Warning: preg_replace(): The /e modifier is deprecated, use preg_replace_callback instead in ..../includes/class_bbcode.php on line 2958
Việt Nam: Con Rồng Đang Lên ( Bill Hayton )
kết quả từ 1 tới 1 trên 1

Ðề tài: Việt Nam: Con Rồng Đang Lên ( Bill Hayton )

  1. #1

    Việt Nam: Con Rồng Đang Lên ( Bill Hayton )



    Bill Hayton - Việt Nam: Con Rồng Ðang Lên

    Diên Vỹ, X-Cafe chuyển ngữ


    Phần mở đầu: Một Việt Nam Khác
    Chương I: Sân chơi của cộng sản tư bản
    Sân chơi của cộng sản tư bản (tiếp)
    Sân chơi của cộng sản tư bản (tiếp)Sân chơi của cộng sản tư bản (tiếp)Diên Vỹ, X-Cafe chuyển ngữ

    Lĩnh vực đầu tư ngoại quốc là bộ phận nổi bật nhất của nền kinh tế, nó đã tạo ra hàng triệu việc làm và đóng góp rất nhiều tiền thuế, nhưng nó không thống lĩnh được những đỉnh cao. Trên lý thuyết những vị trí này vẫn do nhà nước quản lý. Trong năm 2005, 122 trong số 200 công ty lớn nhất tại Việt Nam là do nhà nước sở hữu. Con số này cho đến nay cũng chỉ thay đổi rất nhỏ, mặc dù một số ngân hàng tư nhân cũng đang tham gia vào hàng ngũ. Ðối với Ðảng, một khu vực kinh tế nhà nước vững mạnh là phương cách để giữ vững tính độc lập của quốc gia trong thời đại toàn cầu hoá. Có nghĩa là Ðảng vẫn là người đưa ra những kế hoạch lớn, ví dụ như quyết định vào năm 2006 nhằm phát triển nền "kinh tế biển" của đất nước - một khái niệm bao trùm mọi thứ từ dầu hoả đến cá và tàu bè. Ðảng cũng đã quyết định giữ vững ở mức độ cao quyền quản lý của nhà nước đối với những lĩnh vực chiến lược quan trọng như tài nguyên thiên nhiên, giao thông, tài chính, cơ sở hạ tầng, quốc phòng và viễn thông.
    Ðảng đã học được từ những sai lầm trong quá khứ: cách ly các công ty nhà nước khỏi thế giới bên ngoài thì chẳng giúp được gì cho quốc gia. Ðể phát triển họ cần có đầu tư mới và kỹ thuật hiện đại cũng như kỹ năng quản lý. Họ sẵn sàng làm mọi mánh khoé của từ cẩm nang của chủ nghĩa tư bản để giữ phần xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế tiếp tục lướt sóng. Các tập đoàn được tự do để liên doanh với các đối tác nước ngoài và bán cổ phần cho các nhà đầu tư ngoại quốc, ngay cả với các "cổ phần tư" (cụm từ "tư nhân hoá" vẫn còn mang màu sắc chính trị) - miễn là thành phần quản trị do Ðảng cất nhắc. Bù lại, họ được hưởng những lợi thế từ sự hậu thuẫn của chính quyền. Một trong những ví dụ chính xác nhất, dù không phải là duy nhất, là Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam: VinaShin. VinaShin được hưởng thụ từ hậu thuẫn cực kỳ lớn của chính quyền. Khi Việt Nam phát hành trái phiếu chủ quyền đầu tiên trị giá 750 triệu Mỹ kim vào năm 2006, số tiền thu được không dùng để xây dựng đường xá hoặc trường đại học mà để cho VinaShin. Khi Thủ tướng Dũng chính thức viếng thăm Ðức vào năm 2008 với kết quả hữu hiện là 2 tỉ tiền vốn vay từ Ngân hàng Ðức - cũng được dành cho VinaShin [15]. Ngân hàng Thụy Sĩ Credit Suisse cũng đã cho công ty vay một tỉ Mỹ kim.
