Warning: preg_replace(): The /e modifier is deprecated, use preg_replace_callback instead in ..../includes/class_bbcode.php on line 2958

Warning: preg_replace(): The /e modifier is deprecated, use preg_replace_callback instead in ..../includes/class_bbcode.php on line 2958

Warning: preg_replace(): The /e modifier is deprecated, use preg_replace_callback instead in ..../includes/class_bbcode.php on line 2958

Warning: preg_replace(): The /e modifier is deprecated, use preg_replace_callback instead in ..../includes/class_bbcode.php on line 2958
Galang Trong Ký Ức - Page 2
Trang 2/14 đầuđầu 123412 ... cuốicuối
kết quả từ 21 tới 40 trên 272

Ðề tài: Galang Trong Ký Ức

  1. #21

    Cứu người vượt biển - Hồi ký của Jay K. Elder (I)

    http://www.nguoi-viet.com/absolutenm...er.asp?a=11658
    Cứu người vượt biển - Hồi ký của Jay K. Elder (phần 1)
    Tuesday, October 12, 2004 VU ANH

    Thuyền trưởng Jay K.Elder trên con tàu Challenge sau khi đã vớt hàng trăm thuyền nhân Việt Nam lên tàu (hậu cảnh)

    Thuyền trưởng Elder và vợ trong căn nhà của họ tại San Luis Obispo ngày nay


    (Phần I)



    LTS.- Ðây là câu chuyện thật được trích từ cuốn nhật ký hải hành 1979 của Thuyền Trưởng Jay K. Elder - thuộc Hàng Hải Thương Thuyền Hoa Kỳ, trên tàu tiếp tế và đồng thời là tàu kéo “Challenge”, tại Biển Ðông từ ngày 3 Tháng Hai cho đến ngày 5 Tháng Mười Một năm 1979.

    Câu chuyện thuyền trưởng Elder cứu được hàng trăm người Việt Nam tị nạn vượt biển Ðông được chôn kín cùng với lòng khiêm tốn của người thuyền trưởng đầy lòng nhân ái này. Nhưng một người bạn của gia đình Elders vốn là một cô gái gốc Việt - cô Karen Ngô, cư dân vùng San Luis Obispo, đã khuyến khích thuyền trưởng Elder công bố tài liệu này, chỉ vì nguyên nhân: Nay đã là người thành công vượt bực trong ngành hàng hải, nghĩ lại kỷ niệm thời trai trẻ, Jay K. Elder muốn tìm biết xem những người được ông cứu sống hội nhập với quê hương thứ hai này như thế nào.

    Sau đây là một hồi tưởng của chính thuyền trưởng Jay K. Elder viết bằng Anh ngữ. Chúng tôi tạm dùng đầu đề cho hồi tưởng này là “Cứu Người Vượt Biển”. Vũ Ánh chuyển ngữ sang tiếng Việt.

    VÀO NGÀNH HÀNG HẢI...

    Ở tuổi 25, tôi đã có 7 năm đi biển. Tôi yêu tất cả mọi điều có liên quan đến biển như câu cá, lướt ván, bơi lội và lái tàu kể từ khi tôi còn rất nhỏ. Ông nội tôi thường đem tôi đi câu ở ngoài khơi cách xa cầu tàu San Diego. Tôi khởi sự tự mình tìm cái thú đi câu trên những chiếc tàu thể thao ở ngoài khơi Nam California vào cuối thập niên 1960s. Khi được 9 tuổi, tôi đã năn nỉ mẹ tôi cho đi câu ở các cầu tàu, nơi tôi tôi thơ thẩn rong chơi và đôi khi tình nguyện giúp việc trên những con tàu này. Không còn nghi ngờ gì nữa, những năm tháng của tuổi thơ trong hoàn cảnh đó từng làm tôi chú ý đến thủy thủ đoàn trên những chiếc tàu tôi đã có dịp làm việc tình nguyện và tôi thích được lên rửa những con tàu này vì niềm vui được làm việc giống một thủy thủ hơn là được trả công, nhất là với hy vọng sau này sẽ trở thành một ngư phủ hay một thủy thủ.

    Năm 1973, tôi nhanh chóng ghi tên gia nhập Lực Lượng Tuần Duyên và năm 18 tuổi tôi đã có bằng thuyền trưởng, rồi tới New Orleans để làm việc cho một công ty tàu biển quốc tế phục vụ trong kỹ nghệ khai thác dầu trên biển. Trong thời gian làm việc cho công ty này, tôi được giao trách nhiệm điều khiển một tàu dài 95 feet đóng căn cứ tại Caribbean chuyên chở những tiếp liệu cho những giàn khoan dầu ngoài khơi. Nhưng sau khi làm việc ở đây 2 năm, tôi đã lấy thêm bằng thuyền trưởng của những tàu trọng tải 300 tấn và trở thành người thuyền trưởng trẻ tuổi nhất của loại tàu này. Sau đó, tôi đến Brazil để làm việc trên Ðại Tây Dương và thêm một năm nữa trên Ðịa Trung Hải.

    Tháng Giêng năm 1979, tôi đến Singapore để nhận một công việc. Tôi không hề nghĩ rằng công việc này lại liên hệ đến mối liên lạc quốc tế, luật hàng hải có trách nhiệm với hàng trăm người tị nạn, và phải có những quyết định sống chết đối với số người này. Tôi đáp tại phi trường quốc tế Singapore vào lúc 02 giờ ngày Thứ Ba 23 Tháng Giêng 1979 trên chuyến bay 005 của Hãng Hàng Không Pan Am từ California quá cảnh Hồng Kông. Ðây là lần đầu tiên tôi tới Á Châu vì kiếm được việc làm ở hãng tàu Offshore Logistics International, một công ty tiếp liệu cho các giàn khoan dầu ngoài khơi Singapore.

    Tôi đã từng làm việc tại Caribbean, Nam Ðại Tây Dương và Ðịa Trung Hải trong suốt 6 năm trong vai trò một thuyền trưởng tàu kéo và tiếp liệu cho kỹ nghệ dầu hỏa, chuyên giải quyết vấn đề neo và kéo các giàn khoan trên biển cả. Lúc đó tôi mới 25 tuổi, khỏe mạnh và luôn luôn muốn phiêu lưu. Nhưng điều tôi ít biết tới nhất là chỉ trong vài tuần lễ làm việc tại Singapore, tôi đã dính dấp tới một cuộc “phiêu lưu” làm thay đổi toàn bộ cách suy nghĩ của tôi về những đồng nghiệp, chính phủ cũng như các vấn đề chính trị quốc tế và địa phương, cuộc chiến và đời sống. Tất cả những điều ấy buộc tôi phải có trách nhiệm như một con người và làm những điều đứng đắn.



    Thứ Tư 24 Tháng Giêng 1979, lúc 22 giờ 10 phút

    Trên con tàu Monarch, một tàu kéo cờ Hoa Kỳ dài 165 feet - là loại tàu kéo và tàu tiếp liệu, với vai trò một thuyền trưởng, chúng tôi khởi hành từ phía Tây Singapore và hướng về phía Ðông, rồi Bắc với hải trình 300 hải lý, sóng lớn và gió mạnh, tạo cho tôi vàthủy thủđoàn nhiều khó khăn. Với 300 hải lý, chúng tôi phải mất ít nhất 30 tiếng đồng hồ để tới những giàn khoan ngoài khơi bờ biển Việt Nam.

    Chúng tôi tới nơi vào ngày Thứ Sáu 25 Tháng Giêng 1979 tại những vùng khai thác dầu mang tên “TAPIS”, “BEKOK” và “PULAI”, và tất cả các giàn khoan dầu trong những vùng này đều được điều hành bởi Công Ty Quốc Doanh Khai Thác Dầu Malaysia (MGOC). Esso Production Malaysia (EPMI) hoạt động với tư cách làm khoán cho Công Ty Quốc Doanh Dầu Hỏa Malaysia. Chiếc tàu tiếp tế do tôi làm thuyền trưởng có hợp đồng với Công Ty MGOC. Chúng tôi ở cách Việt Nam khoảng 150 hải lý về phía Nam và cách Malaysia 100 hải lý về phía Ðông trên biển Ðông. Trên tàu chỉ có một người Mỹ thứ hai là viên kỹ sư trưởng, còn lại thủy thủ đoàn 10 người phần lớn là người thuộc các quốc tịch Indonesia, Malaysia, Singapore và Philippines.

    Qua liên lạc vô tuyến với các giàn khoan và những tàu bè khác trong khu vực, tôi được thông báo là hiện đang có một làn sóng những thuyền nhân Việt Nam trong khu vực và chúng tôi phải tảng lờ họ. Tôi thực sự chẳng hiểu chuyện gì sẽ đến với chúng tôi phía trước mặt. Tôi đã nghe trên Ðài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA), Tổng Thống Jimmy Carter ra lệnh cho tất cả những con tàu trưng cờ Mỹ phải giúp đỡ bất cứ thuyền nhân nào mà họ gặp.

    Tôi làm việc trên vùng giếng dầu ngoài khơi vài ngày và quay lại hải cảng Singapore vào ngày 01 Tháng Hai 1979. Tôi không gặp một thuyền nhân Việt Nam nào, ngoài những ngư phủ từ Thái Lan và Singapore. Ngày 05 Tháng Hai 1979, tôi lại phải lên con tàu Challenge cũng dài 165 feet nhận vai trò thuyền trưởng. Tôi đã từng làm việc trên tàu Challenge trong 8 tháng vào năm 1978 cũng với vai trò thuyền trưởng hoạt động trên Ðịa Trung Hải. Chúng tôi thường hải hành từ Bắc Phi, Sicily và thường là tới Malta. Vì thế tôi đã có mối liên lạc tốt đẹp với thủy thủ đoàn trên con tàu này và rất vui mừng được trở lại với họ sau một ít tháng trở về nghỉ ngơi tại quê nhà ở San Luis Obispo, California.

