"Chiếc Bảo Ấn cuối cùng của hoàng đế VN" - Bút khảo của
Lê Văn Lân


Nghệ Thuật 73, 4/00
Nguyễn Văn Quảng Ngãi


Sơ lược về tác giả và tác phẩm:

Bác Sĩ Lê Văn Lân sinh năm Tân Mùi (1931), tốt nghiệp Đại Học Y Khoa Sài Gòn năm 1960. Từ 1960 đến 1975: Bác Sĩ Quân Y Từ 1975 đến 1979: Tù cải tạo . Hiện định cư tại New Jersey, đang chuẩn bị về hưu trí tại Austin, Texas. Chuyên biên khảo về đất lề thói quê Việt Nam. Đã viết nhiều bài về món ăn, vị thuốc của quê hương, phong thủy, bùa chú... đăng trên nhiều báo Việt ngữ khắp nơi . Đã được mời thuyết trình về văn hóa cổ truyền dân tộc ở Hoa Kỳ, Gia Nã Đại và Pháp. Đã xuất bản: Bút Khảo Về Ăn, Bút Khảo Về Xuân. Sẽ xuất bản Bút Khảo Về Hàn Mặc Tử : Bệnh Và Thơ, Bút Khảo Về Bùa Chú Và Ấn Quyết, Bút Khảo Về Họ Tên Người Việt Nam ...

Nhỏ nhắn, xinh xắn, Chiếc Bảo Ấn Cuối Cùng Của Hoàng Đế Việt Nam đã được Làng Magazine xuất bản năm 1998.
Sách gồm:

- Thay lời mở: Nhặt lá vàng xưa.

- Mười chương.

- Vài suy tưởng thay lời kết.

- Đặc khảo phụ lục (A-B-CĐD).

- Bạt của Phạm Tăng: Mấy lời mong ước.

- Phần phụ bản với hình ảnh riêng của Cựu Hòang Bảo Đại.

Điều nhận xét đầu tiên là tuy chỉ có gần 300 trang nhưng tác phẩm đã gói ghém rất đầy đủ nhiều chi tiết, tài liệu, giai thoại và hình ảnh liên quan đến toàn bộ những ấn triện của nhà Nguyễn cùng vai trò của vài chiếc ấn quan trọng tiêu biểu đánh dấu những biến cố lịch sử của nước ta trong thời cận kim.
- Phần đặc khảo phụ lục, tác giả đã giới thiệu về kỹ thuật, nghệ thuật, thú chơi ấn triện cũng như giai thoại dã sữ về ấn triện và bàn về cái đẹp của chữ Nho như một tiếng thở dài ngậm ngùi cho nền cổ học Đông Phương đã bị rơi vào sự quên lãng tàn nhẫn của thời gian hay như một đốm lửa nhỏ làm ấm lòng những tâm hồn hoài cổ.

Trong bài Thay Lời Mở dưới tiêu đề Nhặt Lá Vàng Xưa, tác giả đã tâm sự: Ngoái nhìn về quá khứ thường mang tiếng là hoài cổ, là nuối tiếc dĩ vãng... nhưng ai dám nói cái nhìn này là vô bổ, nhất là nhìn với chủ đích Ôn Cũ Biết Mới Người ta vẫn nghiệm rằng lịch sử nhân loại thường chỉ là những vở tuồng cũ soạn lại với những bài bản và nhân vật mới...

Ai ơi! trở lại mùa thu cũ
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng

Viết tập bút khảo này tôi chỉ xin đóng vai trò của một kẻ góp nhặt những chiếc lá vàng dĩ vãng rồi trân trọng ép chúng trên những trang ký ức cuộc đời.

Một nhận xét nữa là những trang sách biên khảo của tác phẩm này không khô khan, cứng ngắc, nhạt nhẽo (như quan niệm bình thường dành cho loại nghiên cứu này) nhưng lại phong phú, sống động đầy hương vị của một thời quá vãng thân yêu.

Sự khiêm tốn cũng là một nét đặc biệt cần phải ghi nhận ở Bác Sĩ Lê Văn Lân. Trong Lời Cảm Tạ, tác giả đã viết: ... Không thầy đố mày làm nên. Ông bà Việt Nam mình quen gọi như thế! Rốt cuộc, tập bút khảo nầy đã thành hình, dù người viết đã cố gắng chăm chút sửa chữa nhưng vẫn còn luộm thuộm với nhiều lỗi lầm và nhiều điều sai tráị Sự thành công này tôi phải thành thật nói là nhờ công ơn của nhiều vị thầy bằng hữu...

Trong bài Thay Lời Mở, tác giả viết thêm: ...Thành khẩn xin quý bạn hãy đốt dùm tôi một cây nến để đọc và để chỉ giáo hay bổ khuyết cho những sơ sót, sai lầm cuả tôi . Thật là muôn vàn cảm ta....

Khiêm tốn đến như vậy là cùng! Họa sĩ Phạm Tăng - vừa là văn sĩ, là nhà sưu tầm tiền cổ Việt Nam, là cây bút biên khảo phong phú về văn hóa Việt Nam - đã mát lòng, hả da.... đọc ngấu nghiến, đọc tới, đọc lui không biết
chán những trang sách hữu ích và quý giá biết bao của tập bút khảo nàỵ

Tôi vốn không có sự hiểu biết và lòng đam mê của người sưu tập đồ cổ nhưng lòng luôn luôn thương yêu dĩ vãng nên đã say mê thích thú đọc tác phẩm nhiều lần với những ghi chú để so sánh từng chi tiết, từng sử kiện và thấy được sự gói ghém của tác giả thật đầy đủ một cách tài tình. Chân thành cám ơn tác giả đã tặng cho một món quà tinh thần quý giá và xin nhận tất cả lòng quý mến của Lê quân chứ tự xét mình không đủ khả năng để có lời chỉ giáo, phê bình như Lê quân đã ân cần nhắn nhủ. Xin ghi lại đây những cảm nghĩ bên lề khi đọc xong tập bút khảo như là một đáp tình trân quý cùng Lê quân.

