Warning: preg_replace(): The /e modifier is deprecated, use preg_replace_callback instead in ..../includes/class_bbcode.php on line 2958

Warning: preg_replace(): The /e modifier is deprecated, use preg_replace_callback instead in ..../includes/class_bbcode.php on line 2958
Galang Trong Ký Ức - Page 14
Trang 14/14 đầuđầu ... 4121314
kết quả từ 261 tới 272 trên 272

Ðề tài: Galang Trong Ký Ức

  1. #261
    không biết...nay mới hỏi, có ai nhận ra được không?


  2. #262
    Galang, Hòn Đảo Thần Tiên
    Tác giả : Trương Tấn Thành, WA
    Tác giả là cư dân Lacey, Washington State, tốt nghiệp MA, ngành giáo dục năm 2000, từng là nhà giáo trong ban giảng huấn tại trường dạy người da đỏ và giảng viên tại Đại học cộng đồng SPSCC, Olympia, WA. Ông là tác giả đã nhận giải thưởng danh dự Viết Về Nước Mỹ năm 2005. Bài viết mới của ông là một hồi ức dễ thương về đảo tị nạn Galang 2, với lời ghi “để nhớ hai người bạn đã đưa tôi đến Galang, Hải quân Trung uý Đạt và Hoa.


    * * *

    Buổi sáng sớm hôm nay tôi lái xe ra sân vận động gần nhà để đi bộ hít thở không khí trong lành. Đi bộ tại đây, tôi thường hay bước qua cái mô đất cao để băng xuống con đường nhựa ở phía bên kia sân. Khi đi lên phía trên mô đất có cỏ cao hoa dại làm tôi trực nhớ tới ngọn đồi ở ngoài khu Kiểm Dịch trên đảo tỵ nạn Galang ngày nào.

    Ngày ấy đã lâu lắm rồi, phải là cuối năm tám mươi tám thì phải. Khi tàu vượt biển mang số hiệu SG 169 của chúng tôi tấp được vào đảo Galang ở Indonesia. Trưa hôm sau cả tàu được chở vào trại tỵ nạn Galang 2 rồi đưa vào khu Kiểm Dịch chờ phân phối trại ở và làm danh sách lãnh thực phẩm. Khu Quarantine hay khu Kiểm dịch là nới đầu tiên ngươì tỵ nạn tới đảo phải vào để kiểm tra sức khoẻ và bệnh dịch. Đó là một khu rộng có sân trống ở chính giữa và có chừng sáu bảy dãy nhà trại, chung quanh có vách tôn bao bọc và một cổng duy nhất có cảnh sát trại kiểm soát sự ra vào. Lúc tôi ban đầu ở trong khu thì lại không thấy có cảnh sát dù cổng lúc nào cũng đóng.

    Vào thời điểm này làn sóng vượt biển đang xuống đụng đáy nên khu trại barracks bị hoang phế cỏ mọc cao tới đầu người.

    Một buổi sang tôi thức dậy sớm, không kềm được sự tò mò, tôi leo rào ra ngoài để lên ngọn đồi trước mặt. Trong không khí sớm mờ sương, tôi thấy mình lạc vào một nơi hoang dã đầy cỏ và hoa dại. Một lọai hoa có bông trắng nho nhỏ rất xinh mọc trắng cả đồi. Trong sương sớm mờ mờ của không khí lạnh thật là huyền ảo như cỏi thoát trần. Trong cái hứng khởi của một người vừa thoát khỏi được địa ngục trần gian, tôi hái một nắm bông nhỏ đó để đem vào trại làm quà tặng cho cô bạn gái cùng chuyến.

    Sau đó chừng một tháng chúng tôi được thả cổng đi lại tự do trong khu Galang 2 và thưởng thức nhạc cũ trước 75, hút thuốc lá có mùi vị rất đặc biệt hiệu Garam của Indonesia trên một quán cà phê rất trữ tình vào ban đêm, Quán Cà Phê Trên Đồi. Những đêm trăng thanh gió mát mà ngồi uống cà phê trên đồi dưới ngọn đèn màu mộng ảo sau những năm trường gian lao trên con đường vượt biển thật không còn bút mực nào tả được nỗi hạnh phúc tuyệt trần này. Mọi khổ ải trong qúa khứ tưởng như tan biến hết.

    Tại Galang, thường có ông cha tên Pát Mô và ông mục sư Zuni vào trong khu để uỷ lạo bà con trong thời kỳ còn bị hạn chế đi lại.Còn khi đã được xả ra thì tôi mới được biết là trên đảo có ngôi chùa rất to nằm trên đồi trông ra biển thật là nên thơ.

    Thời đó đường lên chùa có cây cầu ván bắc qua rãnh sâu rồi bứơc lên những bậc thang lót ván tới cổng Tam Quan. Qua cổng, bước thêm nữa là lên tới chùa.Đứng từ dưới ở đầu cầu nhìn lên cổng Tam Quan và ngôi chùa đứng sừng sững uy nghiêm trên ngọn đồi thật không khác gì cảnh u tịch trong phim ảnh thời xưa. Những ngày rằm và nhứt là Ngày Tết, Phật tử đi viếng chùa đầy chật, khói hương nghi ngút.Con đường bậc thang dẫn lên chùa đông nghẹt thiện nam tín nữ trong quần aó mới đẹp lòng hân hoan đi lễ Phật trong bầu không khí của Tự Do.

    Đứng từ chùa tôi nhìn ra biển ở xa xa lòng dâng lên cảm giác buì nguì khi nhớ lại bao người thân yêu của mình còn lại chốn hắc ám ở quê nhà. Xin cảm ơn những ai đó đã tới đảo này trước và bỏ công của dựng lên chùa và nhà thờ tôn nghiêm để kẻ đến sau được có nơi thờ phượng.

