Warning: preg_replace(): The /e modifier is deprecated, use preg_replace_callback instead in ..../includes/class_bbcode.php on line 2958

Warning: preg_replace(): The /e modifier is deprecated, use preg_replace_callback instead in ..../includes/class_bbcode.php on line 2958
Galang Trong Ký Ức - Page 4
Trang 4/14 đầuđầu ... 23456 ... cuốicuối
kết quả từ 61 tới 80 trên 272

Ðề tài: Galang Trong Ký Ức

  1. #61
    Chị hht...
    Cái khu dưới gần chỗ Máy Bơm có chữ Nước Mặn...Hồi đó anh Nước Mặn ở khu này chị có biết không?..Ảnh làm Trật Tự hay sao mà được đặt tên phải hông chị Hai?
    Anh Nước Mặn giỏi quá há...
    Còn anh Bí Lù ở khu E phải hông? chỗ Nghĩa Trang gì đó....( mắc cười wá hà...)
    Chị xem thử có cái tên của ảnh không?

  2. #62
    Cảm ơn TL nhẹ tay nghen. May mà TL không nói là ở gần kho đạn
    NM ở cái barrack nằm ngang zone C. Trước mặt cái chợ ở trên đồi, có cái TV. Ban đêm có chiếu phim kiếm hiệp và 007, cũng nổ dữ lắm.
    Ngày đi định cư, cô giáo tặng cho một tập ảnh, đi bộ xuống tận cầu tàu để tiển.Cổ khóc .Tôi mủi lòng lắm. Sau, hỏi lại mấy đệ tử đến sau tụi nó bảo đứa nào đi cô cũng khóc hết.
    Galang không có tình làm sao xù được. Ai gắng cho cái tên ác nghiệt vậy.

  3. #63
    Trích Nguyên văn bởi volinnn
    Chị hht...
    Cái khu dưới gần chỗ Máy Bơm có chữ Nước Mặn...Hồi đó anh Nước Mặn ở khu này chị có biết không?..Ảnh làm Trật Tự hay sao mà được đặt tên phải hông chị Hai?
    Anh Nước Mặn giỏi quá há...
    Còn anh Bí Lù ở khu E phải hông? chỗ Nghĩa Trang gì đó....( mắc cười wá hà...)
    Chị xem thử có cái tên của ảnh không?
    Biết "gành" Bi Đông quá hỉ !!!

    Dzậy có biết anh Phương trước 75 ở đường Võ Tánh, đến Bi-Đông mười mấy năm về trước, bây giờ nghe nói có vợ "xẩm" đang ở đâu không?


  4. #64
    hôm nay hết thấy mấy người lớn nói chuyện ngày xưa bây giờ đến L cũng nói chuyện ngày xưa nữa làm Hiệp câm như hến vậy đó.
    Hỡi những người mà tôi yêu quí, hãy là những người mà tôi yêu quí.

  5. #65

    Kiều hối hay Kiều bào

    Kiều hối hay Kiều bào... là... Khúc ruột ngàn dặm?

    Malaysia phá hủy tượng đài theo lời yêu cầu của nhà cầm quyền Hà Nội dành cho thuyền nhân VN
    Trường Giang theo báo Star, Jun 15, 2005

    Cali Today News - Tiếp theo lời phản đối của chính phủ Hà Nội, chính phủ Malaysia cho phá hủy một tượng đài dành cho thuyền nhân VN đã bỏ mình trên đường vượt biển.

    Báo Star cho hay trong tháng 3 qua, một số người Việt hiện đang định cư ở Hoa Kỳ và Úc, trước đây từng ở trại tị nạn trên đảo Bidong của Malaysia, sau khi trở lại thăm viếng đảo, đã cho dựng tượng đài này.

    Đảo Bidong nằm về phía đông bắc bang Terengganu của Malaysia, trước đây đã từng đón tiếp rất nhiều thuyền nhân VN cuối thập niên 1970 trên đường vượt biển. Báo Star cho biết là Bộ Ngoại Giao Malaysia ra lệnh cho chính quyền bang Terengganu phải gỡ tấm bảng có hàng chữ “Để tưởng nhớ hàng trăm ngàn người Việt đã tử nạn trên đường tìm tự do (1975-1996). Dù họ có chết do kiệt sức vì đói khát, bị cưỡng hiếp hay bất cứ lý do nào khác, chúng ta cầu mong giờ đây họ thật sự an nghỉ ngàn thu một cách yên lành”.

    Báo Star cho biết sau khi chính phủ VN phản đối chuyện có tượng đài này, bộ Ngoại Giao Malaysia đã yêu cầu phải gỡ tấm bảng này đi. Chắc chắn quyết định gỡ bảng sẽ gây tức giận cho rất nhiều người Việt đang định cư ở Mỹ, Úc và Pháp, vốn vẫn thỉnh thoảng quay về thăm đảo Bidong.

    Báo Star nói có 142 người Việt hiện đang sống ở Mỹ và Úc, sau khi đến thăm đảo trong tháng 3 qua, đã cho dựng tượng đài này.

    Alex Lee, một chủ nhân tuyến du lịch địa phương, nói có khoảng 500 du khách Việt từ Mỹ định đến thăm đảo vaò tháng 8 này. Ông Lee cho hay có thể chuyến đi của họ sẽ hoãn nếu họ biết tượng đài đã bị gỡ đi.