Thân phận nhược tiểu:

Nhiều đoạn trong tác phẩm - nhất là các chương Bài học làm chư hầu, Nỗi lòng của vị Hoàng đế sau cùng, Vài tưởng thay lời kết - đã vang vọng trong lòng người đọc một nỗi buồn nhẹ nhàng nhưng thâm trầm ray rứt về thân
phận nhược tiểu của nước ta dưới triều Nguyễn.
Trước khi đi vào chi tiết, tôi muốn chép lại đây một đoạn thư của Trịnh Tử Gia viết cho Triệu Tuyên Tử trong Tả Truyện 600 năm trước Tây Lịch để chúng ta cùng thấm thía với tâm sự của người xưa chan hòa với niềm đau của hậu thế:

Nay đại quốc phán bảo: Các người đã không xứng ý ta. Nhưng tiểu quốc đã dâng hiến mọi sự cho đại quốc! Chẳng còn gì hơn mà tiểu quốc có thể làm.

Người xưa có nói, khi phục vụ một đại quốc, tiểu quốc được xem như một con người hoặc như một con nai. Nếu đại quốc lấy nhân đức đối xử thì tiểu quốc được nhờ. Mà trái lại, thì tiểu quốc đành phải chấp nhận số phận của con nai kia bị săn đuổi . Còn sự nguy hiểm nào mà tiểu quốc chưa chấp nhận? Và số phận chờ đợi, nào đâu có do tiểu quốc lưạ chọn?

Xin lược trích sau đây nhiều đoạn trong tác phẩm: Triều Nguyễn bắt đầu bằng vua Gia Long tiếp tục con đường bang giao lệ thuộc Trung Hoa cả ngàn năm:

Theo Trần Trọng Kim (Việt Nam Sử Lược), vua Gia Long sau khi thống nhất giang sơn Việt Nam, lên ngôi vua (năm Nhâm Tuất - 1802), liền gởi sứ bộ qua Bắc Kinh để xin sắc phong và tiến cống. Chánh sứ Việt Nam là Lê Quang Định, Thượng Thư Binh Bộ, theo lệnh vua xin đổi quốc hiệu là
Nam Việt, dựa theo lẽ là nước Việt ở phía Nam. Nhưng vua nhà Thanh sợ rằng tên Việt Nam gây hiểu lầm là đất Nam Việt của Triệu Đà ngày trước gồm đất Lưỡng Quảng, nên đổi là Việt Nam. Mãi đến 2 năm sau là 1804 (Giáp Tý) - tức Gia Long thứ ba - vua Tàu mới sai Tề Bố Sâm sang phong vương và ban ấn cho vua Việt Nam. Đến hai năm sau đó (Bính Dần - 1806), vua Gia Long mới tổ chức lễ xưng đế.

Chiếc ấn nhà Thanh này bằng bạc, mạ vàng, trên có hình lạc đà. Ấn này hình vuông, mỗi bề 11 phân tây, nặng 5 kg 900, trên mặt ấn chia làm hai, bên phải khắc hình hai cột chữ Hán Việt Nam quốc vương chi ấn, còn bên trái thì khắc dòng chữ triện Mãn Thanh.

Hậu sinh chúng ta nên nhớ là, trong suốt cả ngàn năm lịch sử, vấn đề bang giao của nước Việt Nam nhỏ bé đối với nước Trung Hoa khổng lồ ở phương Bắc, tổ tiên chúng ta luôn luôn giữ chủ trương mềm dẽo mà thông hiếu đối với ho.. Chúng ta vẫn nuôi dân dựng nước với qui mô riêng biệt, nhưng bên trong thì xưng đế, mà đối với họ thì xưng vương, vẫn chịu sự phong quốc hiệu và nhận ấn phiên thuộc ho.. Tuy nhiên Việt Nam vẫn giữ nền độc lập của mình trong quyền nội tri.. Nhiều lần nước Tàu đem quân sang xâm lược ta đều bị đánh đuổi, chém tướng, giết quân sĩ... nhưng sau đó ta lại phải mềm dẽo dâng biểu xin chịu phong vương, cấp ấn của ho....

Xét lý thực tế thì phải như vậy!

Nhưng rồi dòng sông lịch sử gặp khúc quanh chuyễn hướng: Trục Việt - Hoa bị chặt đứt thay thế vào là trục Việt - Pháp.

Cuộc đổi thay lịch sử nào lại chẳng mang đến máu đổ, xương tan hoặc bàng hoàng, chua xót?

Năm 1884, trước khi ký hòa ước Giáp Thân theo đó Việt Nam nhận sự bảo hộ của Pháp, Patenotre bắt ta phải giao cho Pháp chiếc ấn nhà Thanh sắc phong cho Vua ta để chấm dứt hoàn toàn sự lệ thuộc vào Trung Hoa . Đại diện cho Pháp có Patenôtre và Rheinard. Đại diện Việt Nam có các ông Nguyễn Văn Tường (Phụ chánh đại thần), Phạm Thận Duật (Toàn quyền đại thần), Tôn Thất Phan (Phó Toàn quyền). Sau 13 ngày bàn cãi, thương thảo gay go, hai bên đồng ý đem nung chảy chiếc ấn này vào ngày 6 -6- 1884 tại toà tổng trú sứ gọi là Toà Khâm (Cái khó xử của phía đại diện
Việt Nam là nếu để Pháp lấy ấn mang về Pháp thì làm Trung Hoa bỉ mặt, còn nếu ta giữ ấn và phải đem trả lại cho Trung Hoa thì lại càng chứng tỏ Việt Nam không còn công nhận vai trò đàn anh của họ nữa . Do đó nung chảy chiếc ấn là cách tốt nhất).