    Rời chốn tôn nghiêm người trên đảo còn có nơi để hưởng đời sau những năm trường bị bầm dập vì xả nghĩa.Tôi muốn nói đến “đại lộ Tự Do – Catinat - Nhỏ” của Galang 2.

    Đại lộ Tự Do Nhỏ [TDN] này hai bên có nhiều quán cà phê có TV, quán bán thức ăn, lò làm bánh mì, cửa hàng bán quần áo và vật liệu gia dụng vân vân được người bán lấy từ thành phố Pinang ở đảo kế bên về.

    Kể từ khi tàu vượt biển của chúng tôi đến Galang thì bắt đầu từ năm 86 trở đi, Galang phải nói là sống lại với làn sóng vượt biển bùng dâng lên cao mãi cho đến đầu năm 92, lúc tôi rời đảo. Số người vựơt biển gia tăng chừng nào thì Đại lộ TDN này càng trở nên phồn thịnh bấy nhiêu.

    Các hàng quán mở cửa bán từ sáng sớm cho đến lúc giới nghiêm lúc 11 giờ khuya. Mỗi tối cuối tuần tôi cùng bạn bè chiếm một chỗ ngồi trong quán cá phê có cái TV to nhất để xem phim Cô Gái Đồ Long rồi sau đó là bộ Thần Điêu Đại Hiệp, có phụ đề Anh ngữ, được tiếp vận có lẽ từ Singapore. Sau đó rủ nhau đi ăn cháo gỏi gà nấu ngon không kém gì ở vỉa hè Saìgòn ta khi xưa. Muốn uống bia? Có ngay Heineken. Muốn ăn chè? Thì có quán chè đủ loại, vân vân và nhiều nữa!

    Lúc đó tôi là “con dì Phước” nên ngoài việc đi dạy thiện nguyện cho chùa và các hội đoàn, tôi kiềm sống bằng nghề dạy kèm Anh ngữ cho những người may mắn có thân nhân ở Mỹ, Canada… gởi đô la tiếp tế. Ngoài ra tôi có được cô bạn gái cùng chuyến mở cửa hàng bán quần áo nên cũng được hưởng lây những tiện ích trong cuộc sống hằng ngày.

    Tuy hàng quán cất bằng cây rừng lợp tôn, phủ bạt nhưng ban đêm đèn điện sáng trưng, người đi lại tấp nập, nhạc mở lên làm tưng bừng cả một khu của Galang 2.

    Nói đến những cái vui, cái phồn thịnh của Galang 2 mà không nói tới bải biển thì là một thiếu sót lớn.

    Đêm xuống khi bờ biển vắng chỉ còn anh và em đùa sóng
    Khi mặt trời đã lặn xuốn nữa chân trời
    Màu đỏ ối nhuộm cành dương xanh đang xì xào trong gió
    Nhìn lại chỉ còn hai ta và mây nước
    Không biết là mình đang ở cỏi nao?

    Bãi biển Galang 2 có bờ cát trắng bằng phẳng tuyệt đẹp trải dài với những cội dương già vi vu trong gió biển. Đối với tôi thì đây là một bãi biển đẹp nhất trần gian! Từ căn trại tôi ở đi bộ ra tới bãi biển khỏang hơn nửa tiếng đồng hồ. Con đường dẫn ra biển có vách đất đá đỏ hình thù kỳ dị với cây cỏ mọc đầy, hoang dã thiên nhiên. Con đường quanh co mà phong cảnh thay đổi từng lúc gây cho người đi đầy thích thú quên cả mệt nhọc trên đường. Khi gấn đến biển thì không gian thay đổi hẳn. Trong không khí có mùi mặn trong lành từ biển đưa vào làm mọi người thêm nôn nóng.

    Khi tới biển thì trước mặt là biển xanh, bãi cát trắng tinh trải dài và có những cội dương già rải rác trên bờ xen với cây cối xanh tươi. Những buổi đi picnic ở biển như vậy là cả như một chuyến nghỉ hè đầy thích thú mà tôi có thuở xưa. Mọi người chia ra từng nhóm nho, tìm những nơi mình thích, trải vải nhựa bày thức ăn ra rồi thay quần áo túa ra để tắm biển.

    Sau biết bao năm trời khốn khổ vì tù tội và lao đao với cuộc sống vô vọng sau 75, tôi thấy mình thực sự sống lại và trẻ lại với những chuyến đi biển này. Tôi không có may mắn để được biết tuyệt đẹp của bãi biển Nha Trang đến như thế nào nhưng đối với tôi, bãi biển Galang không kém gì Cote dAzur lừng danh thế giới.

    Ngoài ra Galang còn có những chứng tích lịch sử như Miếu Ba Cô, nơi để tưởng bái ba người con gái bất hạnh tự tử vì cái nhục bị bọn hải tặc Thái cưỡng hiếp. Hay là khu nghĩa trang “Galang 3”, nơi an táng những ngươì xấu số đã qua đời trên đảo.

    Một trong những hình ảnh kỳ thú tại Galang 2 là “Cửu Trùng Đài” được tạo nên với cây rừng trên đảo. Người dựng nên là anh Lộc, bạn cùng đơn vị của tôi. Với lòng ấp ủ từ lâu, khi đến đưọc Galang, anh và những người đồng đạo Cao Đài đã đốn cây rừng về dựng nên một cửu trùng đài để hành đạo. Công trình đầy ngoạn mục này chắc chắn là không thể nào đứng vững với thời gian nhưng trong tâm trí những ai ở đảo thời đó đều không bao giờ phai nhạt.

    Rồi có những đêm sao thật sáng, trăng thật trong, bước dạo trên con đường cát trắng hay nằm trên thảm cỏ, nhìn lên bầu trời đen như nhung được rải đầy những hạt sao lóng lánh để biết là mình đang được hưởng cái quý giá của Tự Do, bõ công mạo hiểm vào tù ra khám, chạm mặt với Thủy Thần để rời bỏ chốn a tỳ địa ngục ở trần gian ở đằng sau.