    Sauk hi tin này được đưa ra, rất đông người Việt hải ngoại đã phản ứng trước hành động này. Tại miền Bắc Cali, ông Nguyễn Hữu Lục – một cựu thành viên của phong trào Boat People SOS Committee – đã gửi thư phản đối hành động này của nhà cầm quyền Hà Nội cũng như chính quyền Malaysia. Trong cuộc trao đổi với Cali Today, ông Lục cho biết ông phản đối hành động hủy diệt Tượng Đài Tưởng Nhớ Tiếc Thương các đồng bào vượt biên đã không được đến bến bờ tự do và đã chết trên biển trong hành trình tìm tự do.

    Nghệ sĩ Ngụy Vũ – người thực hiện tập sách Hành Trình Biển Đông – cũng bày tỏ sự tức giận khi tượng đài nói trên bị phá hủy bởi chính quyền Mã Lai theo yêu cầu của Hà Nội.

    Trường Giang theo báo Star

  6. #66
    Dzô đây mà nghe ý kiến bạn đọc ... chửi:

    http://www.bbc.co.uk/vietnamese/foru...monument.shtml
    You never know what you can do until you try...

    Đoản Kiếm

  7. #67
    http://www.nguoi-viet.com/absolutenm...sp?a=26691&z=1
    Phản ứng về việc chính phủ Mã Lai dẹp bỏ bia tưởng niệm thuyền nhân dưới áp lực của CSVN
    Thursday, June 16, 2005
    Nguyên Huy & Nguyễn Ngọc Chấn

    Thuyền nhân Việt Nam đã thuộc về lịch sử, dù có muốn cũng không thể xóa bỏ được. Những ai muốn xóa bỏ là muốn che dấu một tội ác hoặc tự mình xóa đi những hành động nhân đạo mà mình đã làm.

    Westminster (CA) (NV) - Ngay khi nghe được tin tức loan báo trên các cơ quan truyền thông Việt ngữ về việc Chính Phủ Mã Lai dẹp bia Tưởng Niệm Thuyền Nhân do áp lực của CSVN, cộng đồng người Việt ở khắp nơi đã tỏ rõ thái độ phản ứng mạnh mẽ. Vào buổi sáng hôm thứ Năm 16 tháng Sáu, tại Little Saigon, nhiều người đã đến Ðài Little Saigon Radio để lấy mẫu thư phản đối chính phủ Mã Lai. Phóng viên Người Việt đã làm cuộc phỏng vấn nhanh với đồng hương khắp nơi về hành động phá bỏ tượng đài này.

    Cô Nga Trần, vượt biên năm 1980 tới được Singapore rồi qua Âu Châu và mới đến định cư tại Hoa Kỳ có 4 năm, hiện là chủ nhân của cơ sở Travel Tour và sạp sách báo trong khu Bưu Ðiện Little Saigon. Cô cho biết: “Rất đau xót khi nghe tin này. Với người Việt mình thì nghĩa tử là nghĩa tận. Phong tục của người mình là tôn trọng những người đã khuất. Bia Tưởng Niệm Thuyền Nhân là kỷ niệm đau buồn cho chúng ta, nhất là những thuyền nhân. Tưởng nhớ người đã khuất là đạo nghĩa làm người.”

    “Bia Tưởng Niệm là dấu mốc trong dòng lịch sử.” Ông Minh, chủ nhân Little Saigon Traffic School tại Westminster phát biểu. “Không chỉ là lịch sử cho VN mà cho cả Mã Lai, vì vào thời gian đó, nhân dân và chính phủ Mã Lai đã thể hiện cái Tình Nhân Ðạo Vĩ Ðại. Nay chính phủ Mã Lai mà xóa bỏ Bia Tưởng Niệm Thuyền Nhân là chính phủ Mã đã xóa bỏ lòng Bao Dung Ðộ Lượng của nhân dân mình. Theo tôi đó là một mất mát lớn cho Mã Lai. Vả lại lịch sử là những gì đã được mọi người ghi nhận, nay vì quyền lợi chính trị nhất thời mà chính phủ Mã Lai muốn xóa đi cũng khó mà làm nổi.” Ông Minh, là một thuyền nhân tại Indonesia vào năm 1980, bày tỏ ý kiến.

    Từ Virginia, Giáo Sư Ðoàn Việt Hoạt, một nhà hoạt động nhân quyền nổi tiếng, phát biểu: “Hành động Bộ Ngoại giao Việt Nam yêu cầu chính phủ Mã Lai dẹp bỏ đài tưởng niệm thuyền nhân là bất nhân, người Việt nam cần phải hành động bằng nhiều mặt. Thứ nhất, cần lên tiếng phản đối đồng loạt. Các đoàn, đoàn thể người Việt nam khắp nơi đồng loạt lên tiếng phản đối chống lại sự dẹp bỏ đài tưởng niệm này. Chúng ta tưởng niệm những người đã vùi thây trên biển cả là việc làm có tính cách linh thiêng. Thứ nhì, hãy cùng nhau viết thỉnh nguyện thư cho chính phủ Mã Lai qua các tòa đại sứ, lãnh sự quán tại các quốc gia có người Việt cư ngụ. Nếu có thể được sẽ lập một phái đoàn sang Mã Lai vào gặp Bộ ngoại giao của họ để trình bày nguyện vọng, nhất là những người đã từng tạm trú tại Mã Lai trong thời gian vượt biển. Thứ ba, hãy cùng nhau vận động với Bộ Ngoại Giao, chính phủ Hoa kỳ, Quốc hội Hoa Kỳ, yêu cầu các dân biểu, nghị sĩ lên tiếng can thiệp để Mã Lai không bị Chính quyền Việt Nam đòi hỏi quá đáng.”