Quang cảnh buổi nung chảy lịch sử này được mô tả như sau: Người ta ngồi quanh cái bàn trong đại sảnh của tòa Trú sứ. Đông quan khách tham dư.. Đô đốc Courbet đã phái một số sĩ quan thuộc cấp của ông phối hợp với các sĩ quan quân trấn. Trên bàn, chiếc ấn nhà vua đã được bày ra với cái hộp vải tẩm son. Đây là một tấm bằng bạc mạ vàng, cạnh đo 10x12 cm, nặng độ 5 kg 900, nuốm là hình con lạc đà nằm. Lạc đà là con vật tượng trưng cho sự qui phục trong những hình biểu trưng của Tàu, điều này ai cũng rõ. Người ta bèn dùng ấn in ra nhiều mẫu khuôn dấu . Vị Thượng Thư đọc tờ mô tả về chiếc ấn mà chính ông đã kiểm điểm là đúng. Trong lúc đó, những người tùy tùng đặt chính giữa đại sảnh một ống bể và một bếp lò, ống bể này gồm hai ống viên trụ cao 1 m50 bằng tre, hai nùi giẻ gắn trên một cái cán, đậy vừa khít khao lòng hai ống kia, được nốt tiếp với bếp lò
bằng hai ống trẹ Người ta đốt lò. Quang cảnh trông rất thú vi.. Tiếng của hai nùi giẻ tuần tự kéo lên, thụt xuống trong lò do hai người Việt Nam cố sức làm có lúc át hẳn tiếng nói của những người thương thảo.Thoáng một chốc thì cái nồi nấu đỏ rực trên than hồng, với nhừng lưỡi lửa bốc lên xanh lè. Thời điểm nấu chảy ấn đã đến. Một người cầm lấy chiếc ấn trong tư thế quăng nó vào lửa . Ông Patenôtre bèn ngăn lại và ngoảnh nhìn về phía quan phụ chánh đại thần đang giữ nét mặt bất động mà hỏi: - Vẫn còn kịp thì giờ, chúng tôi sẽ giữ ấn nhưng sẽ đưa nó về Paris.

Vị kia không đáp ngay, ông cúi ghé vào tai vị phụ tá, rồi ông lắc đầu từ chối.

Vài phút sau, dấu tích cuối cùng cụ thể về uy quyền thượng đẳng mà nước Trung Hoa đòi hỏi đối với nước Việt Nam đã tan mất, còn lại chăng là một khối bạc vô định hình.

Thân phận của nước nhược tiểu tội nghiệp đến như vậy là cùng! Nhưng lòng tham và sự ngang tàn của cường quốc thắng trận đâu có phải chừng ấỵ Khi kinh đô Huế bị thất thủ, De Coursey - người cầm quân đánh chiếm - sau đêm biến cố, đã điện về Paris: ... Hoàng cung đã được giữ nguyên vẹn nhờ tinh thần kỷ luật của Tiểu đoàn 3 khinh binh chiếm đóng và bảo toàn. Tại đây có nhiều của cải: 5 triệu thoi bạc, nhưng con số này sẽ lớn hơn bội phần nếu tôi tìm thấy trong đó có nhiều thoi vàng ...

Sau đó, đầu năm 1886, người Pháp quyết định về kho tàng như sau:
- Phân nửa được phục hoàn cho vua Đồng Khánh.
- Phân nửa còn lại được chia một phần cho ngân khố Pháp (Bộ Tài chánh) để nung chảy đúc tiền Pháp, phần kia dành cho nền bảo hộ (Bộ Ngoại Giao).

Tháng 7, 1886, kho tàng trên được chuyển từ Sài Gòn đến cảng Marseille rồi lên Paris. Sao đó được phân tích và xếp loại: 94 loại được giữ nguyên, tất cả những thứ còn lại bị Bộ Tài chánh nung chảy để đúc tiền.

Rõ ràng là hành động tham tàn trắng trợn của kẻ cướp nước!

Những chiếc ấn, huy chương, thoi vàng, nén bạc đó đâu phải là những khối kim khí vô tri tầm thường mà là những cổ vật vô giá mang ý nghĩa tượng trưng cho tư tưởng, danh dự, lễ nghi, đức tin... của từng thời đại theo dòng lịch sử dân tộc. Và đó là tài sản chung của Việt Nam muôn thuở!

Ta bỗng nhớ đến những giọt nước mắt của cụ Vương Hồng Sển thư sinh tiền khi được tin những món nữ trang của bà Từ Dũ bị quân gian đào mã lấy trộm và sau đó được chính quyền Cộng sản thu lại gần đủ nhưng lại ngu dốt đem hóa nghiệm (tức nung chảy) để lấy vàng sung vào công quỹ.

Sự hống hách của Pháp càng ngày càng trắng trợn. Hãy đọc một đoạn trong Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim: ...Viên Khâm sứ Rheinard trước đã tư giấy sang cho triều đình Huế rằng: Nam triều muốn lập ai làm vua thì phải xin phép nước Pháp mới được. Nhưng Tường và Thuyết cứ tự tiện lập vua không cho viên Khâm sứ biết. Y bèn viết thư ra Hà Nội . Thống tướng Millot bèn sai tham mưu là Đại tá Guerrier đem 600 quân và một đội pháo binh vào Huế bắt triều đình phải xin phép lập ông Ưng Lịch lên làm vua . Tường và Thuyết làm tờ xin phép bằng chữ Nôm gởi sang bên Khâm sứ. Viên Khâm sứ không nghe, bắt phải làm bằng chữ Nho . Đến ngà 27 tháng 6, Đại tá và viên Khâm sứ đi cửa chính vào điện làm lễ phong vương cho vua Hàm Nghi . Xong rồi quân Pháp lại trở ra Hà Nội...