    VinaShin có một mục tiêu đầy tham vọng: biến Việt Nam thành quốc gia đóng tàu lớn thứ tư trên thế giới vào năm 2018. Một cách để đạt được việc này là sử dụng nguồn tài chính do chính phủ hỗ trợ để đóng tàu với giá rẻ hơn mọi nơi. Một trong những khách hàng hưởng lợi là một công ty Anh - Graig. Có văn phòng ở Cardiff, thủ phủ xứ Wales, Graig chuyên đặt mua tàu vận chuyển lớn và dùng chúng vào những hợp đồng vận tải trong cộng đồng hàng hải quốc tế. Những chiếc tàu "Diamond 53" nằng 53 nghìn tấn của họ đặc biệt rất thành công. Ða số chúng được đóng tại Trung Quốc, nhưng vào năm 2004 VinaShin đã thắng được gói thầu đóng 15 chiếc tàu loại này với giá tổng cộng là 322 triệu Mỹ kim. Hợp đồng này đã chẳng thể có được nếu không có sự hậu thuẫn của chính quyền. Công xưởng và tay nghề của VinaShin ban đầu đã quá yếu khiến Graig đòi hỏi rằng họ sẽ được bảo đảm hoàn tiền nếu những chiếc tàu này không nổi trên nước. Nhưng các ngân hàng tư nhân không muốn đứng ra bảo đảm việc này và ngay cả những ngân hàng nhà nước ban đầu cũng không muốn. Chỉ đến khi đích thân Thủ tướng trực tiếp ra lệnh các ngân hàng nhà nước phải đứng ra đóng tiền bảo đảm, vào đúng ngày ký kết hợp đồng, thì mọi việc mới tiến triển.
    Ðến tháng Tư 2006 chiếc tàu đầu tiên đã sẵn sàng hạ thuỷ tại xưởng đóng tàu Hạ Long, nằm ở cực đông bắc tỉnh Quảng Ninh. Ðấy là một sự kiện trọng đại. Chiếc Florence là chiếc tàu lớn nhất được đóng tại Việt Nam. Vào ngày hạ thuỷ, thân tàu 190 mét màu đỏ và đen nằm cao 30 mét trên đầu đám đông. Những công nhân đóng tàu lặng im, những vị lãnh đạo đến tham dự buổi lễ trọng đại đều đã có mặt. Ðây là thời điểm quyết định đối với ngành đóng tàu Việt Nam. Lệnh đưa ra và chiếc Florence trườn theo máng trượt. Mọi người hoan hô một lúc lâu. Nhưng vài giờ sau mừng rỡ được thay thế bởi ngượng ngập. Chiếc Florence bị rò rỉ - nước tràn vào đến phân nửa ngăn số bốn (trong tổng số năm ngăn). Ðây không phải là loại tiếng tăm VinaShin muốn vào cái ngày đánh dấu sự tham gia của Việt Nam vào hàng ngũ của đội ngũ đóng tàu tên tuổi. Truyền thông đã đưa ra vài giải thích: rằng một khối vật thể rắn đã rơi trong lúc hạ thuỷ và làm lủng một lổ lớn khoảng một mét ở thân tàu; rằng máng trượt đã được xây quá ngắn và quá dốc làm thân tàu bị nứt khi chạm nước [16]. Mặc dù với những đào tạo và cố vấn từ Graig, rõ ràng VinaShin cần phải học hỏi nhiều về việc đóng tàu.
    Cuối cùng thì lổ thủng đã được sửa và chiếc Florence giờ đây đang lướt sóng trên biển, cùng với một số tàu loại Diamond 53 do Việt Nam đóng. Kể từ dịp hạ thuỷ kém may mắn đó, Graig đã mở rộng hợp đồng với VinaShin bao gồm 29 chiếc Diamond 53 và 10 chiếc Diamond 34 nhỏ hơn với tổng trị giá 1 tỉ Mỹ kim. Nhưng nhà kinh tế của Harvard là David Dapice thắc mắc rằng trên tổng thể Việt Nam sẽ có được lợi lộc gì từ hợp đồng này với số vốn mà chính phủ đã tăng cường đầu tư cho VinaShin. Ông dự tính công ty này có thể lỗ đến 10 triệu Mỹ kim cho mỗi chiếc tàu trong tổng số 15 chiếc đầu tiền họ đang đóng cho Graig và thắc mắc rằng đây có phải phương cách tốt nhất để một quốc gia nghèo chi tiêu tiền [17]. Nhưng những ưu tiên khác đã được đặt trong lịch trình vào lúc này. VinaShin là bộ phận quan yếu của chiến lược "kinh tế biển" nên ít nhất vào lúc này, họ có nhiều lý do riêng để làm những gì mình muốn - ví dụ như chịu lỗ lớn trong hợp đồng để học hỏi kỹ năng và kinh nghiệm cần có trong tương lai. Nhưng đấy không phải là việc duy nhất VinaShin đang làm với số vốn dễ dãi. Như nhiều tập đoàn lớn khác do nhà nước sở hữu, VinaShin đã chuyển sự chú ý của mình ra khỏi nhiệm vụ chính và nhảy vào những lĩnh vực có tiềm năng tạo ra khó khăn lớn cho Việt Nam.