    Dĩ nhiên là cũng có những cái buồn và tiêu cực của Galang nhưng đối với tôi, Galang đến giờ và mãi mãi về sau, vẫn là Hòn Đảo Thần Tiên trong ký ức và trong đời mình./.

    Trương Tấn Thành, WA

  3. #263
    Tham gia ngày
    Jan 2006
    Location
    水村莊
    Bài gởi
    13,469
    Khi nào rảnh, dán hình lên để xem ... Galang ... nay ra sao ... nghen sư huynh




    PS. 安洲 ... 曰 ...
    Cho riêng bác Anmota !

  4. #264
    những người đẹp Kim Quang một thời ... nay đã hai ba lứa...nhưng vẫn còn mượt mà ???

    nguoidepgalang.jpg

    dựng lại cổng chùa xưa ...
    congchuakimquang.jpg

    những anh chị nay tóc đã điểm bạc nhưng vẫn vui vẻ trẻ trung như ngày nào 30 năm trước ?
    roichiatay.jpg roichiatay2.jpg

    nụ cười hồn nhiên của thế hệ thứ 2 nhìn ba mẹ chúng đang sống lại những ngày xưa?
    nucuoi.jpg

    những ngày hn qua mau,..,dọn dẹp lần cuối, chia tay ace...sao buồn thế???
    chiatay.jpg

    chuẩn bị sẵn sàng để lửa hồng cháy tỏa...???
    ngoaio1.jpgngoaio2.jpgngoaio3.jpg

    và say trọn đêm nay...?
    say1.jpg
    thay đổi nội dung bởi: bilu, ngày 07/23/2012 lúc 10:27 AM

  5. #265
    Sô hổng thấy dán hình các ông bà đại gia hội nghị bàn tròn, nhâm nhi rịu hê?
    "Your only obligation in any lifetime is to be true to yourself."

    -- Richard David Bach

  6. #266

    Cô Giáo Tỵ Nạn Jenny Ramm

    Bílu hay các nẫu ở Galang có biết cô Jennifer không? mới nhận qua email gửi quí vị xem

    Cô giáo tỵ nạn Jennifer Ramm


    Cô Giáo Jenny đang nhận quà Giáng Sinh do đại diện trạitỵ nạn trao tặng năm 1982.

    Cô Giáo Tỵ Nạn mà tôi và các bạn đề cập tới ngày hôm nay, không phải là cô giáo ở Việt Nam đi vượt biên, sống tạm thời tại các trại tỵ nạn, mà là cô giáo người Úc, từ Úc tới các trại tỵ nạn để dậy tiếng Anh cho những người dân Tỵ Nạn đang sống ở đó.
    Cô giáo người Úc này tên là Jennifer Joy Ramm.
    San ngày Việt Cộng cưỡng chiếm Miền Nam, dân Việt chúng ta đã ào ạt bỏ xứ ra đi tìm Tự Do, vì không thể sống dưới chế độ bạo lực, tù đầy và sự trả thù dã man của bọn Cộng Sản. Cả thế giới dang rộng vòng tay và lòng từ thiện thiết lập những trung tâm tỵ nạn tại các hòn đảo trong vùng Á Châu Thái Bình Dương để chúng ta có nơi tạm trú chờ đi định cư ở các quốc gia khác.
    Trong thời gian tạm trú này, đã có rất nhiều thiện nguyện viên nam cũng như nữ, già cũng như trẻ, ở khắp mọi nơi trên thế giới tới các trại tỵ nạn để giúp đỡ chúng ta tìm thân nhân thất lạc cũng như học Anh ngữ. Một trong những người trẻ đó là cô Jennifer Joy Ramm mà các bạn hữu và các học viên thường gọi cô bằng cái tên ngắn gọn và đầy tình thân:
    "Chị Jenny".
    Jenny là con cả trong một gia đình gốc Anh, sinh sống ở vùng Burra Burri thuộc Tiểu bang Queensland. Đến khi lớn lên, gia đình đã chuyển về Cooroy để cô có thể tiếp tục học bậc trung học ở Noosa.Tốt nghiệp trung học, Jenny được học bổng của chính phủ Liên Bang để tiếp tục học ở Đại Học Queensland.
    Sau khi tốt nghiệp văn bằng Cử Nhân Văn Chương tại Queensland, cô đã xuống Melbourne học thêm để lấy chứng chỉ về Giáo Dục tại Đại học La Trobe.
    Là thành viên của nhóm người trẻ tình nguyện hoạt động ở ngoại quốc “Australian VolunteersAbroad – AVA”, vào năm 1976, cô Jenny được cử đi dậy Anh ngữ tại một trường trung học ở Mukah, thuộc Malaysia. Với giọng nói nhẹ nhàng, vui tươi và thái độ cởi mở, Cô giáo Jenny đã thu phục được nhân tâm của các học sinh và phụ huynh của Mukah, đến nỗi có gia đình đã đặt tên con của họ là Jenny để ghi nhớ thời gian cô dậy học cho các em học sinh tại đây.
    Năm 1979, cô lại được cử đến trại tỵ nạn Ban Vmai ở Thái Lan, để lập ra một chương trình giảng dậy tiếng Anh cho 60.000 người Hmong đang sống ở trại tị nạn này. Để có thể dậy tiếng Anh một cách hữu hiệu, cô đã theo cách thức của các nhà truyền giáo là học tiếng bản địa trước. Jenny đã bỏ ra bốn tháng trời để chuyên tâm học tiếng Thái Hmong cho thật trôi chẩy, rồi sau đó mới dùng chính ngôn ngữ của họ mà dậy tiếng Anh cho họ. Trong vòng hai năm trời, cô đã xây dựng lên một trung tâm giảng dậy với nhiều lớp học, thuê giáo viên địa phương và mua cả một chiếc xe chở hàng nữa.
    Với những kinh nghiệm giảng dậy này, vào khoảng cuối năm 1981, cô đã được Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc mới đi dậy tiếng Anh cho các Thuyền Nhân Việt Nam tại trại Tỵ Nạn Galang, thuộc Indonesia.
    Tại Galang, công vỉệc của Cô Giáo Jenny không chỉ đơn giản là dậy tiếng Anh cho người Việt Nam, cô con phải giúp đỡ họ chuẩn bị cho cuộc sống mới ở các nước Tây Phương, mà ở đó, không những họ chỉ phải đương đầu với sư khác biệt về ngôn ngữ, mà còn cả những khác biệt về phong tục tập quán, cách thức ăn uống và những sinh hoạt hàng ngày nữa. Các học viên của cô, gồm đủ mọi trình độ, đủ mọi lứa tuổi và đủ mọi ý thích. Từ đó, cô Jenny mới chia lớp học ra thành nhiều nhóm khác nhau: Nhóm nhỏ bạo dạn hơn, nói lung tung mà không sợ bị chê là sai, nên học nhớ chữ mau hơn và nói đúng giọng hơn. Nhóm lớn tuổi, trí nhớ kém đi và hay bị mặc cảm nên khó nhớ mặt chữ và giọng đọc cứng hơn. Một nhóm đặc biệt mà chỉ có ở trại tỵ nạn Việt Nam, đó là nhóm trai tráng đã đi lính, bị Việt Cộng bắt đi tù "Cải Tạo" rồi trốn về hoặc được thả về. Nhóm người này đa số biết nói một chút ít tiếng Anh, một số nói rất khá.Họ rất chăm chỉ học và cố gắng nói thật nhiều để cô sửa giọng cho họ.Đối với nhóm cựu quân nhân này và những nhóm lớn tuổi, cách giảng tiếng Anh của cô là kể những câu chuyện về đời sống hàng ngày tại Úc và dậy cho họ những câu đối thoại cần thiết.
    Theo kinh nghiệm dậy học cho người Hmong, ngoài giờ dậy học, Jenny thường hay tới thăm viếng những láng trại của người Việt tỵ nạn để nói chuyện với họ, tìm hiểu cách thức sinh sống của họ và nhất là . . . học tiếng Việt bằng cách . . . nói tiếng Anh với người Việt. Từ những buổi tiếp xúc này mà cô giáo Jenny quen biết rất nhiều bạn bè và biết ăn cơm, biết cầm đũa. Một cô thợ may đã đo và may tặng cho Jenny một chiếc áo dài, cô mặc thử, thấy đẹp quá, về thư viện, cô đã tìm sách đọc thêm, và sau khi biết chíêc áo này được coi là quốc phục của người Việt Nam, cô đã khuyến khích các cô gái Việt trên đảo giữ truyền thống áo dài của mình bằng cách . . . tổ chức một cuộc thi áo dài ngay trên đảo tỵ nạn.