    Tôi cảm thấy giống như tôi trở lại với con tàu cũ của tôi và thủy thủ đoàn quen thuộc. Nhưng trong nhiều tháng tiếp theo đó, chúng tôi phải đi lại rất nhiều lần từ Singapore đến những giếng dầu ngoài khơi nhưng không hề gặp thuyền nhân. Cũng trong thời gian này, thời tiết tốt, thủy thủ đoàn người nào cũng thon gọn. Chúng tôi thong thả câu cá bên cạnh những giàn khoan. Tôi cho rằng Singapore và những giàn khoan dầu này là đất lành và chúng tôi có nhiều cơ hội tìm hiểu văn hóa và tập quán của người địa phương mỗi khi chúng tôi lên bờ. Tôi say mê tìm hiểu Phật Giáo với người kỹ sư trưởng - ông Herb Stinson. Herb hơn tôi 10 tuổi, một người đã lập gia đình với một phụ nữ Thái Lan rất tuyệt vời. Herb và vợ sinh sống tại Thái và cải đạo để từ Tin Lành sang Ðạo Phật. Dưới sự hướng dẫn của Herb, tôi học Phật và thường cùng nhau tìm đến các ngôi chùa ở Thái Lan, Singapore, Indonesia và Malaysia. Tôi cũng tận dụng mọi cơ hội để nói chuyện với các nhà sư Phật Giáo để học thêm về ý nghĩa và những nghi thức Phật Giáo và bỏ nhiều thời gian đọc rất nhiều sách viết về Phật Giáo. Tôi tự tìm cho chính tôi ý nghĩa của triết lý Phật Giáo mênh mông trong đời sống và trong cách sống.



    Hồi ký của Jay K. Elder

    (Còn tiếp)

  2. #22

    Cứu người vượt biển - Hồi ký của Jay K. Elder (II)

    http://www.nguoi-viet.com/absolutenm...er.asp?a=11687
    Cứu người vượt biển
    Wednesday, October 13, 2004 Vũ Ánh

    Hồi ký của Day K. Elder

    (Phần II)



    LTS - Ðây là câu chuyện thật được trích từ cuốn nhật ký hải hành 1979 của Thuyền Trưởng Day K. Elder, thuộc Hàng Hải Thương Thuyền Hoa Kỳ trên tàu tiếp tế và đồng thời là tàu kéo “Challenge” tại Biển Ðông từ ngày 3 tháng Hai cho đến ngày 5 tháng Mười Một năm 1979. Câu chuyện Thuyền Trưởng Elder cứu được hàng trăm người Việt Nam tị nạn vượt biển Ðông được chôn kín cùng với lòng khiêm tốn của người thuyền trưởng đầy lòng nhân ái này. Nhưng một người bạn của gia đình Elders vốn là một cô gái gốc Việt, cô Karen Ngô, cư dân vùng San Luis Obispo đã khuyến khích Thuyền Trưởng Elder công bố tài liệu này, chỉ vì nguyên nhân: Nay đã là người thành công vượt bực trong ngành hàng hải, nghĩ lại kỷ niệm thời trai trẻ, Day K. Elder muốn tìm biết xem những người được ông cứu sống hội nhập với quê hương thứ hai này như thế nào. Sau đây là một hồi tưởng của chính Thuyền Trưởng Day K. Elder viết bằng Anh ngữ. Chúng tôi tạm dùng đầu đề cho hồi tưởng này là “Cứu Người Vượt Biển”. Vũ Ánh chuyển thành Việt ngữ.

    Ngày 27-5-1979 gần giếng dầu Tapis Oil - Biển Ðông

    Cách Nam Việt Nam 150 hải lý

    Vĩ độ 5.30 Bắc

    Kinh độ 104.10 Ðông

    Thời điểm 6 giờ 45 phút...



    Tiếng gõ cửa phòng ngủ của tôi rất lớn và dồn dập khiến tôi giật mình thức dậy thì vừa lúc nghe tiếng la thất thanh của một trong những thủy thủ trên tàu: “Thuyền trưởng, thuyền trưởng! Có người tị nạn, có người tị nạn”. Ðó là Usman, trưởng đoàn thủy thủ. Tôi nhảy vội ra khỏi phòng và chạy tới boong tàu. Tôi tròn xoe mắt và há hốc miệng khi thấy một chiếc tàu nhỏ cặp dọc theo mạn tàu tôi trên chất đầy đàn ông, đàn bà và trẻ em. Thủy thủ đoàn của tôi đứng trên lan can tàu đang cãi nhau với một phụ nữ có thể là phát ngôn viên của nhóm người trên chiếc tàu nhỏ bằng tiếng Trung Hoa pha lẫn với tiếng Anh không thông thạo. Tim tôi bỗng đập nhanh. Tôi cảm thấy còn ngái ngủ, lo sợ và thấy cần trấn tĩnh bằng một ly cà phê.

    Khi lại gần hơn, tôi cố gắng để có thể hiểu hoạt cảnh đang diễn ra. Tôi nghe thấy tiếng một phụ nữ nói bằng thứ tiếng Anh không trôi chảy với Usman: “Máy tàu tụi tôi hỏng, chúng tôi muốn được lên tàu của các ông”. Usman cố gắng giải thích rằng họ không thể lên tàu này được bởi lệnh cấm của Công Ty Quốc Doanh Khai Thác Dầu Malaysia. Tôi can thiệp vào câu chuyện và khuyên họ nên cố gắng tới giàn khoan chỉ cách đây có 10 hải lý. Người phụ nữ cho biết con tàu của họ không thể đi xa như vậy được vì nước đang tràn vào tàu và đang chìm. Tôi nhìn vào vạch ngấn nước trên sườn tàu và thấy rằng con tàu không có vẻ gì là bị nước tràn vào. Người phụ nữ trở nên lo lắng và giận dữ: “Tôi nói láo à, các ông bảo tôi nói láo à. Thôi được, tôi sẽ nhảy xuống biển chết cho các ông thấy tôi nói láo hay không”. Người phụ nữ khóc bù lu bù loa đã làm động lòng 300 thuyền nhân khác trên tàu. Tôi liền xét lại những đánh giá đầu tiên của mình và sợ con tàu của họ mà chìm thật thì nguy to. Sau khi hội ý với thủy thủ đoàn, chúng tôi quyết định cách tốt nhất là để cho họ leo lên tàu chúng tôi. Tôi quay sang nói với người phụ nữ được coi là phát ngôn viên quyết định này và lập tức một làn sóng người từ dưới con tàu ọp ẹp rầm rập leo lên tàu Challenge. Họ cố chiếm một chỗ tốt trên sàn tàu dưới ánh nắng mặt trời. Và bấy giờ chúng tôi đã có một trách nhiệm không thể tránh được đối với 394 người trốn từ Việt Nam trên con tàu bình thường không đủ chỗ chứa cho một nửa số người nói trên.

    Tôi gọi bằng máy vô tuyến cho chủ nhân công ty tôi đang làm việc và báo cáo rằng chúng tôi tôi sẽ bị trễ trong việc cung cấp tiếp liệu cho giàn khoan cũng như chờ những chỉ dẫn xem phải làm gì trong những ngày kế tiếp. Sau đó tôi thám sát dọc theo lan can chiếc tàu tị nạn và thấy rằng, con tàu không thể chìm được. Trong cơn khủng hoảng vì thất vọng không được các tàu ngoại quốc cứu, người phụ nữ phát ngôn viên của nhóm người Việt tị nạn đã cường điệu về về điều kiện của con tàu. Tôi nghi ngờ là máy tàu cũng không đến nỗi nào. Kết quả là tôi phải đương đầu với một tình hình tiến thối lưỡng nan. Công ty của tôi đã ra lệnh rằng những con tàu do công ty thuê bao như chiếc Challenge không được vớt bất cứ người tị nạn nào. Tôi đã vi phạm những chỉ thị của công ty sau khi quyết định là con tàu tị nạn sắp chìm.

    Nhưng nếu con tàu đang bị đắm thì những thuyền nhân trên tàu sẽ được xếp vào diện tị nạn do tàu chở họ bị vỡ và họ sẽ trở thành những kẻ sống sót sau tai nạn hàng hải. Với những điều đang làm cho thuyền nhân Việt lúc ấy, tôi phải đương đầu với sự đe dọa bị chấm dứt khế ước làm việc, nhưng tôi biết chắc rằng tôi sẽ tránh phải đối đầu với cả hai phương diện đạo đức và pháp lý. Luật hàng hải quốc tế đòi hỏi tất cả các con tàu quanh vùng con tàu bị đắm phải đến để trợ giúp những hành khách và thủy thủ đoàn trên tàu ấy. Nghĩ tới chuyện này, tôi không còn lo âu về điểm pháp lý hoặc lo bị đổi đi nơi khác vì những hành động của tôi nữa. Tôi bắt đầu thăm hỏi nhóm người tị nạn đã an toàn trên sàn tàu và thấy rằng hầu hết đều đói, sợ, lo lắng, đau ốm và tuyệt vọng. Lúc đó tôi rất rõ cơ nguy tôi có thể mất công việc mà tôi yêu thích, nhưng đồng thời tôi cũng biết rằng tôi sẽ không phải sống với những chuỗi ngày bị ám ảnh vì đã không làm tất cả mọi điều có thể làm được để cứu những thuyền nhân trong thảm kịch vượt biển Ðông này. Nghĩ thế, tôi liền phái một người tị nạn trẻ nhất trở lại chiếc tàu tị nạn với chiếc rìu chữa lửa và ra lệnh cho anh ta phải chẻ con tàu của họ ra. Hải quân Malaysia sẽ đến vùng này trong chốc lát và con tàu tị nạn cần phải bị nhận chìm vào đúng lúc đó. Tôi ước lượng chúng tôi chỉ có chưa đầy một tiếng đồng hồ trước khi tàu hải quân Mã tới nơi.

    Tôi trở lại phòng chỉ huy và chờ đợi những lệnh khác từ công ty. Một vài giờ sau chúng tôi nhận được lệnh mang những hành khách bất đắc dĩ này tới một con tàu trương cờ Ðức ở gần đó và chuyển tất cả những người tị nạn lên con tàu Ðức, chiếc Spitalathour để con tàu này sẽ mang họ đi giao cho trại tị nạn LHQ trên một đảo thuộc lãnh thổ Malaysia ở phía Tây Nam vị trí tàu chúng tôi lúc ấy. Lý do: Tàu tôi đã được chất một lô hàng cần phải giao cho những giàn khoan và người chủ muốn rằng việc này phải được thực hiện ngay lập tức.

    Khi chúng cặp vào con tàu Spitalahour, tôi bước xuống sàn tàu để giúp đỡ những người tị nạn khốn khổ này lên con tàu mới cho được an toàn. Tôi đan chéo những ngón tay lại với nhau như một dấu hiệu biểu lộ niềm hy vọng của tôi là thủy thủ đoàn trên tàu Ðức cũng sẽ thoải mái và tiếp tục vài trò bảo trợ và bảo vệ nhóm người không may mắn và trải qua biết bao nhiêu gian truân trên Biển Ðông.