    Một phần của nguồn vốn dễ dãi đã được dùng vào việc đóng tàu, nhưng trong năm 2007 VinaShin đã tạo ra 154 công ty con - cứ mỗi một ngày rưỡi có một công ty ra đời, không kể cuối tuần [18]. Trong số những đầu tư là một nhà máy bia và một khu khách sạn tại tỉnh Nam Ðịnh. Và không chỉ có mình họ. Petro Việt Nam, công ty độc quyền nhà nước về sản xuất dầu, cũng đã tham gia vào lĩnh vực khách sạn, và những CTNN khác cũng xây dựng nhà cao cấp. Trong năm 2007 và 2008 những đầu tư kiểu này đã góp phần thổi bùng chiếc bong bóng bất động sản khổng lồ. Nhưng nguy hiểm hơn cho quốc gia này trong toàn cảnh là cách những CTNN đã tham gia vào lĩnh vực tài chính. Việt Nam đang đi vào con đường quen thuộc của các nước Ðông Á. Những tập đoàn lớn nhất của nhà nước đang thành lập những nguồn vốn không được kiểm soát vào những dự án tài chính không mang tính hợp lý về kinh tế. Ðến tháng Sáu 2008, 28 tập đoàn nhà nước đã chi khoảng 1,5 tỉ Mỹ kim để thành lập hoặc thu mua những cổ phần trong những công ty quản lý vốn, các công ty trao đổi chứng khoán, các ngân hàng thương mại và các công ty bảo hiểm. Ba phần tư các công ty tài chính ở Việt Nam hiện đang sở hữu bởi những CTNN lớn nhất (còn được gọi là Tổng Công ty). Những công ty độc quyền về xi măng, than và cao su đều sở hữu ít nhất là một loại như thế. Theo luật lệ của Việt Nam một "công ty tài chính" thì gần như là một nhà băng, ngoại trừ nó không thể giải quyết việc chi trả. Nhưng một số Tổng Công ty (TCT) giờ đây cng đang có vốn trong các ngân hàng. VinaShin sở hữu một phần của Ngân hàng Xây dựng Hà Nội (Habubank) và còn có những trường hợp tương tự. Nhiều công ty cũng đã mua những công ty chứng khoán buôn bán cổ phần.
    Gộp tất cả lại và vài Tổng Công ty lớn nhất Việt Nam thì chúng có tiềm năng để trở thành những "hộp đen" độc lập tự xoay vốn. Việc cung cấp vốn thì rất mập mờ. Ví dụ như vào cuối năm 2008, Ðiện lực Việt Nam (EVN) sở hữu 40 phần trăm Công ty Tài chính Ðiện lực và 28 phần trăm của ABBank, ngân hàng này lại sở hữu 8 phần trăm cổ phần của Công ty Tài chính Ðiện lực. Ðể hoàn thành vòng tròn này, cả ABBank và EVN đã sở hữu những công ty chứng khoán có cổ phần của Công ty Tài chính Ðiện Lực. Theo lời báo cáo mới đây của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam thì "Tổng Công ty bảo trợ, mua, trao đổi, lũng đoạn và kiếm lãi bằng cách cổ phần hoá những công ty thành viên của mình" [19]. Có vô vàn cơ hội cho những thủ đoạn tội phạm thiếu đạo đức và làm bất ổn quốc gia. Các ông chủ của những TCT cho rằng họ có thể kiếm lợi nhiều hơn bằng cách nhúng tay vào những khu vực này hơn là đi theo những ngành kinh doanh chủ chốt của mình. Một quan chức cao cấp của công ty độc quyền Petro Việt Nam đã nói với báo chí rằng "Ðiều quan trọng nhất đối với các thương nghiệp là hiệu quả kinh tế. Hơn 40 phần trăm thu nhập của tập đoàn chúng tôi đến từ những nơi nằm ngoài lĩnh vực dầu hoả và khí đốt. Chúng tôi vẫn biết rằng phải chú trọng vào những lĩnh vực kinh doanh chính của mình nhưng nếu đầu tư vào những khu vực kinh doanh chính lại không có hiệu quả thì tại sao chúng tôi lại bị bắt buộc phải đầu tư vào chúng?" [20] Mặc dù được hưởng lợi từ sự hào phóng của nhà nước, những lãnh đạo các công ty thường xuyên chú tâm vào việc tự tưởng thưởng cho bản thân họ hơn là trở thành tài sản chiến lược của quốc gia.