Đọc tâm sự người xưa, gẫm những sử kiện vừa được lược kể mới thấy xót xa thấm thía đến vô cùng cho thân phận nhược tiểu!

Một đám rước sắc năm 1972:

Dưới chính thể quân chủ tuyệt đối, uy quyền của nhà Vua là tối thươ.ng. Vua là con Trời thay Trời trị dân. Bảo ấn của nhà Vua đóng trên các chiếu chỉ có uy lực như chính nhà Vua ngự trị một cách vô hình trên đó. Khắp làng quê Việt Nam nơi nào cũng có miếu, đình, chùa nhưng không phải nơi nào cũng có Sắc phong. Vị Thần ở đình làng nếu được tâu xin và nếu triều đình xét có công với dân làng hoặc chứng minh được linh hiển giúp dân thì mới có Sắc của Vua phong cho. Khi làng xã được Sắc Vua phong thì phải lập hương án để đón tiếp: Để Sắc phong trong một cái hộp sơn son thiếp vàng đặc trên một cái kiệu long đình có lọng che mà rước đi với cờ quạt và nhạc bát âm gọi là Đám Rước Sắc.

Trên đây là tóm lược về Sắc Phong của Vua và cách Rước Sắc ở làng xã thời xưa trích ra từ tác phẩm. Quý vị cao niên hoặc đã từng chứng kiến hoặc đã đọc sách nên biết rõ những điều đó.

Mặc dầu sau năm 1954 miền Nam Việt nam đã thiết lập chế độ Cộng Hòa, mặc dầu những năm về sau chiến tranh mỗi ngày một tàn khốc đã làm phá sản một số giá trị tinh thần, nhưng khắp nơi - nhất là ở các làng quê - quan niệm dân chi phụ mẫu vẫn còn được tôn trọng và các văn thư có đóng dấu cùng chữ ký của Tổng Thống tuy không được cái uy lực tuyệt đối như chiếu chỉ của Vua ngày trước nhưng vẫn còn rất nhiều giá tri..

Nhân đây tôi muốn kể lại một Đám Rước Sắc rất đặc biệt tại quận Trà Bồng tỉnh Quảng Ngãi vào năm 1972 mà tôi có dịp tham dư.. Biết đâu đó chẳng phải là đám rước cuối cùng tại Việt Nam?

Trà Bồng là một quận miền Thượng của tỉnh Quảng Ngãi: Phía Đông giáp quận Bình Sơn, phía Tây là dãy Trường Sơn, phía Nam giáp quận Sơn Hà, phía Bắc giáp liền với quận Hậu Đức, tỉnh Quảng Nam. Lâm sản đặc biệt của
Trà Bồng là quế và người Thượng ở vùng này thuộc sắc tộc Kor . Tại xã Trà Khương vùng quận lỵ có một cái miếu rất linh thiêng gọi là miếu Trường Bà (còn gọi là Đền thờ Trường Bà, Chùa Bà, Điện Trường Bà...) thờ Thiên Y Na Ngọc Nữ. Có rất nhiều giai thoại, huyền thoại được dân trong vùng truyền lại về sự linh thiêng, ứng điềm, báo mộng cứu giúp dân làng tránh được các tai ương, họa biến của Thiên Y Na Ngọc Nữ nên các vua triều Nguyễn đã ban sắc phong là Ngọc Nữ Nương Nương...

Năm 1972, Hội đồng xã Trà Khương cùng các thân hào nhân sĩ làm kiến nghị nhờ quận cũng như tỉnh gởi lên Tổng Thống thỉnh cầu tái ban Sắc phong cho Ngọc Nữ Nương Nương. Sau nhiều tháng tra lục, tìm hiểu, xem xét, Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn Hóa Mai Thọ Truyền đã thuận trình và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã ký Sắc phong. Sắc phong này được in trên một loại giấy láng đặc biệt, khổ khá lớn, cuộn tròn bỏ vào một cái ống rất trang tro.ng.

Vào ngày lễ rước Sắc, máy bay trực thăng chở Sắc phong và phái đoàn chính quyền Trung ương cũng như Tỉnh cùng đại diện báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình từ thị xã Quảng Ngãi lên Trà Bồng. Khi máy bay trực thăng đậu xuống phi trường thì tất cả mọi người trong phái đoàn đếu ngạc nhiên đến sửng sốt trước cảnh nghiêm trang uy nghi vô cùng đang chờ đón tại đâỵ Thiếu tá Quận trưởng Trà Bồng cùng một số bô lão râu dài bạc phơ khăn đóng, áo dài đứng sau chiếc kiệu có cờ lọng và bên cạnh là hương án. Thiếu tá Quận trưởng cùng hai bô lão đến chỗ trực thăng đậu trịnh trọng mang sắc phong đặt vào một cái hòm gỗ trên hương án rồi một bô lão khác lạy 5 lạy trước khi đem hòm gỗ đặt vào kiệu để rước đi . Chiếu hoa trải suốt dọc đường gần 2 cây số từ phi trường đến điện Trường Bà để kiệu và quan khách bước đị Dân làng trẻ, già, trai, gái quần áo chỉnh tề đứng đón chật cả hai bên đường. Chốc chốc lại có một hương án và khi kiệu đi qua là một bô lão lạy 5 lạỵ Lễ đặc Sắc phong lên bàn thờ chính của miếu thật vô cùng trang nghiêm theo nghi thức cổ truyền. Đặc biệt nhất là nghi lễ của đồng bào Thượng và vũ điệu của các cháu người Thượng đã làm cho buổi lễ uy nghiêm hơn khiến hàng trăm người hiện diện cung kính đứng nghiêm như tượng đá tưởng như thần linh đang hiện diện quanh mình. Có dự đám rước Sắc và buổi lễ tại đây mới thấy được hết lòng tin tưởng tuyệt đối của dân làng vào vào sự hiển linh của vị thánh Nương Nương Thần Nữ như thế nào . Đó là thời điểm 1972. Từ đó chúng ta có thể tưởng tượng ra những đám rước Sắc dưới thời phong kiến trịnh trọng, sùng kính, uy nghiêm tuyệt đối đến độ nàọ Còn nhớ cưụ Trung Tướng TVĐ (lúc đó là Dân Biểu đơn vị Quảng Ngãi) đã nói nhỏ với tôi:

- Hồi xưa khi làm Tư lệnh Vùng I, tôi đã viếng miếu này và đã nghe kể một ít giai thoại về sự linh thiêng của vị thánh nhưng đâu có biết là dân chúng tin tưởng và sùng kính đến như vậy!

(Rất tiếc là đã 28 năm trôi qua và trí nhớ thời tao loạn đã mai một khá nhiều nên tôi không còn nhớ được nội dung của Sắc phong cũng như đầy đủ chi tiết của đám rước và buổi lễ). Ghi Chú: Theo lệ thì người sống lạy 2 lạy, lạy bàn thờ Ông Bà thì 4 lạy, còn 5 lạy là dành cho vua.

Hoàng Đế sau cùng của Việt Nam:

Bảo Đại, vị Hoàng đế sau cùng của Việt Nam, úy là Vĩnh Thụy, đã qua đời tại Pháp năm 1997. Những năm tháng đáng ghi nhớ về vua Bảo Đại như sau:

- Sinh năm 1913 (Quý Sửu).

- Lên ngôi năm 1926 (Ất Sửu).

- Qua đời năm 1997 (Đinh Sửu).

Trên đây chúng ta đã thấy một phần nào sự hống hách, ngang tàn của Pháp đối với triều đình nhà Nguyễn. Khi vua Khải Định băng hà ngày 6-11-1925, Bảo Đại đang du học tại Pháp trở về đưa đám vua cha và tức vị ngôi vua lúc mới 13 tuổi . Lợi dụng lúc triều đình Huế đang gặp tang gia bối rối, Pháp ép Nam triều ký thoả hiệp thư giao cho Khâm sứ Trung Kỳ đảm nhiệm tất cả quyền hành của vua mới và cử ông Tôn Thất Hân làm phụ chánh thân thần thay vua coi giữ việc cúng tế và ban cấp phẩm hàm mà thôi.
(Thỏa hiệp ký lúc vua Khải Định mới chết chưa liệm quan và phát tang). Với hoà ước bảo hộ Patenôtre ký ngày 6-6-1884, ta chỉ mất quyền ngoại giao nhưng vẫn giữ quyền nội trị và binh bị, còn với thỏa hiệp thư này thì quả là ta mất tất cả!

Thọ tang xong, Bảo Đại qua Pháp tiếp tục việc học đến năm 19 tuổi (1932) mới trở về thực sự làm vua trong hoàn cảnh vô cùng chua xót mà Lê quân đã sưu tập để ghi lại trong tác phẩm: ...Trong thời vua Bảo Đại tại ngôi trong cung nội, nhất nhất việc gì cũng phải trình cho viên Khâm sứ Pháp ở Tòa Khâm bên hữu ngạn sông Hương biết. Nhưng thế mà, người Pháp vẫn chưa yên tâm, họ sợ nhà vua trẻ tuổi cấp tiến này có thể được thần dân chí sĩ ái quốc lén lút tìm gặp như trường hợp vua Duy Tân năm 1916, họ bèn đặt một đại úy Pháp bên cạnh ngài tên là Bon (dân Huế quen gọi là quan ba hộ giá có vợ Việt Nam người Huế mà dân quen gọi là Mệ Bông) để báo cáo sinh hoạt thường nhật của ngài... Sau khi Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương vào ngày 9-3-1945, chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập, ông Ykozama thay thế Khâm sứ Pháp ở chức vụ Tối cao Cố vấn, đặt văn phòng cũng tại Tòa Khâm cũ. Và ông Cố vấn Tối cao Nhật này cũng ưu ái cho một ông Nhật tên là Sigurichi làm quan võ giá hầu cận vua Bảo Đại thay Capiaine Bon của Pháp...

Trong hồi ký chính trị Con Rồng An Nam, Bảo Đại đã giải bày tâm sự của mình về thân phận của ông vua bị bảo hộ trong vai trò ông từ giữ chùa: ... Khi hồi triều tôi cảm thấy khá nhiều thất vo.ng. Bởi vì, chính ngay trong nước mình, tôi được tiếp đón như khách, chứ không phải là chủ nhân ông, vai trò của tôi quá nhỏ bé, làm sao dân chúng đợi chờ gì ở tôi được. Tất cả mọi việc từ lớn đến nhỏ, từ đời sống hằng ngày cuả dân chúng đến tương lai của đất nước tôi đâu được quyền dòm đến. Tôi chỉ là một diễn viên sân khấu, thỉnh thoảng xuất hiện cho xôm trò, chứ đâu phải là người đạo diễn?

Vậy thì cái ý niệm làm Hoàng đế như tôi đã từng tin tưởng, theo đúng tinh thần cơ bản cổ truyền về nhiệm vụ của một vị thiên tử để cho triều đại được huy hoàng, vĩ đại thật quả đã xa vời, xa vời quá đổi...