    (Còn tiếp)

  3. #23

    Cứu người vượt biển - Hồi ký của Day K. Elder (III)

    http://www.nguoi-viet.com/absolutenm...er.asp?a=11784
    Cứu người Vượt Biển
    Thursday, October 14, 2004 VU ANH

    Hồi ký của Jay K. Elder

    (Phần III)

    LTS.- Ðây là câu chuyện thật được trích từ cuốn nhật ký hải hành 1979 của Thuyền Trưởng Jay K. Elder, thuộc Hàng Hải Thương Thuyền Hoa Kỳ trên tàu tiếp tế và đồng thời là tàu kéo “Challenge” tại Biển Ðông từ ngày 3 Tháng Hai cho đến ngày 5 Tháng Mười Một năm 1979. Câu chuyện thuyền trưởng Elder cứu được hàng trăm người Việt Nam tị nạn vượt biển Ðông đã được chôn kín cùng với lòng khiêm tốn của người thuyền trưởng đầy lòng nhân ái này. Nhưng một người bạn của gia đình Elders vốn là một cô gái gốc Việt - cô Karen Ngô, cư dân vùng San Luis Obispo, đã khuyến khích thuyền trưởng Elder công bố tài liệu này, chỉ vì nguyên nhân: Nay đã là người thành công vượt bực trong ngành hàng hải, nghĩ lại kỷ niệm thời trai trẻ, Jay K. Elder muốn tìm biết xem những người được ông cứu sống hội nhập với quê hương thứ hai này như thế nào. Sau đây là một hồi tưởng của chính thuyền trưởng Jay K. Elder viết bằng Anh ngữ. Chúng tôi tạm dùng đầu đề cho hồi tưởng này là “Cứu Người Vượt Biển”. Vũ Ánh chuyển thành Việt ngữ.



    Nhóm thuyền nhân Việt Nam đầu tiên chỉ lưu lại trên chiếc tàu của tôi khoảng gần nửa ngày, nhưng kinh nghiệm này đã tạo ra một ảnh hưởng sâu sắc trong tôi. Những điều kiện tệ hại và khủng khiếp của những người tị nạn nghèo khổ không may này như sợ hãi, đói, mất ngủ, bệnh, chỉ có một bộ quần áo độc nhất trên người và mỗi người chỉ được một bát cơm nhỏ hàng ngày làm cho tôi cứ khắc khoải mãi về thân phận. Những trẻ sơ sinh và nhi đồng bám chặt lấy mẹ chúng, mặt hốt hoảng và đói lả, khóc rả rích như không bao giờ có thể ngưng được. Khi những người tị nạn cuối cùng được chuyển sang chiếc tàu Ðức, tôi ngạc nhiên khi nhớ lại bối cảnh sinh ra của tôi: Tôi là một thanh niên khỏe mạnh, một thanh niên Mỹ da trắng, được nuôi dưỡng trong một gia đình trung lưu ở Nam California. Tình cảnh của những người tị nạn Việt Nam đẩy tôi vào những nghi vấn sâu thẳm về lý do chúng ta hiện diện trên trái đất này và những vấn đề đích thực của chúng ta là gì? Cuối cùng, tôi nhận biết rằng vì được sinh ra làm người dân Mỹ trong những năm của thập niên 1950s đã khiến tôi được may mắn xếp vào một nhóm rất nhỏ, giàu có thịnh vượng nhất trên trái đất này.

    Ba trăm chín mươi tư người (394) mà tàu tôi vớt được đã từng lênh đênh trên biển nhiều ngày và đã bị hải tặc Thái Lan tấn công. Mỗi nhóm hải tặc này có chừng 4 đến 8 tàu chờ đêm tối mời tấn công những thuyền nhân. Sau khi tấn công họ bắt và hãm hiếp những phụ nữ trẻ và cướp tất cả những vật quí giá mà thuyền nhân mang theo, thường là vàng, nữ trang và tiền. Hải tặc Thái Lan chọn ban đêm mới tấn công vì họ thấy rằng trong đêm tối, những chiếc tàu nhỏ chở người tị nạn dễ trở thành con mồi nhất.

    Chúng tôi đã có nhiều dịp có thể trợ giúp thuyền nhân, nhất là đối với những người bị thương nặng. Phương tiện vệ sinh tối thiểu trên những chiếc tàu nhỏ này cũng không có và tất nhiên công việc vệ sinh hàng ngày của thuyền nhân được thải ra tại chỗ và vì thế thủy thủ đoàn của chúng tôi đã phải dùng khăn và dầu bạc hà mới có thể chịu đựng được để làm công việc trợ giúp của họ. Tôi ngạc nhiên không hiểu tại sao chính cá nhân tôi và những thủy thủ của tôi có thể đương đầu được với vấn đề này và liệu tình trạng còn có thể kéo dài được không nếu càng ngày chúng tôi càng gặp nhiều thuyền nhân hơn. Có những lúc tôi cảm thấy thối chí, nhưng nghĩ đến trách nhiệm đối với con tàu, thủy thủ đoàn và những người hoạn nạn đáng thương, tôi vượt qua được. Nghĩ thế, chúng tôi tiếp tục cứu những thuyền nhân lênh đênh trên biển nhiều lần nữa trong những tháng sau đó.

    Chuyện “phân tích pháp lý” đã phát triển thành một chiến lược để giúp đỡ thuyền nhân trong những tuần đầu giữa những thuyền trưởng các tàu có liên hệ bằng vô tuyến điện hàng ngày với nhau. Chiến lược này giúp chúng tôi củng cố được sự phòng thủ khi phải làm công việc bác ái trên biển cả. Chúng tôi thường đánh đắm những con tàu mỏng manh ọp ẹp của các thuyền nhân để cứu vớt họ lên các con tàu của chúng tôi. Hải Quân Malaysia có tới nơi thì cũng chỉ thấy những mảnh vụn trôi lềnh bềnh và hàng trăm “người sống sót” đã được vớt lên sàn tàu. Có những lúc tàu Hải Quân Malaysia chĩa súng đại liên 50 vào chúng tôi và ra lệnh không được vớt những người tị nạn nữa. Ðó là những giây phút căng thẳng nhất, và đôi lúc cũng làm tôi hơi sợ, nhưng thấy người hoạn nạn thì không sao không cứu vớt được. Tiếng nói của lương tâm vẫn nặng hơn là súng đạn.



    Ngày 10 Tháng Sáu 1979, trên đường về Singapore, Biển Ðông

    Vị trí:

    Cách Nam Việt Nam 300 hải lý

    Cách bờ biển Malaysia 100 hải lý về phía Ðông

    Vĩ độ 3.30 Bắc

    Kinh độ 104.30 Ðông

    Thời Ðiểm: 16 giờ 20 phút



    Chúng tôi nhận ra được một chiếc tàu rất nhỏ chở người tị nạn. Họ xuất hiện với vẻ mặt tiều tụy và dường như đã lênh đênh trên biển nhiều ngày không còn thực phẩm hoặc nước uống. Tôi gọi cho công ty của tôi và yêu cầu cho chúng tôi đón 6 người đàn ông, 11 trẻ em và 8 phụ nữ lên tàu. Lời yêu cầu của tôi bị từ chối và chúng tôi được lệnh chỉ cung cấp thực phẩm, nước cho họ rồi khởi sự trở về Singapore ngay. Công ty đe dọa tôi là sẽ mất hợp đồng cũng như sẽ mất việc nếu như tôi cưỡng lại lệnh trên của họ. Chúng tôi nghĩ ngay đến chuyện đánh đắm chiếc tàu này, nhưng tôi đã lỡ báo cáo tình trạng còn khá tốt của chiếc tàu nhỏ này, một lầm lỗi mà mãi cho tới sau này không bao giờ tôi dám phạm phải lần thứ hai nữa.

    Chúng tôi đã rơi nước mắt khi rời bỏ những thuyền nhân trên chiếc tàu nhỏ với bà mẹ của một trẻ sơ sinh nhìn chúng tôi với đôi mắt thất vọng. Bà mẹ đã không còn sữa cho con bú và đứa trẻ trong tình trạng sức khỏe bết bát. Tôi rất lo âu vì đã không giúp đỡ được những người tị nạn khốn khổ trên chiếc tàu nhỏ này. Tôi dự trù là tàu Hải Quân Mã Lai Á có tới để cứu những người này và sau này tôi ngạc nhiên là Hải Quân Malaysia đã làm điều đó.

    (Còn tiếp)

  4. #24

    Cứu người Vượt Biển - Hồi ký của Jay K. Elder (IV)

    http://www.nguoi-viet.com/absolutenm...er.asp?a=11806
    Cứu Người Vượt Biển
    Friday, October 15, 2004 VU ANH
    Hồi ký của Jay K. Elder

    (Phần IV)

    LTS.- Ðây là câu chuyện thật được trích từ cuốn Nhật Ký Hải Hành 1979 của Thuyền Trưởng Jay K. Elder, thuộc Hàng Hải Thương Thuyền Hoa Kỳ trên tàu tiếp tế và đồng thời là tàu kéo “Challenge” tại Biển Ðông từ ngày 3 Tháng Hai cho đến ngày 5 Tháng Mười Một năm 1979.

    Câu chuyện Thuyền Trưởng Elder cứu được hàng trăm người Việt Nam tị nạn vượt Biển Ðông đã được chôn kín cùng với lòng khiêm tốn của người thuyền trưởng đầy lòng nhân ái này. Nhưng một người bạn của gia đình Elders vốn là một cô gái gốc Việt - cô Karen Ngô, cư dân vùng San Luis Obispo, đã khuyến khích Thuyền Trưởng Elder công bố tài liệu này, chỉ vì nguyên nhân: Nay đã là người thành công vượt bực trong ngành hàng hải, nghĩ lại kỷ niệm thời trai trẻ, Jay K. Elder muốn tìm biết xem những người được ông cứu sống hội nhập với quê hương thứ hai này như thế nào. Sau đây là một hồi tưởng của chính Thuyền Trưởng Jay K. Elder viết bằng Anh ngữ. Chúng tôi tạm dùng đầu đề cho hồi tưởng này là “Cứu Người Vượt Biển”. Vũ Ánh chuyển thành Việt ngữ.