    Bà Madalenna Lài, một thuyền nhân đang cùng chiếc Thuyền Tự Do (thuyền vượt biển xin lại được từ chính phủ Phi Luật Tân) chu du khắp các Tiểu Ban Hoa Kỳ để thêm một lần bầy tỏ lòng khát vọng Tự Do của người Việt tị nạn. Bà hiện đang ở Kentucky, qua điện thoại , bầy tỏ rằng: “nghe tin tôi bàng hoàng suốt ngày, không biết phải làm gì đây, cứ tự hỏi người Cộng Sản không ngớt khoe trương rằng làm Cách Mạng. Nhưng họ lại chối bỏ sự thật lịch sử thì họ làm cách mạng gì. Thuyền nhân tị nạn là một sự thật đã làm rung động lương tâm nhân loại. Nó đã đi vào lịch sử. Việc dựng Tượng, dựng Bia Tưởng Niệm đâu có phải là việc làm chính trị, đâu có phải là việc kêu gọi lật đổ chính quyền nào. Việc chính phủ Mã Lai dẹp bỏ Bia Tưởng Niệm, cộng đồng chúng ta cần phải lên tiếng mạnh.”

    Ông Thái Tú Hạp, cùng gia đình vượt biên “bán chính thức” năm 1979 vì gia đình là nạn kiều người Hoa. Nhưng theo ông Thái Tú Hạp thì thực ra là một cuộc “tống xuất” Hoa Kiều vì chiến tranh Việt Hoa nơi biên giới. Chuyến đi của ông có ba thuyền thì chìm mất hai. Thuyền của ông khi đến gần đảo hải Nam thì bị bão đánh chìm, chết mười mấy người. Khi chôn cất tại đảo, ông đã có lời nguyện nếu tới được bến bờ Tự Do tại bất cứ đâu ông cũng nỗ lực dựng cho bằng được Tượng Thuyền Nhân. Nay công việc đó đang tiến hành gần hoàn thành. Hiện nay ông Thái Tú Hạp đang chủ trương tờ Saigon Times, một tờ tuần báo lớn tại Rosemead và được cộng đồng người Việt hải ngoại biết đến nhiều vì những hoạt động xã hội của hai vợ chồng ông. Trước tin tức này, ông cho biết: “Nếu chính phủ Mã Lai Á vì quyền lợi mà chiều lòng Hà Nội dẹp bỏ Bia Tưởng Niệm Thuyền Nhân, theo tôi thì cũng chẳng thể xóa mờ được một giai đoạn lịch sử của thuyền nhân VN. "Thuyền nhân VN nó đã ở trong tâm khảm của mọi người Việt. " Nó là lịch sử, là một vết chàm cho dân tộc, làm sao mà xóa bỏ cho được. Những ai chủ trương dẹp bỏ là những người thiếu ý thức tâm linh. Cần phải cho họ biết đó là một sai lầm lớn. Nó sẽ đánh động lương tâm mọi người. Chúng ta cần tranh đấu đến cùng trước việc làm sai trái, thiếu ý thức tâm linh này mà những dân tộc đặc biệt như các dân tộc Á Châu rất coi trọng. Với chúng ta, cộng đồng người Việt hải ngoại cần phải lên tiếng mạnh mẽ trước sự việc này. Giới truyền thông phải hợp sức nhau mà đưa sự việc ra rộng rãi trước dư luận thế giới.”

    Từ khuôn viên đại học California State University, Fullerton, sinh viên Mimi trả lời qua điện thoại: “Cháu không nghĩ là chính phủ Mã lai lai có thể làm chuyện này mà không bị chống đối của người Việt trên khắp thế giới. Nếu chính phủ Việt Nam làm áp lực thì lại khiến cháu nghĩ đến chuyện “Nghĩa trang Quân Ðội” tại Biên Hòa. Nghĩa tử là nghĩa tận sao lại làm như vậy? sao có thể kêu gọi sự hòa giải với một sự kiện như thế này...” Trong khi đó, sinh viên Bình Nguyễn, từ đại học UC San Diego, phẫn nộ: “Cháu ở dưới này [San Diego] chưa nghe tin vụ này nên không có ý kiến nhiều, tuy nhiên chuyện dẹp bỏ một đài tưởng niệm của thuyền nhân thì là điều khó chấp nhận cho dù nó phát sinh từ bất cứ lý do nào...”

    Bà Kiều Mỹ Duyên, thuyền nhân vượt biển năm 1976, hiện là chủ nhân cơ sở thương mại Ana Funding với hàng chục chuyên viên địa ốc làm việc. Bà cho biết: “Tôi thường liên lạc với các vị lãnh đạo Phật Giáo vừa thực hiện những chuyến đi Ðông Nam Á vừa qua để chia sẻ tai nạn Sóng Thần với các phần đất đã chịu thảm nạn này. Một số vị cho biết tại Mã Lai, nơi các trại tị nạn của thuyền nhân xưa có những Tượng Phật đã bị đập phá nhiều. Riêng ở Pilau-Bidong thì ông Tỉnh Trưởng tỉnh này đã tiếp phái đoàn trong đó có nhiều báo chí, rất là niềm nở. Ông Tỉnh Trưởng cũng cho biết là dự trù những nơi làm trại tị nạn thuyền nhân trước đây sẽ là những điểm du lịch của Tỉnh. Riêng ở các trại Galang I, II và III thì theo thầy Quảng Thanh cho biết tại những nơi này đang được trùng tu. Tôi cũng có nhớ là ông Phụ Tá Bộ Trưởng Ngoại Giao Mã Lai, tôi không nhớ được tên, có lần phát biểu khi tiếp một phái đoàn người Việt trở lại thăm nơi chốn cũ là các trại tị nạn khi vượt biển tìm tự do, ông đã nói rằng Quá Khứ là Lịch sử. Chính Phủ và Nhân Dân Mã Lai đón nhận hàng trăm ngàn người Việt vượt biển là làm cái công việc Nhân Ðạo chứ không xúi ai lật đổ chính quyền. Theo tôi được biết thì hầu hết các chính quyền ở các nước Ðông Nam Á đều đã mở rộng vòng tay đón nhận thuyền nhân VN vì nhân đạo chứ không phải vì chính trị. Nay Mã Lai mà vì nghe lời chính quyền CSVN, phá bỏ Bia tưởng Niệm Thuyền Nhân, cộng đồng chúng ta cần phải lên tiếng thật mạnh mẽ với Chính Phủ Mã Lai, với CSVN và với Liên Hiệp Quốc cũng như với các cơ quan nhân đạo quốc tế.” Tất cả 9 chuyên viên địa ốc có mặt trong văn phòng Ana Funding lúc này đều bầy tỏ sự phản đối chính phủ Mã Lai và nhà cầm quyền CSVN đã làm một việc xâm phạm đến tâm linh con người.