    Giới lãnh đạo Ðảng Cộng sản lại ưa thích các CTNN vì họ có thể thực thi những chính sách của đảng. Những đảng viên điều hành chúng phải vâng lệnh thực hành những chính sách này. Nhưng những người lãnh đạo công ty thích điều hành chúng chỉ vì chúng cung cấp rất nhiều cơ hội làm giàu cho bản thân họ. Tạo ra một công ty con và tự bổ nhiệm mình vào hội đồng điều hành là một cách kiếm tiền dễ dàng. Một cách khác là thành lập một công ty tư nhân do bạn bè hoặc họ hàng mình sở hữu để bán tài sản của nó với giá rẻ hoặc cung cấp cho họ những hợp đồng béo bở. Với tiền bạc dồi dào, không khó để mua chuộc cấp trên, quan chức kiểm tra để họ nhắm mắt làm ngơ trước những vi phạm pháp luật. Những đảng viên điều hành cái "đuôi" CTNN dùng nó để vẫy "con chó" của chính sách của Ðảng. Nhưng đấy cũng chưa hẳn là toàn bộ câu chuyện. Ðiều kỳ lạ về Việt Nam là phương pháp của Ðảng Cộng sản, mỗi khi gặp những khủng hoảng, có thể kỷ luật những đảng viên hư hỏng.
    Ðể hiểu việc này ra sao, hãy nhìn vào phương thức hoạt động của Ðảng. Giới lãnh đạo Ðảng Cộng sản Việt Nam muốn điều khiển đất nước đi theo con đường tương tự như chủ nghĩa de Gaulle ở Pháp. Dưới "Chủ nghĩa de Gaulle - Việt Nam" một nhóm tinh tuyển sau hậu trường (Ðảng Cộng sản) có nhiệm vụ đề ra hướng đi chung về chính sách và giao phó việc thực hiện cho chính phủ (do Ðảng kiểm soát). Chính quyền phải lập ra những luật lệ và dùng mọi nguồn tài nguyên có được - bộ máy hành chính nhà nước, các CTNN, khu vực tư nhân, giới đầu tư ngoại quốc, những tổ chức tài trợ quốc tế hoặc bất cứ ai - để bảo đảm chính sách được thực thi. Và đằng sau hậu trường, Ðảng hành động như là một tố chất kết dính - đưa ra một quyết định và thực hiện nó - và với những quyết định khác thì lại chia bè cánh, một phần là vì hệ tư tưởng nhưng chủ yếu là vì những cá nhân và mạng lưới bảo hộ của họ. Không ai được bầu vào hàng ngũ lãnh đạo ÐCSVN - 15 người trong Bộ Chính trị - mà không gây dựng một mạng lưới những người ủng hộ mình và trả công cho họ. Không thể nào biết rõ được một quyết định nào đấy là kết quả của hệ tư tưởng hay do ai đấy đỡ đầu. Trong đa số trường hợp, có thể là kết quả của cả hai.
    Lấy ví dụ về Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết. Chủ tịch Triết nắm quyền lực qua hệ thống cơ cấu của tỉnh Bình Dương, nằm ngoài Thành phố Hồ Chí Minh. Ông đã biến nơi này thành một địa điểm kinh tế hùng mạnh, hấp dẫn một lượng nhà đầu tư ngoại quốc khổng lồ, tạo ra hàng trăm nghìn việc làm và đóng góp một phần quan trọng vào ngân sách quốc gia. Ông làm được việc này bằng cách lách luật, xé rào để làm vừa lòng các nhà đầu tư. Ông đã bãi bỏ những luật lệ về qui hoạch để xây dựng các khu công nghiệp, ông thương lượng các khoản thuế để chiêu dụ các công ty nước ngoài và giúp đỡ các công ty nhà nước khi họ cần. Thành công của ông được tưởng thưởng bằng sự đề bạt của Ðảng, đầu tiên là chủ tịch Thành phố Hồ Chí Minh và kế đến là chủ tịch nước. Nhưng căn cứ của ông vẫn là Bình Dương và hiện tại là lãnh địa của gia đình ông. Cháu ông kế nghiệp làm chủ tịch tỉnh và gia đình ông kiểm soát nhiều vị trí trong cơ cấu hành chính. Người Việt thường nói về việc được "ô dù" che chở. "Ô dù" của Triết che chở gia đình ông và mạng lưới ở Bình Dương, cũng như "ô dù" của những đồng nghiệp ông che chở người thân của họ ở những nơi khác. Sự che chở này tạo điều kiện cho các tỉnh, doanh nghiệp nhà nước và ngày càng nhiều những cá nhân lãnh đạo chúng có cơ hội để lách hoặc phạm luật, biết rằng họ được "bảo vệ" khỏi pháp luật. Nhưng cũng có giới hạn trong việc giới lãnh đạo quốc gia có thể đẩy quyền lợi của mạng lưới địa phương họ được bao xa. Quyền lợi quốc gia cuối cùng cũng thắng thế. Chính sách phải là kết quả của sự thoả thuận chung: quyền lợi quốc gia, bè cánh và địa phương đều phải được thoả mãn. Nhưng để đạt được thoả thuận chung thường đòi hỏi những đấu đá nội bộ khốc liệt.