    Ngày 18 Tháng Sáu 1979 gần vùng khai thác dầu TAPIS, Biển Ðông

    Vị Trí:

    Cách Nam Việt Nam 150 hải lý về phía Nam

    Vĩ độ 5.30 Bắc

    Kinh độ 105.10 Ðông

    Thời điểm: 13 giờ 00



    Chúng tôi nhận 345 người Việt Nam tị nạn từ một dàn khoan thăm dò dầu khí Wodeco II. Những người tị nạn này đã từ tàu tị nạn leo lên giàn khoan và nhân viên của giàn khoan không có cách nào ngăn cản họ được. Chúng tôi quay lại dàn khoan vừa kể với 150 kí lô gạo và một ít giấy dầu để che boong phía sau trong lúc sức nóng của mặt trời rọi xuống những người tị nạn không may nói trên với nhiệt độ của vùng xích đạo. Người bếp của tôi - ông Yuen, lãnh nhiệm vụ nấu cơm phát cho trên 350 người tị nạn này, chỉ có cơm và một chút rau xanh. Ông ta nấu cơm từ giờ này qua giờ kia. Yuen đã phải mượn thêm một vài phụ nữ trong số người tị nạn để phụ giúp ông.

    Vấn đề vệ sinh cá nhân là vấn đề cần phải giải quyết ngay. Chúng tôi dùng những vỉ gỗ chất hàng, khoét một lỗ lớn rồi cột chặt vào cọc buộc thuyền cấp cứu, chia ra một bên dành cho phụ nữ, một bên dành cho nam giới. Không có giấy lau cũng như không có xà bông rửa tay, nên phải dùng nước biển thay thế, nhưng cuối cùng thì “có còn hơn không”. Tôi cũng cần nói rõ một điểm là mỗi khi bẻ bánh lái con tàu trên biển, chúng tôi quên khuấy đi rằng mình đã thiết lập một hệ thống tiêu tiểu tạm thời trên thành tàu, nên khi sóng chạm vào thành tàu đã vọt qua những lỗ tiểu tiện khiến cho một bà già ướt hết. Tôi thực sự xấu hổ vì đã bẻ bánh lái vội vã như vậy, thành thử kể từ vụ việc này, chúng tôi tiếp tục cho con tàu quẹo chậm hơn để bảo đảm không làm khổ thêm những hành khách vốn đã quá khốn khổ của chúng tôi.



    Ngày 19 Tháng Sáu 1979.

    Lúc 6 giờ 30 phút



    Với 345 thuyền nhân mà chúng tôi đón ở giàn khoan ngày hôm trước, một chiếc tàu Ðức tên là OSA Jaguar đã cập vào và bỏ thêm 18 người nữa lên tàu chúng tôi theo yêu cầu của chủ nhân công ty tàu biển mà tôi đang làm việc. Như vậy, chúng tôi có tất cả 363 thuyền nhân Việt Nam trên tàu cần phải lo toan cho họ. Nhưng khi ngồi nghĩ lại, tôi hình dung ra cái khó khăn muôn trùng trước mặt: Làm cách nào tôi có thể giúp những người tị nạn nếu như tôi tiếp tục nhận được sự yểm trợ ít ỏi, nhưng nếu có nhận trợ giúp thì nhận từ ai, đó là điều tôi không chắc lắm. Những lúc ấy, tôi cảm thấy sự thay đổi một chút trong tâm hồn. Và cuối cùng, sức mạnh sâu xa về tinh thần đã cho phép tôi làm bất cứ điều gì cần thiết trong bất cứ tình hình nào mà tôi và thủy thủ đoàn của tôi bị đẩy vào.



    Trại Tị Nạn Liên Hiệp Quốc Pulau Tengah Island

    Malaysia Tháng Sáu 1979

    Thời Ðiểm: 10 giờ 00



    Chúng tôi nhận được lệnh qua máy vô tuyến điện phải hướng về trại tị nạn Liên Hiệp Quốc trên đảo Paulau Tengah, Malaysia, cách vị trí tàu chúng tôi 120 hải lý về phía Tây Nam. Chúng tôi không biết chuyện gì sẽ xảy ra một khi chúng tôi tới đảo, vì những tin tức mới đây cho biết chính phủ Malaysia đã tuyên bố là họ không nhận bất cứ một người tị nạn nào nữa. Theo lệnh tôi, thủy thủ đoàn dồn mọi sức lực vào việc thiết lập tiện nghi cho người tị nạn trên tàu. Chúng tôi bơm đầy nước ngọt vào những thùng 55 gallons để cung cấp cho người tị nạn cứ mỗi 4 giờ đồng hồ, và đồng thời thông báo cho người tị nạn hiểu rằng nước chỉ dùng để uống và tắm chứ không được giặt quần áo vì không biết tàu chúng tôi phải săn sóc họ cho đến khi nào. Vì thế chúng tôi phải tiết kiệm nước. Bếp Yuen phải tuyển thêm 4 phụ nữ trong số người tị nạn để làm công việc nuôi ăn chính số người tị nạn trên tàu. Thực phẩm được cung cấp vào lúc 14 giờ và 19 giờ là cháo nấu bằng sữa và gạo. Chúng tôi chỉ đủ khả năng cung cấp một thứ thực phẩm duy nhất này mà thôi.

    Tàu chúng tôi tới trại tị nạn Pulau Tengah vào lúc 01 giờ 30 ngày 20 Tháng Sáu 1979 thả neo và chờ lệnh. Sáng ngay hôm sau chúng tôi gặp khó khăn là không lấy được bất cứ tin tức nào để biết chắc rằng thời gian chờ đợi này là bao lâu và tại sao lại có chuyện chậm trễ trong việc đổ người tị nạn xuống trại.

    Ðến 09 giờ sáng, đại diện Liên Hiệp Quốc và Cảnh Sát Liên Bang Mã Lai lên tàu để đếm số người tị nạn. Phải đếm lại lần nữa vì chúng tôi bị họ cáo buộc giấu một số thuyền nhân. Chúng tôi cãi nhau dữ dội và cuối cùng khám phá ra rằng có một vài người trốn xuống phòng máy để tắm. Tôi yêu cầu Liên Hiệp Quốc cung cấp thuốc men và thực phẩm cho người bệnh vì chúng tôi đã gần cạn tất cả những thứ đó. Nhưng tôi không nhận được sự đáp ứng nào và rất lo ngại chúng tôi sẽ lâm vào cuộc khủng hoảng nếu không được trợ giúp của thế giới bên ngoài. Chúng tôi cũng được báo cho biết không được lên bờ hay rời tàu khi chưa được Quan Thuế và Di Trú Malaysia kiểm tra và cho phép.

    Vào lúc 15 giờ 45 ngày 20 Tháng Sáu 1979, chúng tôi vẫn còn neo tàu để chờ được phép đưa 345 người vào trại, những người này đã trải qua 24 tiếng đồng hồ trên tàu chúng tôi dưới khí hậu nóng bức. Trong khi chờ đợi như thế, tôi nhận được lệnh của công ty là phải trở lại dàn khoan “Nedrill” để đón 342 người tị nạn khác. Tôi báo cho ông Rex Clements-Esso biết rằng chúng tôi không còn chỗ và không còn tài nguyên để nuôi sống hay chữa bệnh cho số người tị nạn này. Phải mất khoảng 20 tiếng đồng hồ nữa mới có thể quay trở lại giàn khoan Nedrill. Tôi tự nhủ rằng những người chỉ huy của tôi tại công ty thật là điên rồ và họ không ý thức được tình trạng bối rối của chúng tôi lúc đó.

    Có một làng chài ở cách chúng tôi 9 hải lý, một vài thủy thủ cùng Kỹ Sư Trưởng Herb Stinson đã tìm cách đến đó khi trời vừa sập tối để xem có kiếm chác được ít hàng tiếp tế nào không. Khi họ trở lại đã mang theo thuốc và thực phẩm. Tôi rất lo sợ là chúng tôi có thể bị phiền nếu như bị bắt gặp lúc lén lút lên bờ trước khi quan thuế của Malaysia lên tàu kiểm tra (tàu chúng tôi trương cờ Hoa Kỳ và thủy thủ đoàn toàn là người ngoại quốc).



    Ngày 21 và 22 Tháng Sáu 1979

    Trên tàu neo tại Paulau Tengah, Trại Tị Nạn Liên Hiệp Quốc



    Không có một đáp ứng nào của Cảnh Sát Liên Bang Mã Lai cũng như của Ðại Diện Liên Hiệp Quốc. Tôi ngạc nhiên không hiểu tại sao họ lại không giải quyết yêu cầu của chúng tôi là cung cấp thuốc men và thực phẩm cho người tị nạn. Ban đêm tôi lại phải lén lên bờ và mua được một bao gạo 100 ký lô và một vài thứ thuốc men. Tôi cũng không quên mua một miếng vàng của một người dân cần tiền dollar. Sau đó tôi đổi vàng ra thành chiếc nhẫn ngọc thạch mà tôi còn mang đến ngày hôm nay như một kỷ niệm về những thuyền nhân, những khó khăn của họ và thời gian tôi trải qua tại Á Châu trong giai đoạn lịch sử khó khăn trong vùng.

    Có tiếng cãi cọ la hét trên boong tàu và khi tôi ra ngoài thì thấy một phụ nữ nhỏ thó ướt mem vừa được vớt lên sàn tàu. Thủy thủ Lin và tôi giãn nhóm người tị nạn chung quanh để chúng tôi có thể làm hô hấp nhân tạo và tiến trình cấp cứu CPR. Người phụ nữ ọc nước biển ra và bắt đầu thở trở lại. Nguyên do khiến cô gái này tự tử vì anh nhân tình của cô tán tỉnh một phụ nữ khác trên tàu.

    Tình hình trên tàu ngày một căng thẳng hơn. Nhiều thiếu niên sốt rét và tôi không có thuốc để cung cấp cho các em. Ðã 48 giờ trôi qua mà lời yêu cầu cung cấp một bác sĩ lên khám bệnh trên tàu cũng không được đáp lại. Sự lo âu làm cho tôi mất ngủ và canh cánh trong về tình hình có thể trở nên tệ hại trước khi những người tị nạn khốn khổ của tôi khá lên được.

    Tôi đã học được một vài điều quan trọng về đời sống và con người trong thời gian gặp khó khăn này. Ðó là, khi người ta cô đọng đời sống vào với nhu cầu không thôi, tất cả vấn đề sẽ chỉ là nơi ăn chốn ở và quần áo.

    (Còn tiếp một kỳ)

  5. #25
    Trích Nguyên văn bởi IceMan
    Ai cũng quen hết Bilu
    Bilu cho IceMan số phone của Trần Dương Việt Nam được không?
    Bilu & IceMan sao mà cứ đụng độ hoài vậy. Ném lựu đạn đi......

  6. #26

    Chơi cha ...