    Với những đồng hương không phải là thuyền nhân, đi trong diện H.O. hay tị nạn năm 1975 thì cũng đều bầy tỏ sự phẫn nộ. Ông Trần Khải tới Mỹ theo diện H.O. 2 bầy tỏ: “Chính Phủ Mã Lai đã làm một công việc đáng chê trách, chỉ vì quyền lợi nhất thời trong việc buôn bán làm ăn với CSVN. Nhưng họ đã làm mất đi tấm lòng bao dung nhân đạo của nhân dân họ.”

    Ông Nam Lộc, một nhân vật vừa được tổ chức “Di Sản Á Châu” trao tặng Giải Thưởng “Ðuốc Vàng” cũng bầy tỏ rằng: “Tin làm cho tôi mất ngủ cả đêm. Theo tôi, việc nhà cầm quyền CSVN áp lực chính phủ Mã Lai dẹp bỏ Bia Tưởng Niệm Thuyền Nhân là việc làm che dấu một tội ác. Hàng triệu người Việt đã bỏ nước ra đi tìm Tự Do và nhiều trăm ngàn người đã không tới được bến bờ Tự Do, chôn xác trong lòng đại dương, đã là những chứng tích trong lịch sử, không thể xóa nhòa được trước lương tâm nhân loại. "Việc muốn xóa bỏ những chứng tích lịch sử về thuyền nhân tị nạn VN, đã phơi bầy ra mặt trái của những lời tuyên bố của các nhà lãnh đạo CS mới đây là xóa bỏ hận thù, là mời gọi mọi người dân cùng về xây dựng đất nước, v.v... Nhân dịp này thì cộng đồng chúng ta cần phải tỏ phản ứng ngay trước chuyến đi Mỹ của ông Phan Văn Khải vì ông Khải là một viên chức cao cấp nhất của nhà cầm quyền VN hiện tại.”
    thay đổi nội dung bởi: cudo, ngày 06/17/2005 lúc 04:43 AM
    Cụ Đồ Chiểu: Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà

  8. #68

    Tượng đài thuyền nhân ở Galang đã bị đục bỏ

    http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regi...memorial.shtml
    BBC Vietnamese.com
    17 Tháng 6 2005 - Cập nhật 09h35 GMT

    Tượng đài thuyền nhân ở Galang đã bị đục bo?


    Tượng đài ở Galang đã bị phá (ảnh nhận ngày 16/5/2005)



    Tấm bia trong trại tị nạn cũ ở Pulau Galang, Indonesia, có ghi dòng chữ tưởng nhớ những người bỏ mạng trên đường vượt biển và ghi ân những ai giúp đỡ thuyền nhân, đã bị đục bỏ.
    Một nguồn tin ở Galang cho đài BBC biết, giới chức bang Batam đã vào trại giải thích rằng câu viết trên bia sai nên phải đem đi sửa lại.

    Tượng đài được khánh thành ngày 24/3/2005 với sự chứng kiến của ông Sofian De Jalil, Tổng giám đốc Nhà truyền thông của Bộ Ngoại giao Indonesia, và đại diện cao cấp của chính phủ tiểu bang Batam.


    Chính phủ Malaysia cũng đã ra lệnh dẹp bỏ một bia tưởng niệm tương tự trên đảo Bidong. Chính phủ Malaysia đã có quyết định này sau khi nhận được than phiền từ chính phủ Việt Nam.

    Làm bằng xi măng có gắn hai tấm đá hoa cương bia cũng có những dòng tri ân UNHCR, Hội Chữ thập đỏ, Hội trăng lưỡi liềm đỏ, chính phủ và nhân dân của hai nước Malaysia và Indonesia đã giúp đỡ thuyền nhân Việt Nam.

    Phóng viên BBCJonathan Kent tại Kuala Lumpur nói rằng khi mà tháng tới đến phiên Malaysia làm chủ tịch ASEAN và phải đối phó với vấn đề nhân quyền ở Myanmar, có thể họ cảm thấy không nên làm mất lòng Việt Nam vì sợ Hà Nội sẽ đứng về phía Rangoon.

    Nhà chức trách cả hai bang Batam và Terengganu đã bỏ ra hàng chục ngàn đôla để linh đình đón tiếp trên 100 cựu thuyền nhân về thăm lại Galang và Bidong để khánh thành hai bia tưởng niệm.