    Ðầu năm 2008 chính quyền nhận ra rằng những bong bóng bất động sản và chứng khoán đã đi quá đà. Hệ quả của giai đoạn hỗn loạn trong thị trường chứng khoán đã tràn sang một vùng rộng hơn. Năm 2006 chỉ số VNI trên sàn chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh đã tăng 145 phần trăm. Trong hai tháng rưỡi đầu của năm 2007, nó lại tăng thêm 50 phần trăm. Sàn trao đổi của các trung tâm chứng khoán lớn trong thành phố đầy ắp người mua bán hằng ngày. Một số người đem tiền tiết kiệm để đánh cược trên thị trường chứng khoán. Sự lạc quan tăng cao vô hạn. Ngày 12 tháng Ba 2007 tăng đến mức kỷ lục ở 1.170 điểm. Nó không bao giờ đạt được ngưỡng này nữa. Nó trồi sụt một tí và chấm dứt một năm vẫn còn cao ở mức 20 phần trăm. Nhưng đến năm 2008 nó bị sụt giảm mạnh xuống đến 70 phần trăm - làm sạt nghiệp vô số những người mua bán hàng ngày cũng như những gia đình đã dùng tiền tiết kiệm thử thời vận. Lạm phát tăng 30 phần trăm, những hộ trong thành phố không đủ sống, các xí nghiệp bị đình công và tâm lý bất mãn tăng cao. Ðiều này bắt đầu trông giống như một đe doạ đối với đảng cầm quyền. Ðây là lúc giới lãnh đạo phản công.
    Vào tháng Tư 2008, Thủ tướng Dũng công khai kêu gọi các doanh nghiệp nhà nước giới hạn những kinh doanh ngoài lề ở mức 30 phần trăm tổng số vốn [21]. Thực tế về việc chính quyền đã phải xuống nước "kêu gọi" CTNN thi hành đúng luật cho thấy họ đã có vấn đề trong việc giữ vững kiểm soát. Các CTNN đã không tuân lệnh; đằng sau hậu trường tranh chấp nội bộ nảy ra mãnh liệt. Chính quyền đã bắt buộc phải tìm biện pháp khác. Ngân hàng trung ương, từng tỏ ra rất dễ dãi với các TCT bằng những nguồn vốn dồi dào với giá lãi thấp, đã được lệnh phải nghiêm chỉnh lại. Giá lãi suất được nâng lên và nguồn tiền dễ dãi bị giới hạn. Những chiếc ô che đã bị dẹp đi; giới lãnh đạo đã bắt buộc phải ra tay vì lợi ích quốc gia. Họ đã thành công, nền kinh tế nguội bớt và khủng hoảng dịu đi.
    Ban đầu các TCT được xây dựng theo kiểu mẫu của dạng tổ hợp doanh nghiệp chaebol của Hàn Quốc. Các chaebol đã nhiều lần thất bại nhưng một số tổ hợp như Hyundai và Samsung đã trở thành những nhà xuất khẩu khổng lồ. Các TCT Việt Nam đã không được thành công mấy: VinaShin đã thắng được những hợp đồng qua việc bỏ thầu dưới giá phí tổn và các hợp đồng dầu giữa Petro Việt Nam với Cuba và Venezuela là sản phẩm ngoại giao của chính quyền hơn là khả năng kinh doanh. Ngành dệt quốc doanh đa phần là không có lãi và ngành sắt thép cũng rất lạc hậu. Nhưng lĩnh vực quốc doanh vẫn giữ nguyên vị thế trụ cột dưới sự kiểm soát của Ðảng - vừa là công cụ của chính sách kinh tế, vừa là phương cách để làm các tỉnh, nghiệp đoàn và các nhóm lợi ích khác hài lòng. Mặc dù nhiều CTNN đã được bán đi, Ðảng đã kiên định rõ rằng sẽ tiếp tục giữ nguyên khoảng 100- 150 doanh nghiệp nhà nước quan trọng nhất. Chúng tiếp tục thụ hưởng sự hào phóng của chính phủ. Mặc dù giai đoạn vay mượn vốn lãi nhẹ từ ngân hàng nhà nước đã qua lâu, nhưng còn vô vàn con đường khác để họ chuyển vốn cho mình. Ngân hàng Phát triển Việt Nam của chính phủ (được hỗ trợ bởi tiền viện trợ của các chính phủ nước ngoài) và Quỹ Bảo hiểm Xã hội của nó (được cho là sẽ trở thành một nhà đầu tư lớn nhất trong nước vào năm 2015) có vẻ đang hoạt động như một "quỹ thừa" vô trách nhiệm, làm lợi cho khu vực quốc doanh [22]. Rõ ràng các CTNN đang có một tương lai quan trọng, không cần thiết là sáng sủa, trước mặt.