... Sau ngày hồi loan, 9-1932, được trao nhiệm vụ bảo tồn nghi lễ triều Nguyễn, tôi đã hoàn tất một cách chân thành mẫu mực. Hàng ngày tôi mang lễ vật đến dâng kính trước bàn thờ Liệt thánh và tranh thủ ngồi trầm tư trong khu lăng tẩm giữa vùng quê tịch mịch trà đầy chất thơ của chốn thần kinh...

... Họ (tức là người Pháp) đã đặt tôi vào điạ vị trớ trêu này, tôi phải đành tâm sống như một vị vua ngoại quốc vậy . Hoàng đế bị đày - y như các tiên đế của tôi trước đây (ý ám chỉ các vua Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân...) - nhưng là đi đày ngay trong nước mình, giữa thần dân của mình...

Có đọc những sử kiện trên, có nghe những nỗi niềm đó mới thấu hiểu được một phần nào cái thế chẳng đặng đừng của một ông vua bù nhìn chẳng khác nào một tù nhân trong chính cung điện của mình. Và cũng không ngạc nhiên khi thấy ông vua trẻ đầy sinh lực này - vốn được đào tạo và lớn lên giữa những đầy đủ xa hoa của xã hội Pháp - đã phải tiêu phí thì giờ với những trò chơi thể thao, du ngoạn, săn bắn, lái thủy phi cơ.

Đã có rất nhiều người viết về những khuyết điểm và những thất bại của vua Bảo Đại . Sau đây tôi xin ghi lại một số nhận xét của một ít tác giả về vị Hoàng đế cuối cùng dựa vào những tài liệu hạn hẹp mình đang có:

* Học giả Trần Trọng Kim, một thời gian ngắn được Bảo Đại mời làm Thủ tướng chính phủ thân Nhật, đã viết trong Một Cơn Gió Bụi: ...Vua Bảo Đại thông minh, am hiểu tình hình. Trong thời gian bảo hộ của nước Pháp, hình như ngài chán nản không làm gì cả. Ngài có vẻ nghiêm trang và nói những điều rất đứng đắn...

* Cụ Vương Hồng Sển, nhà sưu tầm đồ cổ nổi tiếng của Việt Nam, đã ghi lại trong tác phẩm Hơn Nửa Đời Hư về phong thái uy nghi đường bệ của Bảo Đại so với sự dễ dãi và bình dân của Thái Tử xứ Chùa tháp Shianouk khi cả hai kẻ trước người sau được Toàn quyền Decoux và Thống đốc Nam Kỳ Rivoal mời ngự du Sài Gòn năm 1942.

Rước Thái Tử Shihanouk:

Ân cần mời Thái Tử trở lại Sài Gòn, phen này không phải là một học trò của trường Trung học Chasseloup tầm thường, nhưng nghiễm nhiên là một tiểu vương của một nước bạn hết sức trung thành cùng mẫu quốc Pháp, có tiền hô hậu tống. Quả nhiên Đề đốc thành công mỹ mãn, vì Thái Tử vẫn chưa đổi tánh, vẫn lịch sự và đối đãi với nước thầy hết sức nhã nhặn và khiêm
tốn. Bữa rước Thái Tử tại dinh Thống đốc dự yến, Thái tử xuống xe bắt tay từ anh cai kèn đến ông quan soái và khi về nước không quên gởi kỷ niệm cả bọc mề đây (cớm giẹp) phân phát không thiếu một người từ trên là quan Thống đốc, Tướng sĩ, Chưởng Lý, xuống đến hạ cấp, anh cai thổi kèn, anh lính đánh trống, luôn cả anh bồng súng gác cửa canh cho Thái Tử được an toàn ...

Rước Vua Bảo Đại:

Chiếc xe Delgate bóng loáng, một người cao lớn dình giàng (ông cao 1 m 80) đứng giữa xe, tay giơ lên ngang trán chào theo điệu nhà binh Tây phương, mình vận một bộ y phục trắng hết sức đúng thời trang, trán rộng, mũi cao, cặp mắt có viền và toàn thân phát ra một nghi biểu khác phàm. Tiếng nhạc chót vừa dứt, người tài xế phụ, y như một cái máy, chạy xuốn khép nép mở cửa xẹ Ông bước xuống. Các bà đầm chạy lại, miệng người nào người nấy như hoa nở, hí hửng toan bắt tay Vuạ Ông làm như không thấy, ngực ông đã cao, ông ểnh càng cao thêm, mắt chăm chỉ ngó ngay, chơn ông cứ bước tới trước. Khiếp quá, các bà mạng phụ lật đật cúi đầu và, quên hết lời dặn dò của các đấng phu quân. đã khép nép tay nắm vạt áo đại trào (phần nhiều mặc bùn rền) đầu cúi mọp trước đức Vua Việt y như các tổ tiên họ đã triều bái Vua Louis XIV hay vua Louis XV đời trước.Không như Thái tử da đen phen trước, phen này đứng trước một ông vua oai nghi quá, mấy bà đã mất hết bình tỉnh, nên đã có cử chỉ như đã kể làm cho các đấng phu quân cũng khớp luôn và mạnh ai nấy chào theo nghi lễ đối với một quân vương. Ông Thống đốc đứng đầu hàng, nghiêng mình kính cẩn, ông Chưởng lý tòa Thượng thẩm cũng bắt chước theo, Trung tướng bộ binh và Hải quân Đại tá chào theo nhà binh, Chủ tịch cơ mật viện, viện quản hạt, phòng thương mãi và các quan viên Tây có mặt tại đó đều răm rắp cúi chào theo nghi lễ và, khi ông đi qua khỏi rồi, đều ngó nhau trơ trẻn, quả ông đi đứng long hành hổ bộ rõ ràng. Khi ông bước đến bệ trên của điện, ông cũng không ngó lại chào và ông vẫn tiếp tục bước ngay vô trong. Thống đốc Rivoal mất hết bình tỉnh, không đợi tùy giá quan làm việc này, đã chạy theo Vua, kéo ghế danh dự ra cho Vua ngư.. Bữa tiệc dùng trong một sự lặng lẽ kính cẩn chưa từng có và mãn tiệc rồi, tại phòng khách Vua mới dạy Thống đốc trình diện quan khách và khi ấy Vua mới có câu cởi mở đối với mọi người...