    Chính phủ Việt Nam đã than phiền với với Bộ Ngoại Giao Malaysia, và sau đó, chính quyền trung ương Malaysia đã yêu cầu chính quyền bang Terengganu, tức là chính quyền chủ quản hòn đảo Bidong, phải dẹp bỏ tượng đài.


    Một nguồn tin tại Bộ Ngoại Giao Malaysia nói rằng Việt Nam còn đang bận rộn với lịch sử của họ, và để bảo tồn bang giao tốt đẹp với Việt Nam nên Malaysia quyết định tôn trọng ý muốn của Hà Nội.

    Chuyện này đã bị cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại chỉ trích rất nhiều. Phóng viên Đinh Quang Anh Thái của đài Little Saigon, California nói với BBC rằng nhiều thính giả của đài đã 'tức giận' gọi điện tới và đòi phải có 'phản ứng ngay'.

    Ông Thái, người có mặt tại lễ khánh thành đài tưởng niệm nói rằng điều này sẽ làm cho sự phản đối chuyến thăm của ông Phan Văn Khải tới Hoa Kỳ trong tuần tới gia tăng.

  9. #69

    Just two months ago

    An emotional journey back in time

    07/04/2005

    A very special Correspondent's Notebook this week, from the executive producer of Radio Australia's Vietnamese service, Hue Nguyen.

    Hue arrived in Australia in 1987 after a harrowing journey by boat from Vietnam via a refugee camp on the island of Bidong, in Malaysia.

    Last month, he joined a group of other Vietnamese ‘boat people’ to mark the 30th anniversary of Vietnamese resettlement in the third countries.

    They visited Bidong and the site of another camp on Galang Island in Indonesia.

    For most of the 140 former boat people, including Buddhist monks and a Catholic priest, the trip back to the camps where we took refuge after the unimaginable ordeal on the high seas many years ago, was a pilgrimage to a holy land; a homecoming in a way.

    It was a very emotional, sentimental and unforgettable experience.

    About half of the group was from Australia and the other half from countries like the United States and Singapore.

    We went back to Pulau Bidong and Galang to pray for those fellow countrymen who lost their lives at sea in the journey to search for freedom.

    We revisited the shore of freedom to express our heartfelt gratitude to the Malaysian and Indonesian people and governments, the United Nations High Commissioner for Refugees and other international charity organisations that gave us shelter, assistance and food, and nurtured our physical and psychological wounds. For we had experienced a horrible trauma during our escape on tiny boats.

    We went back to the camps to reflect and to visit our relatives' graves.

    We were taken to Pulau Bidong by boats. As soon as we set foot on the beach, palpitating with exceptional feeling, we all got choked and felt a lump in our throat.

    The air was permeated with emotion and sentiment.

    I heard someone crying. It was a very sad cry from a mother who lost her four-month-old child at sea during the journey.

    "My God, this is Bidong indeed; Oh, Bidong, Bidong," exclaimed others with tears in their eyes.

    One man confided to me, "This is surreal, I have never thought I would be able to see this place again. This is a dream."

    There was a ceremony to unveil a monument built in front of the Catholic Church on the top of the hill, known to Vietnamese boat people as the ‘Religious Hill’.

    The monument was funded by Vietnamese living overseas and built by the local Malaysian Government in memory of the Vietnamese boat people who lost their lives in their quest for freedom, and to pay tribute to the Malaysian Government and international aid organisations.

    After a moving ceremony, Buddhist followers attended a prayer session led by the most Venerable Thich Giac Nhien from the United States and the most Venerable Thich Quang Ba from Australia, amidst the ruins of the old Buddhist temple.

    The Catholics gathered in the derelict old church to attend the mass administered by Father Nguyen Huu Quang.

    The activities then turned into moments of personal reflection when people started searching for the remnants of what had a particular meaning or sentimental value to them. They just wanted to see it, touch it and hold it.

    Most of the facilities and houses on the island have been demolished completely. The entire site now has been taken over by bush, trees and creepers.

    Only CaoDai Temple, the Buddhist Temple, the Catholic Church and monuments are left standing. All the statues have been destroyed.

    Those who could not find what they looked for were very sad and depressed. For them, their expectations before the trip were not fulfilled.

    Many people, including three Catholic sisters who had spent several years on Bidong Island to help the refugees, expressed their sadness for not being able to visit some sites due to time constraints.

    The trip was also a time for a collective and personal mourning. We visited three cemeteries in Terrenganu and found three mass graves and many individual graves; some with names, others without.

    Next, we visited Indonesia’s Batam Island.

    A banner said, ‘Welcome to the Vietnamese visitors’. Indonesians lined up on both sides and gave us each a fresh rose.

    From there we headed for Galang Island in four buses.

    Fifteen minutes later, we saw a huge roadside billboard, which read, “Galang, Memory Of A Tragic Past”.

    The convoy continued through the remnants of Galang 1 refugee camp - most of the barracks, which housed the Vietnamese refugees here, have been demolished.

    Again, as with Bidong, the excitement, emotion and sentiment were visible, tangible and overwhelming.

    I saw a cemetery on the left side of the road, and a moment later we arrived at the centre of Galang 2 refugee camp.

    People cried with joy to see that the Catholic Church and the Buddhist Temple were well preserved; all the statues of Mary were still there; most of the main barracks and buildings were found where they used to stand; even old road signs were maintained in the original form.

    A monument was unveiled in memory of the boat people and those who helped them.

    Behind the monument, three old boats used by the Vietnamese in their escape are permanently displayed as a testimony to a very sad chapter in Vietnam’s history.