    IceMan,
    Tôi có chơi...vói cha cuả Trần Dương Việt nam.Nếu cần thiết thì tôi hỏi xin số phôn. Hoặc là tôi sẽ gủi cái eMail address cảa Ông Trần văn Chi.cho Ice.
    anmota

  7. #27
    Trích Nguyên văn bởi anmota
    IceMan,
    Tôi có chơi...vói cha cuả Trần Dương Việt nam.Nếu cần thiết thì tôi hỏi xin số phôn. Hoặc là tôi sẽ gủi cái eMail address cảa Ông Trần văn Chi.cho Ice.
    anmota
    Cám ơn chú Anmota
    Nếu tiện cho cháu xin E-mail address của chú Chi

  8. #28

    email của Ngọc Hân công chúa?

    IceMan nói thẳng ra cho rồi :
    chú anmota, nếu tiện cho cháu xin email của Ngọc Hân (công chúa) con của chú Chi.... hic hic hic

  9. #29
    Trích Nguyên văn bởi Sông Trà
    Bilu & IceMan sao mà cứ đụng độ hoài vậy. Ném lựu đạn đi......
    Rồi Bilu ném lựu đạn trước rối đó Sông Trà

  10. #30

    Nữ ..a.!

    Bilu :
    Ông Trần... Khai rằng ông là con cháu nhà ông Trương Định.Quảng...ta.
    Tụi bây coi chừng chứ...cũng là bà con máu mủ ruột thịt...
    Cần tin tức gì hỏi IM.... Dừng hỏi chú nữa...Chú mang " tiếng miệng đời "... Vợ con bây nó chửi chết cha tao !
    Già mà không nên Net.
    amt

  11. #31
    Chọc IceMan chút thôi chú anmota.
    Ngọc Hân con chú Chi là em út ngày xưa sinh họat trong ngành Thiếu Phật tử ở chùa Kim Quang Galang II, Nam Dương. Chú Chi, Ngọc Hân, Việt Nam là đệ tử "guộc" của thầy Quảng Thanh, và IceMan cũng từng một thời "con yêu qu'i" của Thầy Thanh, và cũng từng ăm dầm ở dề ở chùa Kim Quang nên chỉ trêu IceMan còn nuối tiếc cô hàng nước chùa Kim Quang ngày xưa mà thôi

  12. #32

    Ở tù sướng hơn?

    Ở tù để được trả lương, để được coi như có công ăn việc làm...

    http://calitoday.com/news/view_artic...68e6ff7bf2b5de
    Một phong trào “du lịch” kiểu mới từ Việt Nam sang Hồng Kông: Trả tiền để bị xử tù dài hạn!
    Oct 27, 2004 Cali Today News - Theo nguồn tin của UPI từ Hồng Kông mà Cali Today News vừa nhận được vào ngày hôm nay thì những di dân Việt Nam bất hợp pháp đang đến Hồng Kông với hy vọng rằng họ sẽ được bắt nhốt vào tù vì nhờ thế mà họ có ba bữa cơm hàng ngày và được trả lương tối thiểu.

    Anh Nguyễn Văn Hiền, 21 tuổi, vừa bị kết án tù 21 tháng tại một phiên tòa tại Hồng Kông vào hôm thứ ba rồi sau khi anh ta đã bị bắt khi vượt qua một trạm kiểm soát tại biên giới trong khi anh ta trốn phía dưới gầm một chiếc xe truck. Anh ta bị phát hiện có dao và hai viên đạn.

    Hiền là người mới nhất trong số những người thanh niên Việt Nam đến Hồng Kông theo kiểu “tour du lịch hai viên đạn”. Họ phải trả tiền cho một băng đảng trong nước và băng đảng sẽ chở họ sang Trung Quốc, và hướng dẫn họ cách thức trốn sang Hồng Kông với hai viên đạn và một chiếc dao.

    Với vũ khí như trên, người vượt biên kiểu mới này sẽ bảo đảm bị chính quyền Hồng Kông xử tù dài hạn. Nhờ bản án tù này, Hiền sẽ được chỗ ở, thực phẩm miễn phí và “tiền lương” là 50 Mỹ kim/tháng. Để được ở “tù” như mong muốn này, Hiền phải trả 200 Mỹ kim cho băng đảng để được “du lịch” như trên.

    Hiền là “tù nhân mong muốn” thứ tư trong vòng gần hai tháng qua và 3 thanh niên Việt Nam trước đó cũng bị xử từ từ 27 đến 28 tháng.

    Nguyễn Dương

  13. #33

    Mở Cuộc Cầu Siêu, Vớt Vong Trên Biển Thái Lan-Mã Lai

    http://www.vietbao.com/main.asp?nid=78898&catgid=5
    Số: 3496
    Ra Ngày: 28/10/2004
    Mở Cuộc Cầu Siêu, Vớt Vong Trên Biển Thái Lan-Mã Lai
    SANTA ANA (VB) 27-10.- Hòa Thượng Thích Giác Nhiên, Pháp chủ GIÁO HỘI PHẬT GIÁO TĂNG GIÀ KHẤT SĨ THẾ GIỚI hôm nay loan báo lời kêu gọi các hội đoàn và đồng bào tham gia ý kiến để tổ chức "cuộc hành hương vớt vong trên biển Thái Lan và Mã lai" -- dự trù buổi góp ý mở ra ngày 21 tháng 11 tới đây tại phòng sinh hoạt báo Người Việt.
    Người khởi xướng chương trình này, Hòa Thượng Giác Nhiên nói : "ước nguyện ba mươi năm nay chưa thành tựu, nên lần này quyết tâm làm, dẫu chỉ vài chục người người tham gia, tôi cũng thực hiện cho bằng được, bởi cuộc hành hương cầu siêu độ cho chúng sanh dù phải hy sinh tới thân mạng cũng không tiếc!"
    Giáo Hội Phật Giáo Khất Sĩ có trụ sở tân-lập tại góc đường Fairview-Havard St. (Đ.T. 714 - 437 - 9511). Trong một cuộc tiếp xúc tại địa chỉ mới này, Hòa Thượng Thích Giác Nhiên đã công bố bức thư gửi báo chí, các hội đoàn đại diện đồng bào thuộc mọi thành phần và tôn giáo, cùng một tập tài liệu tựa đề "Tấm lòng Từ Ái: Cứu vớt vong linh tử nạn" trong đó có danh sách một số người đã đóng góp cho chương trình vớt vong này với số tiền thu được là 8,430 mỹ kim, được giữ riêng trong trương-mục số 10278 - 21104 của Bank of America.
    Khi được hỏi phác thảo về chương trình "vớt vong" này, Hòa Thượng Giác Nhiên cho hay cuộc hành hương dự liệu sẽ xuất phát từ Thái Lan đi trên các vùng biển Thái, mã lai, Phi luậtTân, HongKong bằng tàu thủy trong thời gian khoảng 15 ngày. Trên tàu luân phiên ngày đêm tụng kinh, trì chú, thuyết pháp, làm lễ qui-y để siêu-độ mọi hương-linh tử nạn trên vùng biển và cả trong rừng sâu núi thẳm sau nửa thế kỷ với nhiều cuộc chiến tranh cùng tai nạn, mà những oan hồn còn vất vưởng chưa đầu thai được!
    Hòa Thượng kể: "chính bản thân tôi sống còn hôm nay là nhờ ở sự bảo hộ của Chư Phật, chư Bồ Tát, các đấng thiêng liêng và các vong hồn chết oan uổng tử. Tôi còn nhớ lúc tàu lênh đênh ngoài khơi, sóng dập gió vùi, chạy lạc vào vùng nước xoáy, bão tố. Trong giờ phút vạn tử nhất sinh, tôi van xin kêu cứu với thần linh và nguyện rằng khi được sống còn chúng tôi sẽ hy sinh giúp đời, nhất là cầu nguyện cho vong linh, các oan hồn sớm được siêu thoát. Tàu chúng tôi nghe "lụp cụp" dưới lườn tàu, được cá Ông nâng đỡ, dìu cập vào bến bãi an lành. Nay chúng tôi tận lực vận động chương trình vớt vong ngoài biển cả với hy vọng siêu độ tất cả vong linh về Tây phượng Cực lạc. "
    (Tin Nguyễn Hiền)

  14. #34

    Hoa Kỳ sắp mở lại chương Trình Con Cái HO

    http://www.nguoi-viet.com/absolutenm...sp?a=14554&z=3
    Hoa Kỳ sắp mở lại chương Trình Con Cái HO
    Tuesday, November 30, 2004 D.P
    WASHINGTON - Bản tin của Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển phổ biến hôm 30 Tháng Mười Một cho hay, ngày mùng 06 Tháng Mười Hai tới đây, Hạ Viện Hoa Kỳ sẽ tái nhóm họp để biểu quyết chung cuộc Ðạo Luật Ngân Sách Tổng Hợp trước khi chuyển cho Tổng Thống Bush ký ban hành. Một điều khoản trong đạo luật này sẽ gia hạn việc cứu xét cho các con cái HO đến ngày 30 Tháng Chín 2005.

    Chương trình cứu xét định cư tị nạn cho con cái HO - thường được gọi tắt là Chương Trình McCain, vì Thượng Nghị Sĩ John McCain (Cộng Hòa, Arizona) đưa ra sau khi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ngưng không cứu xét cho các trường hợp con cái HO đã trên 21 tuổi theo diện tị nạn phụ thuộc để đi theo cha mẹ. Tu Chính Án McCain cho phép định cư các trường hợp con cái này nhưng chỉ cứu xét cho các hồ sơ bị từ chối sau ngày mùng 01 Tháng Tư 1995. Tu Chính Án McCain hết hiệu lực năm 1997.

    Cũng năm đó, Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển vận động Dân Biểu Christopher Smith (Cộng Hòa, New Jersey) gia hạn Tu Chính Án McCain thêm hai năm và xóa bỏ mốc điểm 01 Tháng Tư 1995.

    Sau đó Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển bắt đầu nhận được đơn yêu cầu giúp đỡ của nhiều trường hợp con cái bị từ chối không vì trên 21 tuổi mà vì không cùng hộ khẩu với chủ đơn (tức người tù cải tạo). Năm 1999, Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển vận động Dân Biểu Smith lần nữa gia hạn Tu Chính Án McCain thêm hai năm và nới rộng để cứu xét cho các trường hợp con cái bị từ chối vì không cùng hộ khẩu.

    Khi áp dụng điều luật mới của Dân Biểu Smith, Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển lại khám phá ra số hồ sơ trước đây dù có tên trong hồ sơ nhưng đã không được phỏng vấn vì lý do ở xa không về kịp, vì đang ở trại tị nạn, hay vì bị chặn lại bởi giới chức Việt Nam. Các giới chức phỏng vấn Hoa Kỳ cho rằng những người này chưa bao giờ được phỏng vấn và do đó Hoa Kỳ không việc gì phải tái xét theo Tu Chính Án McCain.