    Cô Giáo Tỵ Nạn tổ chức thi Hoa Hậu Áo Dài mừng xuân Quý Hợi 1983 tại trại tỵ nạn Galang.

    Trong một buổi giảng dậy, cô giáo Jenny để ý thấy có một cậu trai luôn luôn lảng vảng phía ngoài lớp học, nhưng không bao giờ vào dự lớp học của cô.Nghĩ rằng anh này có thể . . . còn ngại ngùng gì đó, nên cô giáo đã đích thân ra mời anh vô lớp để học cho vui, nhưng anh mắc cở đỏ mặt chạy đi nơi khác.Một lúc sau, anh ta lại quay trở lại, nhưng cũng vẫn đứng ở ngoài lớp học chứ không vô trong lớp.Lâu dần, cô không thắc mắc nữa, mà chỉ giảng và đọc lớn hơn để người đứng ở ngoài có thể nghe rõ hơn mà thôi.
    Đến năm 1983, cô giáo Jenny trở về lại Melbourne, tiếp tục dậy tiếng Anh tại Trung Tâm Anh Ngữ Cho Những Người Di Dân Lớn Tuổi (Adult Migrant English Service-
    AMES), tại đây, Jenny cũng vẫn giúp đỡ người dân tỵ nạn Việt Nam bằng cách khuyến khích họ làm những công việc mà họ có khả năng từ hồi ở Việt Nam, và dậy họ nói Tiếng Anh về chính ngành nghề họ có thể làm, muốn làm và đang làm. Cô giáo Jenny thành công ở chỗ, cô có thể nói tiếng Việt, hiểu tiếng Việt, để nghe người Việt nói ra những điều họ muốn biết, muốn học, do đó đã giúp người Việt có hứng thú khi học tiếng Anh và vì thế mà họ học mau hơn, tiến bộ hơn. Jenny lại có sáng kiến tổ chức những buổi barbecue tại nhà của mình, mới các bạn trẻ người Úc và người tỵ nạn Việt Nam cùng tham dự, để cả hai bên hiểu rõ nhau hơn và nhất là để các bạn trẻ người Việt có cơ hội nói chuyện, trau dồi khả năng Anh ngữ của mình. Nhiều cô giáo đã rất ngại ngùng phải dậy học cho đám trẻ thiếu niên đi tỵ nạn một mình, vì các em . . . khó dậy, không chịu tiếp xúc . . . Riêng đối với Jenny, cô không thấy có gì trở ngại cả, vì cô hiểu tâm tình của đám trẻ này, cứ để cho các em tâm sự với cô về những khó khăn của cuộc sống, cô nhờ nhân viên xã hội giải quyết những điều các em mong muốn, rồi sau đó mới dậy học cho các em nhỏ này. Việc quan trọng nhất mà Jenny muốn hướng dẫn họ là, nên đi học trở lại để có kiến thức và có một tương lai tốt đẹp hơn.
    Cũng vì tình thân với người Việt, đã có nhiều người mời Jenny dự đám cưới của họ, và cô rất vui khi được mặc áo dài để bưng mâm ngũ quả đi rước dâu.