    We talked to some local people who grew up and made friends with the Vietnamese refugees years ago.

    They were thrilled to see us back.

    A mass was held in the Catholic Church, and a prayer session was held in the Buddhist Temple.

    We then proceeded to the cemetery to offer more prayers to the dead. It is here that many Vietnamese boat people were laid to rest.

    A heart-wrenching cry rose in the air. I looked around and found a woman crouching over a grave, crying inconsolably.

    With a faltering voice, she said that this was her husband's grave. He passed away due to illness during the time her family stayed in Galong Camp. This was the first time she had returned to see him.

    We all tried to hold back our tears, listening to her story.

    Radio Australia
    You never know what you can do until you try...

    Đoản Kiếm

  10. #70

    Xin lỗi ... Bác !

    Hồi đó , vào được bờ mấy đứa con tôi gần chết . Nhưng phải bắt trẻ nít hát ... cho người Thái họ nguội cái lòng xuống .Ít ra , những bà già trong bờ thì hiền lành hơn là hải tặc ngoài kia .... Khi thấy thằng bé hát không ra hơi , họ chảy nước mắt . Nó chỉ quen hát bài : Đêm qua em mơ gặp Bác ... Nó hụt hơi ... và thôi ngay , dừng ngay . Nó khóc .Lòng tôi đanh lại .
    Vài tuần lễ sau , trong trại tỵ nạn , lại nghe trẻ nít chạy chơi , hát hỏng .
    Nào là :
    " Bà con cô bác ! Ai muốn vượt biên ...
    " Chỉ tốn một cây dzàng ...
    Nếu chết thì tiêu tàn ... Nếu sống thì huy hoàng ...
    Bà con cô Bác ... "
    Nằm ở trại tỵ nạn mà nghe , mà buồn . Bởi vì ... đủ thứ đáng phải buồn .Dám trẻ con , nó chưa biết thấm buồn . Nó thấm cơm thấm mắm lại chạy chơi ... Và ca hát .
    Nó hát rằng :
    Đêm qua em mơ gặp túi tiền
    Trong túi tiền có tám ngàn tư ...
    Vào thời điểm này , tám ngàn tư là gần mua dđược mười lạng vàng . 900 vnd/ lạng . Và có thể mua được một chiếc ghe có "động cơ đầu bạc " ...
    lại hát rằng:
    Em vui quá ! Em khoe với Bác !
    Bác gật đầu bác bảo em ngoan !
    ....
    Em vui quá đem khoe với Bác
    Bác mỉm cười ... Bác bảo : Chia đôi !
    ...
    Đêm qua em mơ gặp ...
    ...
    Em vui quá đem khoe với Bác.
    Bác chận đầu , bác bảo đưa đây !

    Và lại hát rằng :
    Đêm qua em mơ được túi tiền
    Trong túi tiền có lắm tiền Đô ...
    Em vui quá ...
    Bác mỉm cười Bác bảo ...
    ....
    Những đứa trẻ con lên sáu , lên mười bấy giờ ( 1975/ 1980), ngày nay đã thành người lớn .Và có nhiều đứa không còn nhớ , vì chúng nó không dám nhớ , không muốn nhớ , không biết ... nhớ những kỷ niệm buồn , những ác mộng Đêm qua ....

    Tôi được vời lên khoang thuyền có " cabin " vào giữa đêm , giữa biển đen ngòm , có ánh trăng mờ mờ trên trời soi xuống để góp ý :
    -- ... có một cháu (mười sáu tuổi ), nó xủi , nó dđuối , nó chết rồi .Làm sao ...bây giờ ...?
    -- Tuyệt đối không cho mọi người biết . Mọi người đang thiếp , đang ngủ ...Quấn nó bằng chăn hay chiếu ...Mình cùng xá nó ...Rồi đưa cháu nó đi ...Nó phù hộ ...
    Không ai còn nổi đến một giọt nước mắt . Chúng tôi chỉ còn thở dài.

    Ngày nay , mỗi có dịp nhìn biển , nhất là về ban đêm , tôi vẫn còn rờn rợn khi nghĩ đến nỗi kinh hoàng của bà con người mình ...Phải bỏ mà chạy "từ bắc vô nam ,từ Đông qua Tây " ...
    ... " Hà chính mãnh ư hổ " ...
    Nữa mai , gặp Bác ở dưới tuyền đài , chắc tôi cũng nên thưa với ông cụ ấy về những chuyện xưa tích cũ như thế .
    Chuyện mà cụ phải là người phải lấy làm điều " tu sỉ " ... với năm châu .

    ....
    amt
    thay đổi nội dung bởi: anmota, ngày 06/19/2005 lúc 07:35 AM

  11. #71

    Trần Đứt Lương ?

    Có ai có bản tin chính thức từ Jakarta Post để kiểm chứng bản tin (hay tin đồn) này về Trần Chủ Tịch (quê ta) không?

    http://www.vietbao.com/main.asp?nid=87505&catgid=4

    Trần Đức Lương Đã Đòi Indo: Hủy Gấp Tượng Đài Tị Nạn

    Thợ Indonesia Phải Dựng Lều Che Mưa, Thắp Đèn Đục Bỏ Tượng Đài
    JAKARTA, Indonesia -- Ai đã yêu cầu Indonesia gấp rút đập phá tượng đài tưởng niệm các thuyền nhân đã chết?
    Nhật báo Jakarta Post, ấn bản ngày 20-6-2005, loan tin rằng chính ông Chủ Tịch Nước CSVN (tức, ông Trần Đức Lương) đã đòi hỏi như thế, và xin Tổng Thống Indonesia “khẩn cấp đập tượng đài” nói trên.
    ...................................