    Không những vậy, các hồ sơ bị từ chối vì quan hệ cha con bị nghi ngờ cũng không được giải quyết. Một ít hồ sơ dù đủ điều kiện nhưng vẫn bị loại trừ vì chủ đơn đã qua đời ở Hoa Kỳ.

    Qua năm 2001, Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển đã làm việc với Dân Biểu Tom Davis (Cộng Hòa, Virginia) để lần nữa gia hạn Tu Chính Án McCain và nới rộng thêm để giải quyết cho các trường hợp kể trên. Ðiều luật mới, với nhiều sửa đổi, được mệnh danh là Tu Chính Án Davis, đã giúp giải quyết cho hàng trăm hồ sơ trước đây bị loại trừ. Cô Ðinh Thúy Uyên, lúc ấy là phụ tá lập pháp của Dân Biểu Davis, đã đóng góp nhiều công sức trong việc soạn thảo ngôn ngữ của điều luật và thúc đẩy cho việc thông qua Tu Chính Án Davis.

    Tu Chính Án Davis hết hạn ngày 30 Tháng Chín 2003 với nhiều trăm hồ sơ đã lên danh sách nhưng không được giải quyết.

    Từ đầu năm 2003, Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển lại vận động Dân Biểu Davis gia hạn thêm hai năm cho Tu Chính Án của chính ông ta. Tuy nhiên trong tình hình sau ngày khủng bố 9/11, các chương trình tị nạn bị đình trệ và nỗ lực của Dân Biểu Davis không được sự hưởng ứng mạnh mẽ tại Quốc Hội Hoa Kỳ.

    Vì lý do đó, mãi đến nay, điều luật của Dân Biểu Davis đưa ra mới được thông qua như là một điều khoản của Ðạo Luật Ngân Sách Tổng Hợp. Tuy nhiên đạo luật này chưa được ban hành vì một điều khoản về thuế khóa có tính cách mâu thuẫn được Thượng Viện rút ra vào phút chót và cần có sự đồng thuận của Hạ Viện. Ngày mùng 06 Tháng Mười Hai tới đây, Hạ Viện sẽ quay lại làm việc để giải quyết vấn đề kỹ thuật này.

    Chúng tôi hy vọng rằng liền sau đó Tổng Thống Hoa Kỳ sẽ ký ban hành Ðạo Luật Ngân Sách Tổng Hợp, trong đó có điều khoản gia hạn Tu Chính Án Davis. Lúc ấy hàng trăm hồ sơ con cái HO còn tồn đọng ở Việt Nam sẽ bắt đầu được giải quyết. (D.P.)


  15. #35

    Quốc Hội Hoa Kỳ Thông Qua Luật Định Cư Con Cái H.O.

    http://www.vietbao.com/main.asp?nid=80305&catgid=5
    Số: 3537
    Ra Ngày: 8/12/2004
    Quốc Hội Hoa Kỳ Thông Qua Luật Định Cư Con Cái H.O.

    trích đoạn:

    Uỷ Ban Cứu Người Vượt Biển -- Ngày 7 tháng 12, 2004
    Như đã thông báo trước đây, ngày 6 tháng 12 Hạ Viện Hoa Kỳ đã họp phiên bất thường để thông qua Đạo Luật Tổng Hợp Về Ngân Sách Cho Tài Khoá 2005, gộp chung 13 đạo luật ngân sách khác nhau. Điều khoản gia hạn chính sách định cư con cái HO cũng được thông qua như một phần của đạo luật này.
    .............
    Kể từ ngày 1 tháng 4, 1995 nhiều trường hợp con cái HO đã bị kẹt lại, vì tuổi tác, vì không cùng hộ khẩu với chủ đơn, hay vì bị chặn lại bởi giới chức địa phương. Năm 1996 Thượng Nghị Sĩ John McCain (Cộng Hoà, Arizona) đưa ra tu chính án để giải quyết tình trạng này. Tuy nhiên tu chính án này chỉ giúp cho số trường hợp đã bị từ chối sau ngày 1 tháng 4, 1995 và chỉ vì lý do tuổi tác (trên 21 tuổi khi người chủ đơn vào phỏng vấn). Tu chính án này chỉ có hiệu lực đến ngày 30 tháng 9, 1997.
    Sau đó Dân Biểu Christopher Smith (Cộng Hoà, New Jersey) đã nới rộng tu chính án McCain cho các trường hợp con cái không cùng hộ khẩu, bãi bỏ mốc điểm 1 tháng 4, 1995, và hai lần gia hạn tu chính án này đến ngày 30 th áng 9, 2001.
    Nối tiếp theo, Dân Biểu Tom Davis nới rộng thêm nữa tu chính án này và gia hạn nó đến 30 tháng 9 năm 2003. Sự nới rộng lần này bao gồm các trường hợp đã bị giới chức Việt Nam chặn lại, đã không thể có mặt tại nơi phỏng vấn vì lý do bất khả kháng, hoặc đã bị từ chối vì nghi ngờ quan hệ cha con với người HO chủ đơn. Tu chính án mới còn cho phép các trường hợp người cha là chủ đơn đã qua đời nhưng mẹ còn sống ở Hoa Kỳ (hoặc mẹ là chủ đơn thì cha còn sống ở Hoa Kỳ). Tu chính án này được mệnh danh là Tu Chính Án Davis.
    Đầu năm nay, nhóm Câu Lạc Bộ 50 Cử Tri Mỹ Gốc Việt đưa ra bản lập trường chính trị kêu gọi việc tái gia hạn Tu Chính Án Davis. Dân Biểu Davis đã gởi thư chính thức hứa ủng hộ bản lập trường của Câu Lạc Bộ, đặc biệt là việc gia hạn Tu Chính Án Davis.
    Lần này TNS McCain đã phối hợp với DB Davis để đưa điều luật gia hạn vào Đạo Luật Ngân Sách Tổng Hợp cho tài khoá 2005. Việc gia hạn này sẽ hiệu lực đến ngày 30 tháng 9, 2005.
    Đạo luật đã đươc chuyển sang Toà Bạch Ốc để Tổng Thống Bush ký ban hành nội trong nay mai.

  16. #36

    Na Uy Nhận 98 Tị Nạn Việt Đã Ở Phi Từ 15 Năm Nay

    http://www.vietbao.com/main.asp?nid=80632&catgid=5

    Số: 3546
    Ra Ngày: 17/12/2004
    Na Uy Nhận 98 Tị Nạn Việt Đã Ở Phi Từ 15 Năm Nay

    Quốc hội Na Uy đã biểu quyết cho phép 98 người Việt Nam tỵ nạn ở Philippin từ 15 năm nay được sang Na Uy đoàn tụ. Bản tin VOA như sau.
    Quốc hội Na Uy hôm thứ tư đã biểu quyết cho phép 98 người Việt Nam tỵ nạn đã bị kẹt trong một trại ở Philippin từ 15 năm nay được qua Na Uy đoàn tụ với thân nhân ở đây.
    Người đã vận động quốc hội gần 3 năm để xin cho những người tỵ nạn được qua Na Uy là cô Trần Kiều đã bầy tỏ sự vui mừng vô hạn với phóng viên AFP.
    Chính cô Kiều năm nay 27 tuổi cũng là một người Việt Nam đến Na Uy với tư cách tỵ nạn. Cô đã đạt được nguyện vọng khi 53 thành viên quốc hội bỏ phiếu chấp thuận một bộ luật đặc biệt để cho những người tỵ nạn được cư trú tại quốc gia vùng Bắc Âu này. 47 đại biểu quốc hội đã bỏ phiếu chống bộ luật mới.
    Theo cô Kiều, một nửa số người tỵ nạn là trẻ em, và cha mẹ các em đều chỉ mới có 17 hay 18 tuổi lúc bỏ trốn khỏi Việt Nam. Cô nói rằng đây là những người vô tội đã phải sống trong cảnh bất định quá lâu. Nay thì họ có thể bắt đầu cuộc sống mới, mặc dù phải chờ đến cuối năm tới mới định cư được tại Na Uy.
    Những người tỵ nạn dều có thân nhân sống ở Na Uy đã đi bằng tầu tới Philippin cách đây 15 năm, nhưng không được nhập quốc tịch Philippin.