    Gia Đình hạnh phúc

    Trong một buổi barbecue mời tất cả các . . . cư dân của đảo Galang, cô giáo Jenny lại gặp lại người thanh niên thường hay lảng vảng ngoài lớp học của cô hồi còn ở trại tỵ nạn. Anh chàng cũng vẫn đứng một mình, tay cầm lon coca xoay qua xoay lại chứ không bắt chuyện với ai. Cô giáo Jenny nghĩ rằng anh này chắc . . . không biết tiếng Anh, hoặc là ít nói, nên đã tới nói chuyện với anh ta.Anh vui vẻ nói chuyện, tự giới thiệu tên là Sơn, hiện đang làm việc cho Australia Post, tại Blackburn Mail Centre. Cô Jenny rất là ngạc nhiên khi biết anh . . . biết nói tiếng Anh, và lại nói khá nữa:
    “Ah! Vì anh biết nói tiếng Anh rồi, nên mới không tham dự lớp học của tôi ở trại tỵ nạn, có phải vậy không?”
    Lại trái với dự đoán của Jenny khi anh con trai trả lời:
    “Không phải vậy.Hồi đó, quả thực tôi dở tiếng Anh lắm.Vì tình trạng chiến tranh, tôi chỉ mới học hết lớp 11 mà thôi. Đến khi Việt Cộng chiếm miền Nam, tôi là con Lính Cộng Hòa nên đâu có được tiếp tục học nữa, tôi phải đi bán hàng với mẹ để kiếm sống cho gia đình, bao nhiêu tiếng Anh tôi học ở trường, tôi quên hết trơn, nên tôi đâu có biết học từ đâu? Thấy cô dậy học, tôi cũng muốn vô học, nhưng thấy mình lớn rồi, vô học không biết một câu tiếng Anh tiếng U nào hết . . . mắc cở với đám con nít lắm . . . nên tôi chỉ đứng ngoài nghe lén mà thôi. Hơn nữa, cô nói tiếng Anh của người Úc . . . khó nghe quá, tôi nghe như là . . . vịt nghe sấm . . . chẳng hiểu cô nói gì hết, thì làm sao mà học?”
    Cô giáo Jenny lúc nào cũng có thói quen nghề nghiệp, cô khuyến khích Sơn:
    -“Anh nói tiếng Anh hay lắm, lại được làm ở Australia Post thì đời sống cũng khá lắm rồi . . . nhưng nếu anh muốn, anh có thể đi học lại, vô đại học học nghành nào mà anh thích, biết đâu lại có tương lai sáng sủa hơn!”
    -“Tôi cũng muốn lắm, nhưng tôi . . . mới học xong lớp 11 chứ chưa tốt nghiệp trung học, làm sao tôi có thể vô đại học được?Hơn nữa, tiếng Anh của tôi chỉ đủ để làm việc thôi, chứ chưa đủ để học đại học đâu.”
    -“Anh đừng lo, tôi có thể giúp anh về phần tiếng Anh, anh sẽ dư sức học. Ở Úc có những trường cao đẳng, gọi là trường TAFE (Technical And Further Education) dành cho những người chưa học xong trung học, tôi sẽ giới thiệu anh với chú tôi, một giáo sư của trường Footscray Institute of Technology (FIT- sau này nhập chung với trường Đại học Victoria University) để chú giải thích cho anh nhiều hơn.”
    Khi về nhà, anh Sơn mới kể lại câu chuyện cho người bạn cùng phòng là anh Lê Hữu Giàu nghe.Anh Giàu cũng khuyên anh Sơn nên đi học để có tương lai khá hơn.
    Thế là anh Sơn đi gặp Giáo sư Douglas Ramm để vấn kế. Ông Douglas làm đúng luật, đã đưa đơn cho anh điền để học thử ba môn học về Civil Engineering xem kết quả ra sao cái đã. May mắn, anh đậu hết cả ba môn toán học này, ông Douglas liền hướng dẫn anh một lần nữa nộp đơn xin học khóa Bachelor of Civil Engineering.
    Thực sự thì Sơn chưa muốn hoàn toàn định cư ở bên Úc, đầu óc của anh vẫn còn hướng về Việt Nam: Khi Sơn còn ở trên đảo Galang, anh đã có nghe về Phong Trào Phục Quốc của Tướng Hoàng Cơ Minh, Sơn định cư tại Úc đúng vào thời điểm Phong Trào Phản Chiến bộc phát rất lớn, Sơn nhớ lời cha dặn là ráng tìm cách gia nhập bất cứ tổ chức kháng chiến nào, để trở về Việt Nam tiêu diệt bọn Cộng Sản, khôi phục lại chế độ Việt Nam Cộng Hòa thân yêu tràn đầy tự do và lòng nhân ái. Do đó, khi được chấp nhận cho học, Sơn phân vân không biết nên lựa chọn con đường nào? Anh đem việc này ra bàn với Jenny.Tiếc thay, cô giáo Jenny chỉ có thể giúp anh trau dồi Anh ngữ thôi, chứ không có khả năng giúp anh về vấn đề này, nên Sơn quyết định không nộp đơn xin học, mà chờ tin để trở về Việt Nam cùng với các bạn bè trong nhóm.
    Buồn thay, tổ chức phục quốc càng ngày càng im tiếng và không có ai liên lạc với anh để nói tới ngày về cả. Sơn đành phải nộp đơn xin đi học và bảo lãnh cha mẹ qua Úc chung sống.
    Muốn tỏ tình với một cô gái đã là chuyện khó rồi, huống chi cô gái này lại còn là cô giáo dậy tiếng Anh nữa, công việc càng trở nên phức tạp và . . . khó khăn hơn.
    Một lần đến nhà Jenny ăn cơm tối, Sơn đem theo cây đàn hát tặng Jenny bản nhạc “Nắng Chiều”:
    “. . . Anh nhớ xót xa dưới tre là ngà
    Gợn buồn nhìn em anh nói: "Mến em!"
    Mây lướt thướt trôi khi nắng vương đồi
    Nhớ em dịu hiền nắng chiều ngừng trôi . . .”
    (Nhạc Lê Trọng Nguyễn)
    Hát xong bản nhạc, Sơn đã hỏi Jenny bằng tiếng Việt:
    “Jenny à . . . nếu tôi muốn nói . . . anh yêu em . . . bằng tiếng Anh, thì . . . làm cách nào để nói?”
    Jenny thích bản nhạc Nắng Chiêu quá, đang lo hát theo, nên không biết mánh của Sơn, cô ngây thơ trả lời:
    “Thì nói . . . I love you . . . dễ mà.”
    Thế là Sơn vừa khẩy đàn vừa nhìn Jenny mà hát câu hát để đời:
    “I love you . . . I love you . . . and I love you . . .”
    Sơn hát đến lần thứ ba thì Jenny mới hiểu, cô đỏ mặt hỏi lại Sơn bằng . . . tiếng Anh:
    “Are you serious?”
    Sơn lại trả lời bằng . . . tiếng Việt:
    “Anh nói thiệt mà!”.