  12. #72

    Trần Công Tử

    Thưa Trần Công Tử,

    Công tử có biết bao nhiêu phần trăm trong cộng đồng người VN tại Mỹ mà ngài đang trình bày là "người vượt biển", là "Thuyền Nhân" mà tượng đài kỉ niệm của họ tại Nam Dương hay Mã Lai Á đang bị "thân phụ công tử đề nghị" (tin đồn?) đục phá không?

    http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/In...5&ChannelID=11
    Thứ Tư, 22/06/2005, 08:44 (GMT+7)
    “Có đủ cơ sở để thâm nhập thị trường Mỹ”


    TT - Vừa bay sang bang Washington từ San Francisco, ông Trần Tuấn Anh - tổng lãnh sự VN tại San Francisco - đã dành cho Tuổi Trẻ một cuộc trò chuyện về chuyện kinh doanh, ngay trong khuôn viên Công ty Microsoft vào trưa 20-6 giờ Seattle.

    Ông Trần Tuấn Anh khẳng định: “Cộng đồng người VN tại Mỹ (hơn 1,3 triệu người) tương đối thành công trong cuộc sống cũng như công việc, kinh doanh. Một số nét nổi bật là họ rất năng động, vì hoàn cảnh cuộc sống đã biết chọn lựa hướng đi phù hợp và ngắn nhất để tạo thành công trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, y tế...

    Thứ hai, đây là cộng đồng có tính kiên nhẫn và quyết tâm cao. Ngoài ra, cộng đồng người VN rất thông minh - thể hiện qua việc một phần rất lớn người VN vươn lên qua con đường tiếp cận tri thức”.
    ..........................................

  13. #73
    Thưa có, Ở đây. Cái khúc ruột ngàn năm

    Vietnam boat people's plaque torn down
    National News - June 20, 2005


    Fadli, The Jakarta Post, Batam

    The Batam Industrial Development Authority (BIDA) has removed a large stone plaque erected by former Vietnamese refugees at their one-time camp on Galang island, Riau Islands province. The monument was dismantled at the request of the Vietnamese president on the grounds that it was offensive to Vietnam.
    The 3 meter by 1 meter plaque was dedicated on March 24 during a reunion of 150 of the former Vietnamese refugees, who are now residing in various countries, including Australia, the United States, Canada, Switzerland and France. The reunion and the erection of the monument were the initiatives of BIDA and Singaporean firm Bold Express, which acted in a liaison capacity between the former refugees and BIDA.

    A The Jakarta Post source, who requested anonymity, has said that the destruction of the plaque was carried out on the orders of President Susilo, as conveyed through the Ministry of Foreign Affairs, at the request of the Vietnamese government.

    The Vietnamese government took the view that the wording on the plaque denigrated the dignity of Vietnam.

    "This involves government to government relations, and I've no right to comment. As far as I know, the plaque was dismantled after the Vietnamese government addressed a complaint to President Susilo," said the government source.

    Meanwhile, the concrete frame in which of the stone plaque was embedded is still standing. The marble tiles at the base have been removed, however.

    A number of visitors to the park and park workers expressed surprise at the removal of the plaque. A maintenance worker at the former camp, Mursidi, told the Post that he and three other workers were abruptly ordered to pull down the plaque. However, Mursidi, who is almost 60 years old, said he had forgotten the exact date on which they carried out the order.

    "It was around the end of May when we were asked to take down the plaque. It was already late afternoon and raining hard. But my supervisor told us that it had to be dismantled immediately, so we erected a tent over the monument so as to be able do so despite the rain," said Mursidi, who has been working at the site since the days when the camp was still open.

    Mursidi added that he was asked by his superior in BIDA headquarters in Batam to record the wording on the plaque before it was dismantled.

    The wording read as follows: In commemoration of the hundreds of thousands of Vietnamese people who perished on the way to freedom (1975-1996). Though they died of hunger or thirst, or being raped, or exhaustion or any other causes, we pray that they may now enjoy lasting peace. Their sacrifice will never be forgotten. - OVERSEAS VIETNAMESE COMMUNITIES 2005.

    The reverse side of the plaque read: In appreciation of the efforts of UNHCR, the Red Cross and the Indonesian Red Crescent Society and other world relief organizations, the Indonesian government and people, as well as all countries of first asylum and resettlement. We also express our gratitude to the thousands of individuals who worked hard in helping the Vietnamese refugees. - OVERSEAS VIETNAMESE COMMUNITIES 2005.

    "They said that the instruction to remove the plaque came from Pak Ismeth Abdullah (former BIDA chairman), as it was he who encouraged the reunion to go ahead. I don't know what the actual reason behind the plaque's removal was. I'm just an ordinary person," said Mursidi.

    Meanwhile, Ismeth Abdullah, when contacted by phone, expressed incredulity and anger upon learning that he was being blamed for ordering the plaque's removal.

    "That's pure slander. We spent a lot of money on helping to make the reunion a success. How dare they accuse me of destroying the plaque. It's not true," said Ismeth.

