ÔNG BẢY CHĂN DÊ ( NLBQN2003)
Nguyễn Huyền Thạch
<?xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" /><o></o>
Có đứa gọi ông là ông Bảy Chà Và vì nghĩ ông là người Chà Và hay người Ấn Độ gì đó. Thuở ấy có khoảng hơn mười hộ gia đình người Ấn sinh sống bằng nghề buôn bán vải vóc tơ lụa tại một con phố chính của thị xã. Bọn trẻ chúng tôi không để ý lắm đến những nét khác biệt nhỏ giữa các tộc người Ân Âu đang sống quanh đây. Hễ gặp ai có nước da hơi đen một tí cứ gọi là "Chà Và" quách cho tiện. Đi ngang qua mấy tiệm vải sang trọng bao giờ cũng có người đứng sau quày hàng, khi thì một ông nước da đen sáng, đầu tóc xoăn tít và nụ cười trắng ởn giống hệt hình người quảng cáo trên hộp kem đánh răng " Hynos", lúc lại là
một cô gái xinh đẹp mắt to luôn miệng nói : "Rẻ lắm tốt lắm ba mươi lăm ba mươi lăm đồng một thước". Tôi làm gì có dịp đặt chân vào cửa tiệm, chỉ bước nhanh trên vỉa hè, nghe loang loáng cách phát âm kỳ lạ của họ. Họ nói một thứ tiếng Việt không dấu, lơ lớ với tốc độ nhanh đáng khâm phục, như muốn gộp tất cả các từ trong câu trong câu thành một từ đa âm duy nhất, hoặc đang tìm cách đọc vội vã một câu thần chú để còn kịp trải những cuộn vải muôn màu ra trước mặt khách hàng.
Tại tính trẻ con nó vốn thế, thích quấy rối, chòng ghẹo, tóm lại làm một cái gì đó để người khác mất bình tĩnh hay tức giận càng tốt. Có đứa thích lấy que xoi vào ổ kiến lửa để chúng điên tiết túa ra khỏi hang quơ càng bò nhốn nháo một cách vô ích. Tôi đồ rằng việc bẻ mía hay hái ổi trộm có mục đích làm cho "khổ chủ" nổi khùng hơn là tìm cách tọng vào mồm ba thứ trái cây sống sít, nhạt phèo. Thật không gì hồi hộp và thích thú bằng khi ngang qua trước cửa tiệm vải, xốc vội áo ra khỏi quần "sóc" đồng phục (học sinh nam mặc đồng phục, bỏ áo trong quần), một tay túm lấy bâu áo tạo thành hình giông giống lổ tai heo hay bò, dê gì đấy, tay kia cứ thế búng lia lịa vào biểu tượng vật tổ của" đối phương", được phép tự hân thưởng vẻ sững sờ căm phẫn của "nạn nhân" vừa đúng một giây rồi...ù té chạy. Kể lại có hơi rườm rà nhưng mọi việc trên thực tế như xảy ra trong chớp mắt. Tôi chỉ nhớ mình đã huơ tay huơ chân lên trong một trạng thái tinh thần khá kỳ quặc: dũng cảm xen lẫn sợ hãi, và niềm khoái trá chợt dâng cao khi vừa dợm chân bỏ chạy, rồi vỡ òa lênh láng lúc đã vọt đi một khoảng cách khá xa đủ để tận hưởng cảm giác an toàn, thắng lợi, hả hê. Tất cả cảm xúc bát nháo con nít ấy trộn chung lại tạo nên niềm phấn khích quỷ quái khó phai mờ trong tôi.