    Sơn tốt nghiệp thủ khoa khóa Civil Engineer của FIT vào năm 1990.Một tháng sau khi cha mẹ Sơn qua định cư ở bên Úc, Jenny và Sơn làm đám cưới. Jenny rành đủ sáu câu về đám cưới Việt Nam, nên cô đòi đủ thứ . . . nào là áo cưới cô dâu, vương miện, bông tai, dây chuyền vàng, ngũ quả, heo sữa và pháo nổ . . . thậm chí cả phong bao lì xì cho đám con nít giữ cửa ở nhà gái khi rước dâu cũng phải có đầy đủ.
    Ba Mẹ của chàng rể Sơn mới từ Việt Nam qua, nghe đằng nhà gái nói tiếng Anh líu lo cứ như là chim hót, chẳng biết người ta nói cái gì, nhưng cũng biết đó là những lời chúc tụng cho cô dâu chú rể.Khi mẹ chồng được mời ra đeo dây chuyền cho cô dâu, thiếu điều bà phải bắc ghế đứng lên mới quàng dây chuyền qua cổ cô dâu Tây được. Đằng nhà gái lần đầu tiên nhìn thấy cô dâu và đám phù dâu mặc áo dài thật là đẹp, thấy người nhà bưng các khay đựng đủ thứ bánh trái, rồi lại được nghe pháo nổ đì đùng khói bay khét lẹt . . . thật là vui . . . vui quá xá là vui.
    Vì tốt nghiệp ưu hạng, Sơn được học bổng của chính phủ để học Master, nhưng việc đầu tiên của người chồng và người con là phải lo làm ăn kiếm tiền lo cho gia đình và phụng dưỡng cha mẹ, nên Sơn đã từ chối học bổng để đi làm với công ty xây cất John Holland, và được cử đi làm việc ở Kuching, Mã Lai.
    Đứa con gái đầu lòng tên Lanna của hai vợ chồng ra đời vào tháng 4 năm 1993, chỉ một tháng sau là Jenny đã được hưởng Mother day lần đầu tiên trong đời.
    Cô gọi điện thoại về Úc chúc mừng mẹ:
    “Chúc mẹ một ngày “Mother day” vui vẻ . . . và cũng một ngày “Mother Day” vui vẻ cho chính con nữa . . . vì con cũng đã là mẹ của bé Lana rồi.”
    Đến năm 1995, em trai của Lana cũng đã chào đời, được ba mẹ đặt tên là Liam (Từ khi Jenny mới bắt đầu mang bầu, hai vợ chồng đã bàn tính suốt chín tháng trời để tìm cách đặt tên cho con, những cái tên nào vừa có sắc thái của Vương Quốc Anh, lại vừa vẫn có vẻ là một cái tên Việt Nam. Lana cũng có nghĩa là Lan và Liam cũng có thể đọc là Liêm.Ông Bà Nội cũng đọc tên các cháu được, mà Ông Bà Ngoại cũng cảm thấy happy khi gọi tên hai đứa cháu của mình.)
    Khi các con đã lớn, và cha mẹ đã có phần già yếu, Sơn và Jenny quyết định xin trở về Úc làm việc. Lana thi đậu vào trườngMac Roberson và tốt nghiệp VCA với số điểm ưu hạng 99.30 nhưng cháu lại không muốn học Y, Nha, Luật . . . mà chỉ muốn theo gót của mẹ, học Art ở Melbourne University, thời giờ rảnh thì cháu . . . đi làm việc thiện nguyện. Còn Liam thì học IT ở RMIT University với ước mơ trở thành . . . tài tử đóng phim, trong khi Jenny thì đi dậy trở lại ở VUT – Victoria University of Technology.
    Lana và Liam được mẹ cho biết gốc gác của mình là . . . dân tỵ nạn Việt Nam, vượt biên tới đảo và được định cư ở Úc, nên lâu lâu, hai chị em đùa dỡn với nhau, Liam đóng vai Việt Nam, nói với chị:
    "Tôi là . . . Vietnamese Boat people . . . tôi không biết nói tiếng Anh . . ."
    Lana đóng vai cô giáo, nghiêm trang trả lời:
    "If you be good . . . I will teach you how to speak English . . ."
    Jenny và Sơn nhìn nhau cười.
    Vào khoảng tháng Ba Năm 2011,trận bão Yasi đã tàn phá hầu hết những trang trại trồng chuối ở Queensland, giá bán chuối ở các siêu thị vọt lên tới con số kỷ lục là $14.00 một Ký, có nơi còn không có chuối để mà bán.
    Sáng sớm ngày Mother' Day năm 2011, ba cha con mặc quần áo đẹp đẽ, trịnh trọng lái xe đi chợ, khệ nệ đem một gói quà thật lớn đưa tặng cho mẹ. Hai chị em cùng la lớn:
    "Happy Mother' Day my dear Mummy".
    Jenny mở gói quà ra: Một nải chuối với năm trái chín vàng óng ánh.
    Jenny sung sướng cười thật tươi, nhưng vẫn cự nự chồng:
    "Chuối mắc lắm, anh mua làm chi cho tốn tiền."
    Lana và Liam lại đồng thanh nói:
    "Chúng con có tiền . . . chúng con mua tặng mẹ."
    Phần của Sơn là một bó hoa đỏ thắm đưa tặng vợ.
    Jenny bị cancer ruột từ năm 2006, coi như đã lành bệnh sau nhiều ca mổ, nhưng đến cuối năm 2011 thì bệnh của cô lại tái phát, qua những vết sẹo còn lại của những ca mổ trước đây. Sơn nghỉ làm suốt ngày luẩn quẩn tại bệnh viện St. Vincent lo chăm sóc cho Jenny. Nhà thương thấy vậy, cho Sơn mướn luôn một phòng để ăn ngủ tại chỗ cùng với vợ.
    Những ngày cuối của cuộc đời, hai đứa con cũng nghỉ học để ở bên cạnh mẹ.
    Lana và Liam nắm tay mẹ mà nói:
    "Mẹ sẽ khỏe lại mà . . . Mother's Day năm tới chúng con sẽ lại mua chuối cho mẹ ăn nữa nha."
    Sơn so lại phím đàn, hát cho Jenny nghe bản nhạc "Bên Kia Sông":
    ". . . Này người yêu, người yêu anh ơi!
    Bên kia sông là ánh mặt trời
    Này người yêu, người yêu anh hỡi!
    Bên kia đồi, cỏ hoa đan lối
    Bên kia núi, núi cao chập chùng
    Bên kia suối, suối reo lạnh lùng
    Là bài thơ, toàn chữ hư vô . . ."
    (Nhạc của Nguyễn Đức Quang.)
    Cô Giáo Tỵ Nạn Jenny Ramm ra đi vào ngày 10 01 2012 với tuổi đời 58 còn rất trẻ trung, để lại chồng và hai đứa con.
    Từ bốn phương trời, những người dân Việt tỵ nạn ở đảo Galang trước đây đã được cô giáo Jenny dậy học tiếng Anh đã gởi thơ chia buồn đến cho gia đình:
    "Jenny . . . chúc chị ra đi bình yên . . . Tên của chị, hình bóng của chị, tiếng Anh của chị dậy . . . sẽ không bao giờ phai nhòa trong trí óc chúng tôi . .