* Đỗ Mậu, trong Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, đã viết: Vua Bảo Đại, vị Vua cuối cùng của triều Nguyễn, có nét mặt chữ điền, đi đứng nghiêm trang, ăn nói đàng hoàng, dáng điệu đường bệ, chững chạc...

... Mặc dầu mang tiếng là người thân Pháp nhưng trong thời gian làm Quốc trưởng ông vẫn tỏ rõ phong cách và thái độ một lảnh tụ quốc gia . Ông trọng dụng những phần tử cách mạng, các nhân sĩ có thành tích yêu nước,
các nhân tài trí thức, ông không phân biệt, chia rẽ đảng phái, không kỳ thị tôn giáo, gia đình của ông không mang tiếng tham nhũng...

... Ông đã tỏ rõ tư thế một vị Quốc trưởng của một quốc gia độc lập làm cho chính tướng De Lattre De Tassigny vừa là Cao ủy, vừa là Tổng Tư Lệnh quân đội Pháp, tuy hết sức bất mản nhưng vẫn kính trọng...

... Nếu không có Bảo Đại với ý thức trách nhiệm (dù chưa thực sự toàn vẹn), vơi khả năng ngoại giao (dù chưa thực sự đủ khôn khéo) để tranh đấu với cả Pháp lẫn Việt Minh để tạo một thế đứng cho phe Quốc gia, để khai sinh ra lá cờ vàng ba sọc đỏ, thì thử hỏi số phận của những người quốc gia đi về đâu.

* Patti, viên Thiếu tá Mỹ đã từng chỉ huy một nhóm OSS (tiền thân của CIA) nhảy dù xuống Bắc Việt gíup đở Hồ Chí Minh khi còn quân đội Nhật tại Đông Dương, đã viết về Bảo Đại trong tác phẩm Why Vietnam? như sau: Thái độ cứng rắn của ông đã buộc toàn quyền Bollaert đã phải nhiều lần đến diện kiến với ông. Bollaert đã hứa sẽ thỏa mãn những điều kiện của ông trong những cuộc thương thuyết sắp tới do đó hai nhân vật này mới gặp nhau lần thứ hai vào ngày 5 tháng 6 năm 1948. Lần này thì Pháp long trọng tuyên bố để cho Việt Nam độc lập nhưng việc ngoại giao và quốc phòng vẫn do Pháp kiểm soát. Thỏa ước Hạ Long này đã làm cho cả thực dân Pháp lẫn Việt Minh căm tức. Thực dân Pháp cho rằng Pháp đã đầu hàng Bảo Đại trong lúc Việt Minh chửi rủa Pháp vì tại hội nghị Fountainebleau, Hồ Chí Minh đã thất bại không dành được những điều kiện như Pháp đã thỏa thuận với Bảo Đại.

... Nhưng dù thỏa ước Hạ Long ra đời, Bảo Đại vẫn muốn thỏa ước ấy phải được chính thức hóa, do đó Bảo Đại phải đi Pháp và ký kết với Tổng Thống Pháp Auriole hiệp ước ngày 3 tháng 8 năm 1949... Thái độ cứng rắn của ông làm cho thực dân tức giận la ó lên rằng: Nó đã bất cần chúng ta! (Il commence vraiment à se foudre de nous).

* Trong Chiếc Bảo Ấn Cuối Cùng Của Hoàng Đế Việt Nam, Bác Sĩ Lê Văn Lân đã viết: Bảo Đại là vị vua nhận lãnh cái thời điểm cuối cùng của hồi chuông chung cuộc kéo dài lây lất trong hư vị, từ lúc tức vị năm 1932 đến lúc thoái vị năm 1945... Rồi hoàn cảnh lịch sử đất nước lại biến chuyển, nhà vua lại một phen ngắn ngủi làm Quốc trưởng vài năm để cuối cùng tự chọn cho mình một cuộc sống lưu vong âm thầm gần 40 năm cho đến ngày tạ thế...

Cái chung cuộc của đời ông như là một vị vua đã không bi thảm với máu chảy như Sa Hoàng Nga hay Pháp Hoàng Louis 16 và không quá tủi cực như Lê Chiêu Thống, Phổ Nghi... Có người trách rằng nhà vua đã thiếu nghị lực nhưng đã ai thông cảm cho cái thế chẳng đặng đừng của vai trò một ông vua trong cơn lốc của cục diện tranh chấp chính trị toàn cầu vào cuối thế kỷ 20... Vua Bảo Đại sinh ra với tướng mạo hiền từ, bản tính nhu hòa điềm đạm, bao dung ngay cả với những người lật lộng ông. Tính sổ công nghiệp của ông làm cho đất nước tuy không lớn lao lắm nhưng cũng xứng đáng để người dân Việt Nam ghi nhớ khi ông làm Quốc trưởng và ông cũng không phải là người nuôi tham vọng chính trị nhiều hay thao túng quyền năng để gây tác hại hoặc để tiếng xấu cho nhà cho nước. Khi Bảo Đại rút lui sống ẩn dật âm thầm trong cảnh lưu vong, ông cũng đã sáng suốt hiểu được ý nghĩa chữ TH-I trong vai trò của một đấng quân vương thời Mạt Nguyễn.