Mãi đến khi tôi gặp ông Bảy Chà Và. Ông cũng có nước da hơi đen, tóc quăn râu ria xồm xoàm, dáng người tầm thước, cộm lên giữa dân địa phương thường có vóc người trung bình hoặc nhỏ bé. Có lẽ để chuộc lại mặc cảm tội lỗi vì kích thước cơ thể cao to của mình, ông luôn có cử chỉ dịu dàng từ tốn, bước đi chậm rãi, khuôn mặt và ánh mắt trông rất hiền từ. Ông hay mặc áo sơ mi bỏ vào quần tây dài nhưng vẻ nghiêm túc của cách ăn mặc ấy chỉ càng làm nổi bật bộ y phục sờn cũ, nhăn nhúm và có hơi bẩn của ông. Chắc tại ông làm nghề...chăn dê? Bọn tôi gọi ông Bảy Chà Và là ông bảy chăn dê, không màng tìm hiểu tên thực của ông là gì, cứ gọi theo nghề nghiệp và trước đó là một thứ tự gia tộc giả định thường dành cho người thân trong gia đình hay bà con ruột thịt. Ông Bảy chăn dê thường cầm một đoạn dây nhợ hay dây gai (có khi chỉ là một cọng cỏ) ngắn chừng vài cen ti mét, hai tay nắm hai đầu dây quay quay theo một quỹ đạo khó tìm thấy trong toán học về quỹ tích, tợ như ông đang lần tràng hạt để tĩnh tâm hay đó chỉ là cách để ông tập trung hồi ức về gia đình, quê hương ở một đất nước xa xôi nào, nơi vì một lý do gì đấy ông không thể quay về. Hoặc ông đang nghĩ đến ...đàn dê?
<o></o>
Bọn trẻ chúng tôi cứ trưa đến lại lén cha lén mẹ ra tắm sông nơi Bến Vắng. Cạnh bờ sông là những thửa ruộng, ao đầm và một khu đất rộng cây cối um tùm. Những cây dầu lai cổ thụ cao tít bên cạnh những cây gòn lâu niên khi trái khô già nứt vỏ làm nở bung những chùm bông trắng xóa mang hạt bay đi tứ tán. Các loại cây lá kim và các cây keo ta, keo tây, cây phượng, cây me với muôn nghìn lá nhỏ li ti khẽ rung lên khi gió nhẹ thoảng qua giữa trưa tròng bóng, các tán lá chỗ thưa chỗ rậm khi ánh nắng chiếu qua, chỗ biêng biếc chỗ xanh rì lung linh chập chờn như sắp hóa thành không gian ảo. Lâu lâu có tiếng tre già kêu kĩu kịt chẳng những không thể phá đi sự tĩnh lặng, chỉ càng làm tăng thêm vẻ hoang vắng của cảnh vật đang thiu ngủ, nơi thật lý tưởng cho chuyện hoang đường về những con ma ra tay dụ dẫn người vào ngồi lọt thỏm giữa những bụi tre đầy gai mà không hề xây xước, ăn cứt bò nhưng cứ tưởng là ăn bánh ít lá gai? Đúng lúc đó có tiếng kêu be be he...e đâu trong bụi cây, đám cỏ rồi ông Bảy chăn dê lừng lững hiện ra, tay cành một nhánh cây truốt lá vung vẫy giữa không trung miệng kêu hô hê làm mấy con chim sẻ giật mình vội vớ lấy cớ để vụt cánh bay đi, nhưng chỉ để đến đậu ở lùm cây gần đó...
<o></o>
Năm tháng trôi qua, những đứa bé nghịch ngợm từng chọc ghẹo ông thuở trước giờ hẳn nhiên đã lớn. Cạnh bờ sông người ta đã làm những bờ kè bằng bê tông rắn chắc; những thửa ruộng, những ao đầm và khu đất rộng với những bụi cây bên Bến Vắng giờ đã trở thành những con đường trải nhựa với những dãy nhà vuông vức, khang trang. Ông Bảy chăn dê và đàn dê của mình dường như đã chui trở lại vào chiếc túi bí ẩn của thời gian. Nhưng với tôi, ông không chỉ chăn dê, ông chăn luôn những cảnh vật bên sông vắng, chăn dắt một phần tuổi thơ tôi bằng ánh mắt hiền từ, bằng nhánh cây truốt lá vung vẩy trong không trung, bằng tiếng kêu hô hê của gã mục đồng.

Nguyễn Huyền Thạch
<o></o>