dọn lấy con đường học hỏi sâu xa hơn về dân tộc mình. Có thế họ mới khỏi thành những cái đòn kê tủi hổ cho các chế độ lệ thuộc ngoại bang, và mới thoát khỏi số kiếp là những công cụ phá hoại giống nòi. Có thế họ mới khỏi thành những vật lệ thuộc, mất hết cá tính và từ điểm ấy họ sẽ mất dần cả dân tộc tính, để rồi mất luôn cả nhân tính. Và chỉ có được như thế họ mới mong tìm thấy lẽ phải, chọn lấy con đường sống lâu dài, vinh quang.(Trích "Người Việt đáng yêu" của ông Doãn Quốc Sĩ)

Tóm lại điều mà ngày nay mọi người VN ý thức về mình là phải nhìn thấy rõ là dân tộc họ đang còn nghèo khổ, bệnh hoạn, thiếu thốn mọi bề. Họ đã hiểu rằng tất cả khuyết điểm, cũng như tai nạn, là do sự vơ vét bóc lột của những chế độ phong kiến, thực dân đã phóng những nanh vuốt bén nhọn xâu xé thịt da của dân tộc họ, hút cạn bao nhiêu tinh tủy của họ. Bây giờ họ vẫn còn đang hứng chịu những kết quả bi thảm do các chế độ tàn bạo gây nên, và trong vô số kết quả tai hại còn có một mối lo âu trầm trọng, đó là hiện tượng một lớp trí thức vong bản.

Có lẽ chúng ta sẽ công bình hơn khi nói rằng trí thức VN còn có nhiều người thông minh đến lỗi lạc tuyệt vời, và có nhiều người sống rất đam mê lý tưởng, không ngừng hy sinh cho sự tồn tại, vươn cao của dân tộc họ. Chúng ta dù ở quốc gia nào khác, cũng xin nghiêng mình trước họ, vì họ là niềm kiêu hãnh của một giống nòi.

Ngày nay, công cuộc xây dựng đất nước VN đòi hỏi chống lại tất cả mọi hiện tượng suy đồi, thoái hóa, cũng như mọi thứ bất công. Tất cả những hình thái làm cho sa ngã con người, lung lạc con người, cũng như tất cả biểu hiện vọng ngoại sai lầm đều làm thương tổn nặng nề đến sự sinh tồn dân tộc. Đồng thời tất cả giá trị cao quý, lớn lao vốn sẵn dồi dào trong dân tộc họ, phải được khai triển ở phần ý thức cũng như tiềm thức, ở mặt vật chất cũng như tinh thần. Và sự khai triển khá quan trọng ấy phải được khởi đầu từ mỗi cá nhân, vì cái vốn ấy cá nhân đã được thụ hưởng dồi dào ở nơi dân tộc, cần phải đóng góp lại cho dân tộc dồi dào hơn nữa, với nhiều nhiệt tình kiêu hãnh và một tấm lòng hết sức thiết tha.

Ông Pazzi, người bạn ngoại quốc chí tình của dân tộc VN đã kết luận bằng những trang nhận xét và suy nghĩ như vậy thiên khảo luận của ông. Hãy để hoàn toàn lời nói khách quan sau cùng đó vang lên, rồi trong yên lặng chúng ta tự suy nghĩ, tự kiểm soát, tự định thái độ.


(Trích "Người Việt đáng yêu" của ông Doãn Quốc Sĩ)