* Trong Việt Nam Nhân Chứng, Trần Văn Đôn - Sĩ quan tùy viên của Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân lúc ký hiệp ước Hạ Long - cũng đã ca ngợi cái phong cách uy nghi của Bảo Đại khi đối diện với Cao Ủy Pháp tại Đông Dương Bolleart nhưng vì quá dài nên không thể trích ra đây được.

Cũng trong tác phẩm này, Trần Văn Đôn cho biết tướng Lê Văn Kim, sau thời gian bị tù cải tạo, được chính phủ Pháp can thiệp qua định cư tại Pháp và lúc chết (năm 1987) đã có tám tướng lảnh Pháp mặc quân phục đại lễ với sáu quốc kỳ Pháp và hai quốc kỳ Việt Nam Cộng Hoà tiễn
đưa. Riêng Cựu Hoàng Bảo Đại khi chết chính phủ Pháp không có một hành động ngoại giao tối thiểu nào và chính phủ CHXHCNVN cũng chẳng có phân ưu.

Phụ chú về đám tang của Bảo Đại:

* Tác giả đã tóm lược bài viết Đám tang Jean - Robert Vĩnh Thụy, vị vua cuối cùng của Việt Nam của Tiến sĩ Phạm trọng Chánh như sau:

- Những ngày cuối đời cô đơn, không người săn sóc, Cựu hoàng Bảo Đại đã làm đám cưới và lễ rửa tội với Monica (Monique Baudot), con của một bà quản gia chung cư sinh năm 1946 và ông trở thành Jean Bobert Vĩnh Thụỵ Ông sống đạm bạc ở Paris với bà vợ Pháp này và đi đâu bà ta cũng muốn mọi người phải gọi là Công nương Vĩnh Thụỵ

- Không ai được đọc di chúc của Cựu hoàng trong tay Monica. Hội đồng hoàng tộc, ông Ưng Trình và Thái Văn Kiểm đến, Monica không cho các Công chúa, Hoàng tử hay tin cha mất qua báo chí thì mọi việc đã rồị Trên báo chí có hai cáo phó: một của Monica và một của các Công chúa, Hoàng tử.

o - phần cuối tập biên khảo, tác giả đã cho in Mẫu tin tổng hợp chót đầy ý nghĩa và xin trích lại một đôi dòng coi như một phụ lục đặc biệt: ...Vào ngày Chúa Nhật 5 tháng 10 năm 1997, tại chùa của Viện Phật Giáo Pháp trong khu rừng Vincennes ở ngoại ô Paris, có tổ chức một lễ cầu siêu 49 ngày cho Cựu hoàng Bảo Đại rất trọng thể với gần 1000 người Việt Nam tham dư.... Điều đáng nói nhất là các hoàng tử (Bảo Long và Bảo Thắng) và công chúa (Phương Mai, Phương Dung và Phương Liên) mặc đại tang màu trắng tiến vào trong đại sảnh và quỳ lạy trước bàn thờ rất thuần thục và đã lạy trả những người đến niệm hương. Và điều khiến nhiều người Việt tham dự ngạc nhiên và cảm động ứa lệ là Thái tử Bảo Long - mà người ta vẫn đồn đãi là đã tây hóa và quên tiếng Việt - cảm tạ quan khách bằng Việt ngữ chững chạc trên máy vi âm... sau buổi lễ, các hoàng tử và công chúa trong tang phục đứng chờ ở cửa để ân cần cảm tạ quan khách từng người theo đúng cổ tục...

Lời kết:

Thấm thoắt đã hơn hai mươi ba năm và đằng đẵng cũng đã hơn hai mươi ba năm từ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Từ bấy đến nay đã có gần 2 triệu người Việt Nam đang lạc loài khắp bốn bể năm châu . Theo dòng thời gian, số người thành công ở vùng đất mới trên mọi lãnh vực càng ngày càng đông thì số người còn nặng lòng với việc duy trì và phát huy văn hóa dân tộc càng ngày càng thưa thớt... nên những biên khào cuả Lê quân vô cùng quý giá.

Trong phần Thay Lời Mở, Lê quân đã viết: Sống ở đời cũng như lái xe hơi, người lái phải luôn luôn nhìn thẳng phía trước qua kính chắn gió, chứ không chăm chăm nhìn vào kính chiếu hậụ Đúng! Tuy nhiên, liếc nhìn về kính chiếu hậu đôi khi lại cần thiết. - chương III, tác giả cũng đã giải bày:.... chuyện thương tiếc cho thân phận một chiếc ấn cũng là một hành độn biểu tượng chứ sao!

Như đã nói ở phần đầu, bài viết nầy chỉ là những cảm nghĩ bên lề khi đọc xong tập bút khảo của Lê quân và xin một lần nữa chép lại đây lời nhận xét của nhà văn Phạm Thăng, người có đầy đủ kiến thức về biên khảo, như một đánh giá đích thực về tác phẩm: ... mát lòng, hả da.... đọc ngấu nghiến, đọc tới, đọc lui không biết chán những trang sách hữu ích và quý giá biết bao!

Chân thành cảm ơn tác giả đã cho tôi những cảm thông vô cùng của người đồng điệu qua những tài liệu đặc biệt về một thời quá vãng xa xưa mà nghe xót xa cho thân phận nhược tiểu, mà thấm thía cho đàn con Việt lạc loài phải bất đắc dĩ chọn làm công dân ở miền đất mới hơn 20 năm nay.