    Cô Giáo Tỵ Nạn Jennifer Joy Ramm, đã đem tất cả lòng nhiệt thành và tuổi trẻ của mình ra để phục vụ người tỵ nạn khắp bốn phương trời, nhất là người tỵ nạn Việt Nam
    (Hình chụp tại trại tỵ nạn Galang, Nam Dương.)

  7. #267
    Tham gia ngày
    Jan 2006
    Location
    水村莊
    Bài gởi
    13,469
    Cô Giáo Miền Xuôi ...


    Tui không nhớ mặt vì lúc đó ... thằng Tây nào cũng giống y chang thằng Tây nào. Có Trời mà biết.

    Trong trại tỵ nạn tui chỉ nhớ được duy nhứt hai khuôn mặt Tây mà dạy học đó là anh chàng Mike cao lều nghều bên CVC và một bà giáo ... thiệt mập bên World Relief. Bà giáo này cũng được bà con mình ... tặng chiếc áo dài và đó là lần đầu tui thấy ... Tây mặc áo dài Ta

    Tuy nhiên, nếu anh BL có gặp thì ... chéc tui cũng đã có dịp ... diện kiến dung nhan

    RIP Cô Giáo Miền Xuôi ! Cầu chúc cô ra đi bình an ... Những mảnh đời tỵ nạn, những kẻ nậu nguồn luôn luôn nhớ ơn những người như cô ... Một hơi ấm của tình đồng loại ... chắc chắn rằng nó cao cả hơn nhiều so với những kẻ đã đòi hỏi chính quyền Nam Dương đục bỏ tấm bia của tượng đài tỵ nạn Galang. Và chắc chắn người ta sẽ nói và viết lịch sử của nước Việt không có khoảng thời gian đó ...


    thay đổi nội dung bởi: PDK, ngày 06/14/2013 lúc 09:01 PM

    PS. 安洲 ... 曰 ...
    Cho riêng bác Anmota !

  8. #268
    các thầy cô giáo đã đến trại Galang làm thiện nguyện đều rất hiền lành và dễ mến...không những họ rất tôn trọng và luôn tạo điều kiện mà còn tích cực tham gia để duy trì văn hóa Việt .

    @PDK: đài tưởng niệm bị đục bỏ, nay đã được phục hồi... Galang bây giờ trở thành một địa điểm du lịch không những cho người Việt mà còn cho gia đình các cựu viên chức cao ủy, các thiện nguyện viên, các thầy cô giáo...từ khắp nơi trên thế giơ'i và ngay cả người Nam Dương.

    kristin_Tregillus.jpg
    Cô giáo Kristin Tregillus từ Mỹ

    Eva_Godde.jpg
    Cô Eva_Godde từ Canada

    evelyn_marimon.jpg
    cô giáo Evelyn Marimon

    aodai.jpg
    mike.jpg
    Mike, quản lý chương trình dạy tiếng Anh tại trại

    daituongniem3.jpgbiatuongniem.jpg
    đài tưởng niệm đã được phục hồi


    humanity1.jpghumanity2.jpg
    một tượng đài mới được tạo dựng bởi họa sĩ Nguyễn Văn Tuyên
    thay đổi nội dung bởi: bilu, ngày 07/15/2013 lúc 01:02 PM

  9. #269
    cô giáo Emmy và anh bạn ngày nào của chúng ta !!!