  17. #37

    Tu Chính Án Về Con H.O: TT Bush Đã Ký Thành Luật

    http://www.vietbao.com/main.asp?nid=80641&catgid=6

    Tu Chính Án Về Con H.O: TT Bush Đã Ký Thành Luật

    Tâm Việt
    Muộn vào chiều thứ Tư, mồng 8/12, anh Chris Lopez, phụ-tá lập pháp của Dân-biểu Tom Davis (Cộng-hòa, TB Virginia), đã gọi và gởi e-mail cho bà Khúc Minh Thơ thông-báo: Tổng-thống Bush vừa ký xong Luật HR 4818, một luật khổng lồ trên 1000 trang quyết-định về sự phân bố ngân-sách cho toàn-thể chính-phủ liên-bang, trong đó có một phần về việc gia hạn chương-trình "con H.O" thường được biết dưới tên gọi là "McCain children."
    Sở dĩ có tên này là vì sau khi chương-trình H.O đón nhận các cựu-tù chính-trị và gia-đình từ VN sang được thông qua và thực-hiện cho những ai đã phải đi "học tập cải tạo" từ 3 năm trở lên sau khi CS xâm-chiếm miền Nam, vấn-đề các "con H.O" độc-thân trên 21 tuổi đã được giải-quyết một cách khá nhân-đạo và hợp lý. Nếu như họ đã phải ở vậy để phụng dưỡng bố mẹ thì họ được quyền đi theo sang định cư ở Hoa-kỳ. Nhưng đến mùa Xuân năm 1995, Sở Di trú và Nhập tịch Hoa-kỳ (Immigration and Naturalization Service) đã tìm cách giải thích luật một cách khắt khe hơn và không nhận cho những "con H.O" trên 21 tuổi mà còn độc-thân đi theo bố mẹ.
    Điều này, theo như sự giải-thích của ông Tom Davis ở diễn-đàn Quốc-hội hôm mồng 6/12 khi vận-động cho tu-chính-án, đã trở nên một chuyện bất công vì không những họ đã phải ở vậy, chịu nhiều năm thiệt thòi trong thời-gian người bố H.O phải đi "học tập cải tạo," đến khi người bố được trả tự do mấy người con ấy lại phải ở lại Việt Nam, để cho hai ông bà già đi định cư ở một nước xa lạ không nơi nương tựa. Vì thế nên sau đó, Thượng-nghị-sĩ John McCain (Cộng-hòa, TB Arizona) đã đưa ra một tu-chính-án, lúc đầu gọi là "Tu-chính-án McCain," nhằm chữa lại điều bất công kia, cho phép những người con trên 21 nhưng còn độc-thân vẫn được đi theo bố mẹ đi định cư theo diện H.O ở Mỹ.
    Tu-chính-án McCain được thông qua và trở thành luật vào niên-khóa 1997 rồi sau đó được Quốc-hội Mỹ tiếp-tục ủng-hộ qua ba khóa Quốc-hội, nghĩa là được đem ra áp-dụng đến hết tháng 9 năm 2003. Vì vẫn còn một số "con H.O" chưa lập xong thủ tục hồ-sơ nên trong niên-khóa 2002, văn-phòng Dân-biểu Tom Davis đưa ra một tu-chính-án mới nhằm gia hạn "Tu-chính-án McCain" và giải-quyết vấn-đề cho chót, do đó mà nó được gọi là "Tu-chính-án Davis" (HR 1792).
    Tu-chính-án này, tuy có được đưa vào Quốc-hội song đã không được thông qua vì thiếu người ủng-hộ. Kết-quả là từ đầu tháng 10 năm 2003, chương-trình các "con H.O" này bị ngưng đọng, không tiến hành được do không có luật cho phép xúc-tiến thủ tục. Mãi đến giữa năm nay, Nghị-hội và Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị (của bà Khúc Minh Thơ) mới phát động một cuộc vận-động qui-mô trên Quốc-hội để cho tu-chính-án được thông qua. Từ tháng 5 cho đến tháng 7, phái-đoàn của Nghị-hội và Hội GĐ TNCTVN đã đến gõ cửa nhiều văn-phòng Dân-biểu Nghị-sĩ để kêu gọi họ ủng-hộ cho tu-chính-án. Trong số những dân-biểu nghị-sĩ chủ chốt này, đã có các DB thuộc cả hai đảng như Tom Davis (gặp hôm 15/6), Patrick Kennedy (6/7), Chris Smith, Dana Rohrabacher (8/7), Jim Moran (13/7), Ed Royce, Frank Wolf, Zoe Lofgren (ngày 16/7), Nicholas Lampson (29/7) và nhất là văn-phòng Thượng-nghị-sĩ John McCain (6/7). Một số văn-phòng không tiện gặp thì người của Nghị-hội và Hội GĐ TNCTVN cũng liên-lạc bằng điện-thoại hay Fax xin ủng-hộ, chưa kể là một cuộc vận-động bằng thư, Fax của các gia-đình H.O cũng được tung ra trên toàn-quốc, với sự tiếp tay của một số hội thiện-nguyện như Catholic Charities (ông Nam Lộc ở Cali) hay Refugee Council USA (thư ngày 13/7) qua sự vận-động của ông Shep Lowman. Sang tháng sau, trong hai ngày 10 và 11/7, nhân đi vận-động cho Dự-luật Nhân-quyền cho Việt Nam (HR 1587), "Câu Lạc Bộ 50" ở vùng Thủ-đô cũng tham-gia vận-động và "nói vào" cho tu-chính-án.
    Nhờ cộng-đồng Việt Nam trên toàn-quốc Hoa-kỳ đưa ra một tiếng nói thống nhất ủng-hộ cho tu-chính-án nên khi nó được đưa vào Omnibus Bill HR 4818, tu-chính-án đã được thông qua một cách dễ dàng chứ không bị gạt ra như một vài dự-luật khác. Để đánh dấu sự thành công này, Dân-biểu Tom Davis đang dự-định làm việc với Nghị-hội và Hội GĐ TNCTVN để sang đầu năm tây, sẽ trao lại một phó-bản chính-thức của Tu-chính-án HR 1792 cho cộng-đồng chúng ta.
    thay đổi nội dung bởi: bilu, ngày 12/17/2004 lúc 05:56 AM

  18. #38

    Phái Đoàn Tăng Sĩ, Linh Mục Về Bidong, Galang Cầu Nguyện

    http://www.vietbao.com/main.asp?nid=80811&catgid=5

    Phái Đoàn Tăng Sĩ, Linh Mục Về Bidong, Galang Cầu Nguyện

    LTS. Chuyến đi “Hành Hương Thuyền Nhân” về các trại tị nạn cũ của Hòa Thượng Giác Nhiên đã mang tầm vóc lớn hơn, sau khi nhiều tu sĩ của các tôn giáo khác cùng tham dự để thực hiện các buổi cầu nguyện trên Biển Đông. Lá thư sau đây từ một người trong ban tổ chức gửi từ Úc viết như sau.
    Melbourne ngày 20 tháng 12 năm 2004
    Kính thưa quý Anh,
    Chuyến đi Về Bến Tự do đến hôm nay chỉ còn 25 ngày nữa sẽ kết thúc giai đoạn 1 (chấm dứt ngày 15-1-2005), đó là giai đoạn giá thấp, để bước sang giai đoạn 2, giai đoạn giá cao kể từ 16-1-2005 đến hết ngày 28-2-2005. Chúng tôi có nhiều lý do buộc phải chia thành hai giai đoạn như vậy, trong đó quan trọng nhất là thời điểm lấy vé tập thể (group booking) ở các hãng bay phải kết thúc hai tháng trước ngày khởi hành. Bên cạnh đó, các Công ty ở Singapore, Mã-lai cũng đòi hỏi chúng tôi trả phần lớn số tiền của chuyến đi trước hai tháng để hưởng giá thấp và giữ chỗ.
    Sau khi vừa phổ biến tin tức về chuyến đi trên mạn lưới thông tin ở Melbourne và ở Úc chúng tôi được đài SBS Việt ngữ Melbourne cho biết Hòa thượng Thích Giác Nhiên ở Hoa kỳ cũng có ý định về vùng Đông Nam Á làm lễ cầu nguyện ngoài hải phận quốc tế. Ba ngày sau Hòa thượng điện thoại Đại đức Thích Phước Tấn, trụ trì chùa Quang Minh ở Melbourne, để hỏi thêm chi tiết và khả năng thực hiện. Sau đó Đại Đức Phước Tấn ủy thác cho tôi phụ trách thêm dự án thứ hai này và tiếp xúc với Hòa thượng để thực hiện.
    Sau khi khảo giá với Công ty Hàng hải quốc tế ở Singapore về tổn phí và chi tiết lộ trình, sau khi thảo luận với Hòa thượng, kế hoạch thứ hai của chuyến đi được mệnh danh là Đoàn Cầu nguyện ngoài Hải phận Quốc tế được đồng ý và phổ biến. Chi tiết tổng quát như sau: “Đoàn Cầu nguyện ngoài Hải phận quốc tế sẽ đến Singapore ngày 17-3-2005, nghỉ ngơi ngày 18-3. Lên đường đi về Merang ngày 19-3. Đi ra hải phận quốc tế ngày 20-3, trở về đất liền trễ nhất là 22giờ cùng ngày. Sang ngày 21-3, đoàn này sẽ nhập chung với Đoàn Cầu nguyện trên đất liền cùng đi chung một lộ trình đến Bidong, thăm viếng một số nơi khác, cuối cùng là thăm viếng Galang rồi về nước. Tổn phí trọn chuyến là 2.250 Mỹ kim một đầu người, nếu khởi hành tại Cali”. Hòa thượng Thích Giác Nhiên đồng ý bảng kế hoạch. Chuyến đi ra Hải phận, về phía Phật giáo sẽ có thêm lễ hoa đăng ngoài hải phận, thả đèn xuống biển, thả đèn bay lên không trung, lễ Chiêu hồn, lễ Quy y cho vong linh và lễ Chẩn tế. (Về phía Công giáo chúng tôi chưa có chi tiết cụ thể).
    Một số chi tiết khác được bổ sung mà điểm quan trọng là bia Tưởng niệm và Tri ân sẽ được hai đoàn dựng lên ở Bidong và Galang thay mặt cho toàn thể cộng đồng người Việt ở hải ngoại, dự án này đã được sự chấp thuận của chính quyền địa phương tại Terrengganu và Batam. Trước ngày chính thức phổ biến tin tức về chuyến đi, Công ty phụ trách du lịch ở Singapore đã tiếp xúc với giới hữu trách ở Terrengganu và Batam để xin phép, nhân dịp này Ông Tỉnh trưởng đảo Batam hứa sẽ đến thăm đoàn, tháp tùng với Ông còn có giới truyền thanh truyền hình báo chí địa phương. Ông Thủ hiến bang Terrengganu nhân dịp này cũng đã hứa rằng đích thân Ông sẽ đến thăm đoàn, nếu đoàn có trên 90 người tham dự, cùng đi với Ông sẽ có Ông Giám đốc Bảo tàng viện bang Terrengganu và giới truyền thông báo chí liên bang.
    Với sự hỗ trợ của Hòa thượng Thích Giác Nhiên, phái đoàn của Ngài sẽ có từ 50 – 100 người tham dự, gồm tín đồ Phật giáo và Công giáo ở Hoa kỳ, Gia nã đại và Châu âu, cộng với phái đoàn ở Úc và một số nơi khác, chúng tôi tin chắc tổng số người tham dự chuyến đi sẽ có trên dưới khoảng 150 người.
    Tầm quan trọng của phái đoàn càng ngày càng mở rộng. Tại Hoa kỳ, mới đây Hòa thượng Thích Giác Nhiên cho biết sẽ có báo chí và truyền hình ở Cali cùng tham dự. Tại Úc, đài phát thanh Việt ngữ SBS ở Melbourne sẽ tham gia chuyến đi, đài phát thanh ABC Việt ngữ và Đài truyền hình SBS cũng chuẩn bị để cử người đi làm phóng sự. Thượng tọa Thích Quảng Ba ở Canberra, Linh mục Nguyễn Hữu Quảng ở Melbourne, nghị sĩ Thượng viện Liên bang Nguyễn Sang, Chủ tịch Ban chấp hành CĐ Người Việt Tự do ở Victoria, ba Dì phước lớn tuổi người Úc đã làm việc tại Bidong và Sungei Besi trên 5 năm cũng sẽ cùng đi thăm lại Bidong và Galang, Giám đốc Đài Phát thanh SBS Ông Lưu Tường Quang cũng hứa sẽ cố gắng thu xếp để có mặt, Giáo sư Tiến sĩ Kiều Tiến Dũng, Phó Chủ nhiệm Khoa Vật Lý Nguyên tử Đại học Swinburne và là Giám đốc Đài Truyền hình Việt ngữ ở Victoria cũng hứa sẽ thu xếp để tham dự. Sự hiện diện của phóng viên Việt ngữ đài BBC ở Anh quốc trong chuyến đi càng làm tăng thêm phần quan trọng, Đến ngày hôm nay trên toàn Úc châu đã có trên 50 người ghi tên tham dự chuyến đi. Chúng tôi vô cùng cảm động trước sự hưởng ứng nồng nhiệt của Cộng đồng người Việt hải ngoại, đặc biệt là sự quan tâm của các nhân vật có nhiều ảnh hưởng trong Cộng đồng.
    Sự kiện nổi bật khác mà chúng tôi lấy làm vui mừng và hảnh diện là tuần qua đại diện của chính quyền sở tại ở Batam và Terrengganu đã chính thức thông báo sự viếng thăm của họ khi đoàn chúng tôi tới nơi. Ông Thủ hiến bang Terrengganu cũng sẽ chỉ định một số Ông Bộ trưởng cùng tháp tùng. Điều quan trọng nhất, Ông Giám đốc Bảo tàng viện Terrengganu, trong nhiều năm ông là người đã từng vận động nhiều lần cho kế hoạch trùng tu đảo Bidong và biến đảo thành một di tích lịch sử và trung tâm du lịch quan trọng, lần này đã chính thức được đề cử phụ trách dự án trùng tu Bidong. Đồng thời một phái đoàn cũng đã được gửi sang Batam để nghiên cứu phương pháp bảo trì trại tỵ nạn Galang. Tưởng cũng nên nói thêm, trọng tâm toàn bộ chuyến đi của chúng tôi là nhắm vào Bidong, làm sao để chính quyền địa phương đầu tư và nắm vai trò chủ động trong việc trùng tu Bidong, biến nơi này thành di tích lịch sử và trung tâm du lịch. Có được như vậy Bidong mới có cơ hội sống còn với lịch sử để làm chứng nhân cho giai đoạn thương khó của người Việt trong ngót một phần tư thế kỷ vừa qua.
    TÓM LƯỢC LỊCH TRÌNH CHUYẾN ĐI
    Đoàn cầu nguyện ngoài hải phận Đoàn Cầu nguyện trong đất liền
    17-3-05 Khách đến Singapore. Đón về khách sạn
    18-3-05 Nghỉ ngơi. Thăm viếng Singapore.
    19-3-05 Lên xe bus đi Merang Khách đến Singapore. Đón về khách sạn
    20-3-05 Đi ra hải phận. Về đất liền 22g. Lên xe bus đi Merang. Hoa đang trên bờ biển Merang.
    21-3-05 Đi Bidong. Khánh thành bia Tưởng niệm và Tri ân. Chuyến về đi vòng quanh đảo Cá mập và đảo Bidong.
    22-3-05 Thăm nghĩa trang trong đất liền. Thăm trụ sở Hội Hồng nguyệt. Gặp gỡ chính quyền địa phương: diễn văn, trao quà lưu niệm... Đi Kuala Lumpur. Đi Malacca (trung tâm du lịch của Mã-lai)
    23-3-05 Thăm Malacca. Thăm Johor. Ăn tối ở Johor. Về Singapore.
    24-3-05 Đi qua Batam. Lên xe bus đi Galang (45 phút). Khánh thành bia Tưởng niệm và Tri ân. Gặp gỡ chính quyền địa phương: diễn văn, trao quà lưu niệm... Thăm Galng. Thăm đảo Batam. Ăn tối ở nhà hàng Seafood. Về Singapore. (Batam-Singapore: 20km đường biển)
    25-3-05 Ăn sáng. Check-out trước 10g. Các đoàn về nước (đoàn Melbourne còn ở lại).
    26-3-05 Đoàn Melbourne về nước.
    Vì tầm quan trọng và ý nghĩa lịch sử của chuyến đi, kính mong quý Anh tuỳ nghi phát thanh và loan tải nội dung bản tin này đến Cộng đồng người Việt. Mục đích của chúng tôi là làm sống lại một di tích lịch sử, toàn bộ số tiền thặng dư sau chuyến đi, nếu may mắn có được - vì tổn phí cho chuy!ên đi rất cao, sẽ được bổ sung vào quỹ của Archive of Vietnamese Boat People Inc. để trang bị một số dụng cụ, máy móc cần thiết trong việc ghi âm thu hình cho dự án Oral History of Vietnamese Boat People và xứ lý hình ảnh, xử lý, dịch thuật và sưu tầm tài liệu về Thuyền nhân Việt nam.
    Nay kính,
    Trưởng Ban Tổ chức
    Trần Đông, MSc.