    Những mạng lưới chằng chịt giữa Ðảng và doanh nghiệp không chỉ giới hạn trong khu vực quốc doanh. Chúng còn thống trị cả khu vực tư nhân. Nhiều doanh nghiệp "tư nhân" được thành lập bởi những công ty nhà nước hoặc nhà nước vẫn còn một phần sở hữu và vẫn được điều khiển bởi các đảng viên. Ngay cả với những doanh nghiệp tư nhân thực thụ vẫn cho thấy không thể nào xin được giấy phép đăng ký, chứng nhận hải quan và nhiều giấy tờ quan trọng khác nếu không có những mối quan hệ tốt. Những doanh nghiệp nào không biết điều thường nhanh chóng gặp phải khó khăn. Thống kê cho thấy ngay cả những ngân hàng tư nhân cũng chỉ muốn cho những người "có quan hệ tốt" vay m ượn [23]. Ða số những người có quyền hành ở những chức vụ cao trong khu vực tư nhân là đảng viên được chỉ định, hoặc là thân nhân và bạn bè của họ. Giới tinh tuyển trong Ðảng Cộng sản đang biến chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam thành một doanh nghiệp gia đình. Giới tinh tuyển trong kinh doanh không tách rời khỏi Ðảng Cộng sản mà là thành viên hoặc có liên hệ với đảng.
    Ví dụ như một trong những người giàu nhất Việt Nam, Trương Gia Bình, là Tổng Giám đốc của một doanh nghiệp mang tên FPT, khởi thuỷ là một công ty nhà nước "Công ty Công nghệ Thực Phẩm" (Food Processing Technology) sau đấy phát triển thành "Công ty Ðầu tư và Phát triển Công nghệ" (Financing and Promoting Technology) và trở thành công ty Công nghệ Thông tin đầu tiên trong nước. Ông cũng là người duy nhất ở Việt Nam thường được gọi với tên đệm "con rễ cũ" vì ông từng lấy con gái của Võ Nguyên Giáp - vị anh hùng thời chiến, cựu tư lệnh quân đội và từng là Phó Thủ tướng. Trong những năm 1990s, nếu một doanh nghiệp cần tiếp xúc với hàng loạt những công ty trong ngành xây dựng hoặc viễn thông của quân đội, thì Tướng Giáp là người cần phải gặp. Ðây là một mốt quan hệ tốt đối với một công ty chuyên bán phần mềm và điện thoại di động. Giờ đây Bình lại có những quan hệ khác: trong số những nhà đầu tư trong các doanh nghiệp của ông là những công ty đầu tư vốn của Hoa Kỳ: Intel Capital và Texas Pacific Group.
    Còn hằng hà vô số những ví dụ khác. Trên thực tế, quá nhiều đến nỗi người Việt giờ đây đã có một tên gọi đặc biệt về chúng: "COCC" và "5C". COCC là thành phần mầm non của giới tinh tuyển Ðảng-doanh nghiệp mới - những lãnh đạo tỉnh và những lãnh đạo Ðảng thấp hơn ở cấp quốc gia hoặc các quan chức nhà nước. Nó có nghĩa là Con Ông Cháu Cha, nghĩa của cụm từ này quá rõ rằng với những ai quen thuộc với truyền thống gia đình Việt Nam - giới trẻ trung thành, giới già bảo vệ. Những ai nằm dưới cái ô COCC có thể làm bất cứ điều gì, vì những người đỡ đầu họ cao cấp hơn cả công an và toà án. Giới tinh tuyển thực thụ là những người 5G: họ có thể làm hoàn toàn bất cứ điều gì. Ðã từng có tin đồn rằng con trai của một 5G giết chết một con trai một 5G khác, nhưng toàn bộ vụ việc đều được ém nhẹm. 5G có nghĩa là Con Cháu Các Cụ Cả - Cụ là một vị thế cao cả nhất trong gia đình Việt Nam và những chức Chủ tịch nước lẫn Tổng Bí thư Ðảng Cộng sản đều được gắn cho danh hiệu này. Ô dù của 5G trải rộng - ra ngoài cả những người con ruột và bao gồm hầu như toàn bộ gia đình.