    Attached Images Attached Images

  10. #270
    Mới đó mà đã 32 năm rồi. Ai cũng còn nhiều tóc, trừ vị giáo viên Tây
    Cảm ơn bác BL với nhiều tin cập nhật và hình ảnh xưa.
    "Never argue with an idiot. He'll drag you down to his level and beat you with experience" - Unknown

  11. #271

    Ba mươi năm một tình bạn !!!

    Ba mươi năm một tình bạn !!!


    Về VN lần này, sẵn dịp mình dẫn vợ con ghé thăm lại trại tị nạn Galang. Nó là một hòn đảo nhỏ trong vạn hòn đảo khác của Nam Dương. Hòn đảo xa xôi, hẻo lánh, bé bỏng cách rất xa thủ đô Jakarta của Indonesia, nhưng mảnh đất này luôn canh cánh suốt cuộc đời của mình từ ngày ấy, từ ngày đứa con "bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh" lạc bước nơi đất lạ xa người. Nó là quê hương thứ hai đã dung dưỡng mình hơn một năm trời. Chỉ hơn một năm trời nhưng mình đã lớn lên và trưởng thành từ đó. Nó đã dạy cho mình biết bao bài học về tình người, tình con người hay tình đồng loại. 30 năm trời...mình đã may mắn chứng thực những mối tình bạn tuyệt vời từ đây...

    Gần 30 năm trước một cậu bé làng quê Nam Dương 12 tuổi một cách hồn nhiên vui chơi kết bạn cùng cậu bé tị nạn người Việt cùng lứa tuổi trong nhóm của mình. Cậu bé Việt học tiếng Indonesia(hay Nam Dương) từ cậu bé Nam Dương và ngược lại cậu bé Nam Dương đã học tiếng Việt từ cậu bé Việt này. Cậu bé Nam Dương tên là Abu. Cậu bé người Việt tên là Hùng mà tụi mình thường gọi là Hùng Tề Thiên vì cậu ta đóng vai tề thiên( khỉ ) cho đội lân thiếu niên của nhóm mình. Gần 30 năm sau, những cậu bé 12 tuổi ấy đã thành những chàng trai lực lưỡng, phong trần...của lứa tuổi 40. Từ trời Âu xa xôi, Hùng đã trở lại Galang cùng Abu sửa sang lại đền miếu và giúp đỡ lại những người dân Nam Dương địa phương, nghèo nhưng hiền lành tốt bụng.
    May mắn thay, tình cờ trong lần thăm viếng này đi cùng với cô phụ tá Cao Ủy Trưởng đã làm việc với trại tị nạn hơn 30 năm qua,cô ta đã nhận ra Abu và mình đã gặp lại cậu bé ấy. Abu rất mừng, nói tiếng Việt rất sỏi...và say sưa kể lại những cuộc nhậu say xỉn trong chuyến đi thăm Việt Nam mới đây của anh ta về miền Tây. Trong điện thoại di động của Abu chứa đầy nhạc Việt, và anh ta kể rằng anh ta cho những đứa con của anh ta nghe cả nhạc Việt...

    abu.jpg
    Abu

    hungtethien.JPG
    Hu`ng tề thiên
    hungtethien2.jpg
    Hu`ng tề thiên 30 năm trước

    abuvahung.JPG
    Abu và Hùng tề thiên sơn sửa lại miếu 2 cô

    Và cũng trong chuyến đi này, mình gặp và đi cùng với 3 cô giáo người Nam Dương. 30 năm trước, họ là những cô gái trẻ chỉ trạc tuối mình còn đang hay vừa học xong đại học. Họ từ những thành phố khác nhau của đất nước Indo rộng lớn, người từ Jakarta, ke từ Bandung...đã gặp nhau tại hòn đảo Galang xa xôi, hẻo lánh "rừng thiêng nước độc" nhưng đầy ắp tình người này trong vai tro những cô giáo thiện nguyện dạy tiếng Anh và văn hóa tây phương cho người tị nạn. Họ đã trở thành những người bạn thân từ ấy.
    30 năm, ai cũng đã lập gia đình, có cuộc sống riêng, mỗi người mỗi nẻo ...nhưng hôm nay sau 30 năm tại hòn đảo "thiêng" này họ đã hẹn gặp nhau, cho một tình bạn... tuyệt vời ?

    BL July 2013

    abu_chandra2.JPG
    Abu và cô Chandra (nguyên phụ tá Cao Ủy Trưởng)

    ruby_enny_safrina2.jpg
    30 năm trước/30 năm sau (Enny, safria, Ruby)

    bentau.jpg
    be^'n tầu, 30 năm trước, những dòng nước mắt chia tay

    cautau.jpg
    be^'n tầu 30 năm sau, xa xa là cây cầu mới nối trung tâm tỉnh Batam với Galang

    benhviengl1.jpgbenhviengl2.jpg
    Bệnh viện Galang 1 và 2

  12. #272
    thay đổi nội dung bởi: nước mặn, ngày 03/19/2019 lúc 10:27 PM
    "Never argue with an idiot. He'll drag you down to his level and beat you with experience" - Unknown

Trang 14/14 đầuđầu ... 4121314

Similar Threads

  1. Thơ cổ
    By Cổ Lũy in forum Thơ Sưu Tầm
    Trả lời: 6
    Bài mới gởi: 11/17/2004, 09:07 AM
  2. Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 11/10/2004, 09:04 PM
  3. Ngoà hiên...giọt mưa thu...Đọc thư nhà
    By anmota in forum Lịch Sử và Con Người
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 10/23/2004, 12:18 AM
  4. Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 02/21/2004, 03:14 PM

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
About us
Xin đón chào bạn đến với trang Web của xứ Quảng, trang web của toàn thể những người con của xứ Quảng lưu lạc trên khắp những nẻo đường năm châu...

Mọi liên lạc xin gởi về => đây