  19. #39

    DVD Cứu Vớt Vong Linh: BiDong, Galang 30 Năm Về Lại

    http://www.vietbao.com/main.asp?nid=85056&catgid=5
    Số: 3669
    Ra Ngày: 19/4/2005

    Tịnh Xá Minh Đăng Quang Hoàn Tất Bộ DVD Cứu Vớt Vong Linh: BiDong, Galang 30 Năm Về Lại
    Anh Thư
    Trở về Nam California sau chuyến viễn hành đầy ý nghĩa tại Đông Nam Á, kéo dài trong 10 ngày, ở bốn nước Singapor, Thailand, Malaysia và Indonesia, do sáng kiến và tấm lòng bác ái của Đức Pháp Chủ Hòa Thựợng Thích Giác Nhiên cùng với sự phát tâm bởi những tấm lòng thiện chí của những người Việt Nam hiện đang sinh sống tại Hoa Kỳ, thực hiện chuyến hành trình nhằm cầu siêu, cứu vớt các vong linh bị tử nạn trên biển Đông gần ba mươi năm trở về trước, đồng thời cũng là dịp để mong nói lên lòng biết ơn của tất cả những thuyền nhân Việt Nam vượt sóng đi tìm tự do, đã qua một lần từng trôi dạt tới các quần đảo thuộc các quốc gia này, để cám ơn chính quyền cũng như các cư dân bản xứ, đã từng ra tay cứu vớt, bảo bọc và chia xẻ những đau thương thống khổ ngậm ngùi của những người Việt Nam đã vì hai chữ tự do mà phải chấp nhận cái chết bi thương trên biển cả.
    Suốt cuộc hành trình, phái đoàn gần hai trăm ngừơi, trong đó, gồm có các tu sĩ, các vị đồng hương, thân hào nhân sĩ thiện chí, các phóng viên truyền thông báo chí, radio, truyền hình, do Hòa Thượng Thích Giác Nhiên hướng dẫn, đã đựợc các viên chức chính quyền địa phương nhiệt tình tiếp đón, ủng hộ và sẵn sàng giúp đỡ mọi phương tiện cần thiết cũng như nhân sự, để giúp phái đoàn tuần tự đi thăm viếng và cầu siêu tại hầu hết những nơi chốn, những địa danh quen thuộc, những nơi chốn mà trứơc đây gần ba mươi năm, đã từng ghi dấu chân lưu lạc của tất cả các thuyền nhân tỵ nạn khốn khổ.
    Cuộc hành trình đã diễn ra toàn vẹn, thành công và đem lại nhiều kết quả rất tốt đẹp cả về mặt tôn giáo, tâm linh, lẫn giao tế nhân sự.
    Đặc biệt nhất là những hình ảnh về tất cả mọi sinh hoạt đã diễn ra trong những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc với chính quyền, với các cư dân địa phương, cũng như về các sinh hoạt tôn giáo, các buổi cầu siêu, cứu vớt các vong linh tử nạn đựợc tổ chức ngay trên mặt biển Đông mênh mông, cùng với tất cả những diễn tiến, những hiện tượng tâm linh huyền nhiệm đã linh ứng, sảy ra ngay tại chỗ, cùng với rất nhiều những hình ảnh giùa trị đột xuất khác, đã đựơc chuyên viên của phái đoàn ghi nhận lại một cách hết sức tinh tế và đầy đủ.
    Hiện thời, bộ DVD gồm có 4 dĩa, với hình ảnh rất rõ ràng trung thực, đã được hoàn chỉnh theo thứ tự lớp lang, có tên là "Tấm Lòng Bác Ái Cứu Vớt Các Vong Linh BiDong Và Galang Ba mươi Năm Trở Lại" đã được Tịnh Xá Minh Đăng Quang phát tâm thực hiện rất hoàn bị với đầy đủ tất cả các chi tiết trong chuyến viếng thăm vừa qua từ lúc ra đi cho đến phút trở về, để sẵn sàng gởi đến các quí vị đồng hương.
    Vậy bất cứ ai muốn có bộ DVD giá trị vô song này, xin trực tiếp liên lạc với :
    Tịnh Xá Minh Đăng Quang,
    8752 Westminster, CA 92683
    Điện Thoại : 714-895-1218
    Fax. 714-895-7879

  20. #40
    IM,BL,
    Tôi muốn hỏi hai bạn về một anh Huynh Trưởng Hướng Đạo ở Chùa Galang1. Tôi quên mất tên,anh nói giọng Bắc, trong hình thì giống như anh Trần văn Chi, cũng râu mếp nhưng tên thì không phải. Anh từ Galang1 chuyển vào Galang2 dự khóa học thứ 6 cuối năm 1981.
    Tôi làm Translator của chương trình C.O. khóa 2 (đầu tiên của VN) cho anh Daniel Yuli (Indo) và bà Patricia, xong bị giữ lại phụ cho khóa 6 (cô Emmy).
    Trong Translators khóa 6 có anh, ông Hồ sĩ Viêm (Trại trưởng Songkla), anh Hợp (Phi công) và tôi. Năm 1985, anh đang học ở Long Beach Cal State Univ. ,tôi có đến thăm anh và vợ mới cưới (Long Beach),bị một tên da đen chận đường xin tiền nên tôi không đến nữa. Tôi cũng có đi thăm ông Viêm ở Santa Ana, nhưng bây giờ mất tin luôn.
    Nếu các bạn có biết anh nầy xin chỉ giùm.

Trang 2/14 đầuđầu 123412 ... cuốicuối

Similar Threads

  1. Thơ cổ
    By Cổ Lũy in forum Thơ Sưu Tầm
    Trả lời: 6
    Bài mới gởi: 11/17/2004, 09:07 AM
  2. Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 11/10/2004, 09:04 PM
  3. Ngoà hiên...giọt mưa thu...Đọc thư nhà
    By anmota in forum Lịch Sử và Con Người
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 10/23/2004, 12:18 AM
  4. Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 02/21/2004, 03:14 PM

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
About us
Xin đón chào bạn đến với trang Web của xứ Quảng, trang web của toàn thể những người con của xứ Quảng lưu lạc trên khắp những nẻo đường năm châu...

Mọi liên lạc xin gởi về => đây