    Ở Việt Nam, những mối quan hệ như thế có giá trị tiền bạc. Những công ty địa phương hoặc ngoại quốc luôn phải sẵn sàng trả những chi phí lớn để được giới thiệu và tiếp xúc với những người có chức quyền. Những ai đã đã có ngõ vào - qua quan hệ gia đình - đều có lợi thế lớn. Một lời giới thiệu tốt đến một quan chức quan trọng có thể trị giá đến 100 nghìn Mỹ kim. Số tiền này thường không đưa thẳng cho vị quan chức ấy mà thường qua một người môi giới - thường là một thân nhân. Ðôi khi không phải là tiền mặt mà là một món quà, thậm chí cả một căn hộ miễn phí, đấy là tại sao những viên chức nhà nước với tiền lương căn bản chỉ 100 Mỹ kim một tháng có thể hưởng thụ một đời sống tương đương với người đứng đầu một doanh nghiệp thành công. Người Việt có câu "chân trong chân ngoài" cơ quan nhà nước. Một người trong gia đình giữ một chức vụ có lương thấp trong guồng máy chính quyền để giữ mối quan hệ tốt trong khi vợ, anh em và họ hàng tìm kiếm mối làm ăn bên ngoài. Chức vụ trong chính quyền giờ đây cũng có giá trị. Những người đứng đầu các bộ có thể ra giá vài nghìn Mỹ kim cho một chức vụ nhỏ nhưng mang nhiều cơ hội và sự quen biết.
    Nhưng việc giới thiệu chỉ là một trong những cách kiếm tiền. Người nhà của những quan chức cấp cao đã tìm ra nhiều cơ hội khác trong toàn bộ giới kinh doanh. Ngay từ lúc bắt đầu công cuộc đổi mới kinh tế, giới tinh tuyển trong Ðảng đã gửi con cái mình ra nước ngoài du học và để chúng dùng vị trí của mình nhằm tiến thân trong kinh doanh. Những người con này về nước với đầy đủ tư cách và sẵn sàng nhận những công việc trong các hãng đầu tư nước ngoài cũng như trong lĩnh vực tư nhân mới. Trong những năm đầu 1990s, khi Ngân hàng Thế giới muốn kích thích việc phát triển lĩnh vực tư nhân ở Việt Nam, họ đã cấp nhiều học bổng cho giới trẻ, trong đó có một phụ nữ tên Ðinh Thị Hoa, người đầu tiên của nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam tốt nghiệp bằng Cao học Quản trị Kinh doanh tại Harvard. Khi về nước, bà thành lập một công ty tên Galaxy, hiện giờ đã trở thành một tổ hợp bao gồm một cơ quan đặc trách Quan hệ Công chúng, hầu hết những hệ thống nhà hàng mang phong cách phương Tây trong nước, một rạp chiếu bóng lớn tại Thành phố Hồ Chí Minh và một công ty sản xuất phim. Trong nhiều khía cạnh, đây là một kiểu mẫu thành công của lĩnh vực tư nhân. Nhưng Galaxy không phải là một công ty tự nhiên mà có. Nó là một trong những doanh nghiệp tạo ra bởi con cái của giới lãnh đạo Ðảng. Ngân hàng Thế giới trao học bổng cho Hoa một phần vì cha của bà là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Từ buổi đầu, việc đổi mới đã được khuyến khích bằng cách tặng thưởng những chính trị gia những phần lợi thực tế.
    Nhiều nhà quan sát về Việt Nam thường có giả định rằng việc tư bản hoá sẽ tạo ra một lực lượng mới trong xã hội, một giai cấp trung lưu mới với thu nhập không dính líu đến Ðảng Cộng sản và có thể tự đứng lên để bảo vệ mình. Ðiều này có thể đến qua thời gian, nhưng dường như sẽ còn rất lâu. Hiện tại muốn khá giả thì bắt buộc phải trung thành với Ðảng. Những kẻ có quan hệ rộng đang lợi dụng sự quen biết để làm giàu, và những kẻ giàu có đang lợi dụng đồng tiền của mình để mua sự che chở từ chính quyền. Kết quả là cách biệt giữa giàu và nghèo ngày càng tăng. Con số chính thức không cho thấy vấn đề này nhưng nó có nguyên nhân tại sao. Hệ số Gini của Việt Nam, một phương pháp thông dụng để đo lường sự bất bình đẳng, tăng từ 0,33 lên đến chỉ 0,36 từ năm 1993 đến 2006 - gần bằng với những quốc gia châu Âu. Nhưng dữ kiện này chỉ dựa trên những cuộc điều tra nhỏ - chỉ 5.000 người trong năm 1993 - và đã bỏ qua rất nhiều những người nghèo khổ nhất: giới nhập cư với đồng lương thấp. Nó cũng đã sử dụng thông tin cũ về cách phân loại các khu vực nông thôn và thành thị - những quận huyện từng là nông thôn giờ đây đã trực thuộc vào thành thị - và vì thế đã không nắm bắt hoàn toàn sự bất bình đẳng thực sự giữa đời sống tại các làng xã và thành phố [24]. Những phương pháp phân tích có cơ sở hơn đã cho thấy một hình ảnh khác. So với những gia đình khá giả hơn, những gia đình nghèo đã hưởng phúc lợi ít hơn trong những chương trình cắt giảm suy dinh dưỡng và tỉ lệ trẻ sơ sinh tử vong. Một phần ba số trẻ em nghèo bị thiếu cân so với chỉ 5 phần trăm trẻ em khá giả. Nên nhớ rằng tại Việt Nam, "mức nghèo đói" nằm trong khoảng 15 Mỹ kim một tháng. Những ai có thu nhập cao hơn con số này sẽ không được xếp hạng "nghèo". Một vấn đề nghiêm trọng hơn là đa số của cải tại Việt Nam thì được cất giấu kỹ, thường là vì có được qua những con đường mờ ám. Khoảng cách giữa những người trên đỉnh và dưới đáy ngày càng rộng hơn.
    Cho đến gần đây, Việt Nam đã phân phối nguồn lợi nhuận từ tăng trưởng đồng đều hơn so với các quốc gia láng giềng. Ðịnh hướng xã hội chủ nghĩa của Ðảng vẫn còn mang một ý nghĩa nào đấy. Nhưng trong tương lai, việc phân phối của cải có nghĩa là lấy tài sản từ những người ủng hộ Ðảng mạnh mẽ nhất. Liệu họ có khả năng tự từ chối con cái mình và bắt chúng phải giao lại của cải qua việc đóng thuế để mang phúc lợi cho những người dân nghèo ở các tỉnh vùng sâu? Ta hãy đợi xem. Bên ngoài Hà Nội, Công ty Thiên Ðường Bảo Sơn đã xây dựng một khu vui chơi. Công ty này được mở rộng từ Khách sạn Bảo Sơn ở trung tâm Hà Nội, sở hữu bởi gia đình một lãnh đạo Ðảng, bao gồm một khu vực tái tạo khung cảnh Hà Nội xưa: những ngôi nhà ngói trệt và đường phố lát gạch. Ở đây khách có thể mua vé để được ngồi trên những chiếc xe kéo. Những chiếc xe do người kéo từng được những người cách mạng Cộng sản trước đây xem là biểu tượng bóc lột của thực dân và đã cấm lưu hành sau khi chiếm chính quyền. Ngày nay, con cháu của họ, giới giàu có mới của Việt Nam, đang cưỡi lên những chiếc xe này. Câu hỏi đặt ra là: "Họ sẽ mang cả đất nước này đi theo?"
    Hết chương I
    Chú thích:
    15. Jonathan Picus và Vũ Thành Tự Anh, "Việt Nam: con hổ trong cơn khủng hoảng", Bình luận Kinh tế Viễn đông, 05.2008.
    16. "VinaShin ngượng ngùng khi chiếc tàu Graig Handymax bị rỉ", Lloyd's List, 10.04.2006.
    17. David Papice, "Sợ phải bay: tại sao tự đổi mới lại quá khó khăn đối với Việt Nam?" Báo cáo trình bày tại Hội nghị Bàn tròn Cấp cao lần 4 - Trợ giúp trong việc thẩm định 20 năm của Dự án Ðổi mới ở Việt Nam, Hà Nội, 15-16.06.2006
    18. Scott Cheshier, Tập đoàn Nhà nước, Bất ổn Tài chính và Công nghiệp hoá tại Việt Nam. Báo cáo Trao đổi về Chính Sách UNDP, Hà Nội, 2009.
    19. Cùng nguồn đã dẫn.
    20. Trích dẫn từ Scott Cheshier, Scott Roberson và Bill Stoops, "Lĩnh vực Công ty Nhà nước: Thách thức Lớn nhất của Việt Nam, Tiêu điểm Việt Nam", Tháng Tám/Tháng Chín 2008. Dragon Capital, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.
    21. "Việt Nam công bố cơ cấu pháp luật về hoạt động của các tập đoàn nhà nước", báo Nhân Dân 15.09.2008.
    22. Katariina Hakkala và Ari Kokko, Lĩnh vực Nhà nước và Tư nhân ở Việt Nam. Báo cáo Làm việc 236, Học viện Nghiên cứu Nhật bản châu Âu, Ðại học Kinh tế Stockholm, 06.2007.
    23. D.C. Nguyễn, A.T. Phạm, V. Bùi và D. Dapice, Tại sao các Tỉnh phía Bắc không Phát triển nhanh hơn? Hà Nội: Học viện Quản lý Kinh tế Trung ương và Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc, 2004.
    24. Jonathan Pincus và John Sender, "Xác định con số đói nghèo ở Việt Nam: ai đếm?", Tạp chí Nghiên cứu Việt Nam, Bộ số 3, số 1, tr. 108-50.
    (còn tiếp)
    thay đổi nội dung bởi: bilu, ngày 05/05/2010 lúc 10:57 AM

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
About us
Xin đón chào bạn đến với trang Web của xứ Quảng, trang web của toàn thể những người con của xứ Quảng lưu lạc trên khắp những nẻo đường năm châu...

Mọi liên lạc xin gởi về => đây