    Bold Express's Project coordinator, Anne Oh, said that the Vietnamese government had not only requested the removal of the plaque on Galang Island, but also a similar plaque at the former Vietnamese boat people's camp on Bidong island in the Malaysian state of Trengganu. The request was still being hotly debated in Malaysia, she said.
    thay đổi nội dung bởi: nước mặn, ngày 06/22/2005 lúc 10:27 AM

  14. #74

    Những người đã chết đều có thật (NND)

    Những người đã chết đều có thật
    NGÔ NHÂN DỤNG



    Một phụ nữ đưa ba con xuống tàu vượt biển sau khi đi thăm chồng trong trại tù cải tạo và nghe chồng nói nhỏ: Bố không có ngày về. Ðưa các con đi đi. Bà mẹ và các con không bao giờ tới bến. Cả ba đã chết chìm giữa bờ biển Việt Nam và các hòn đảo Indonesia. Bây giờ người cha đang tị nạn ở Mỹ, vẫn tự hỏi mình có trách nhiệm như thế nào. Một bà mẹ khác đã an táng chồng sau khi ông tự tử không chết rồi bị bệnh nặng được đưa từ trại tù cải tạo về nhà chờ chết. Bà cũng quyết định cho các con đi vì chúng thuộc thành phần khi lớn lên sẽ không được vào đại học, không được làm cho cơ quan nhà nước, trong một xứ không có tư doanh. Họ có hai con trai và bốn con gái, đứa con trai lớn tình nguyện đi trước, cháu đã 16 tuổi. Nhưng một tháng sau thì mẹ và các em biết tin người anh đã biến mất ngoài biển Ðông cùng những bạn đồng thuyền. Bây giờ gia đình đã ở Mỹ, hình ảnh người cha và người anh một già một trẻ vẫn có mặt, ở trên bàn thờ. Tôi biết những chuyện đó vì đều là những người thân thiết.

    Một người khác tôi quen đã bắt được mối với chính quyền để tổ chức vượt biên gọi là “bán chính thức,” với sự tiếp tay của các cán bộ ăn hối lộ bằng “cây.” Anh đã thành công nhiều chuyến trước khi quyết định đưa gia đình mình ra đi, với một chiếc tàu lớn và đầy đủ thực phẩm, nước uống, thuốc men với cả vũ khí tự vệ. Khi chiếc tàu tới Phi Luật Tân thì bị lật, vì người ta vội vã chạy về một phía sườn tàu. Vợ con anh đã chết hết, anh còn sống nhưng trong lòng cũng chết. Tôi vẫn gặp anh ở đây nhưng không bao giờ dám gợi lại những chuyện bi thương đó.

    Chúng ta ai cũng có những người thân, người quen biết, đã mất tích ngoài biển Ðông. Nhiều người thuyền bị chìm, nhiều người thuyền trôi lạc lõng cho tới khi hết nước uống, hết thức ăn. Có bao nhiêu người chết đói chết khát khi giạt lên các hòn đảo nhỏ li ti nằm giữa đại dương sóng cả? Có bao nhiêu người bị hải tặc tàn sát!

    Ở những trại tạm cư như Bidong, Galang, mỗi nơi vẫn còn những nghĩa trang chôn người Việt Nam với mấy trăm ngôi mồ. Có những ngôi mồ tập thể chôn hàng trăm xác chết từ cùng một chiếc thuyền, thuyền trôi nổi lênh đênh đã được kéo vào bờ nhưng mọi người trên thuyền đã tắt thở. Vì lý do y tế, không ai tìm tòi để ghi tên những xác chết đó trên mộ bia. Những xác chết vô danh nhưng vẫn có mồ yên mả đẹp, dù chôn cất vội vã trên các hòn đảo, đó vẫn là những người may mắn. Vì còn mấy trăm ngàn người Việt Nam đã chết trên biển Ðông, họ chết trong đau đớn, khổ cực, tuyệt vọng, những xác chết không tên và không mồ. Trước khi chết họ ngẩng mặt lên trời, miệng không ngừng cầu Chúa, niệm Phật, tụng Nam Mô Bồ Tát Quan Thế Âm hay đọc kinh Kính Mừng Maria. Ðó là những thuyền nhân chết không mồ mả. Biển Ðông là nấm mồ vĩ đại của họ.

    Vì vậy nhưng tấm bia tưởng niệm dựng trên các đảo Galang và Bidong cũng là những mộ bia tập thể của nửa triệu cho tới một triệu thuyền nhân tử nạn. Các vị tu sĩ thuộc nhiều tôn giáo đã trở lại đảo làm lễ cầu siêu độ cho họ, và dựng lên các bia mộ tập thể đó. Ðứng giữa hàng trăm nấm mồ có bia mộ và hàng trăm nấm mồ khác không được dựng bia, các đài tưởng niệm là bia mộ của những người được thủy táng trên biển Ðông. Ðó là những thuyền nhân xuất phát từ Hà Tiên, Vũng Tàu, Nha Trang hay Thanh Hóa, Móng Cái, nhưng không bao giờ tới bến tự do.

    Trên thế giới đã có những mộ bia tập thể dành cho người Do Thái bị Ðức Quốc Xã sát hại. Có những đài kỷ niệm của người Armenia bị quân Thổ Nhĩ Kỳ giết tập thể trong thời Ðại Chiến Thứ Nhất. Tại Washington thủ đô nước Mỹ cũng có bia tưởng niệm những người Do Thái đã tử nạn, cùng với một viện bảo tàng. Ở Ottawa, thủ đô Canada và nhiều thành phố khắp thế giới có dựng đài tưởng niệm các thuyền nhân Việt Nam. Nhưng không tấm bia ở một nơi nào mang ý nghĩa lớn như ở các hòn đảo nơi có hàng triệu người tị nạn đã tạm trú. Nhiều người chết ở đó, nhiều trẻ em Việt Nam cũng ra đời ở đó. Ðó là những dấu tích sẽ được ghi trong lịch sử dân tộc Việt Nam, mãi mãi.

    Những người còn sống sót để đến được các miền đất tự do phải cảm thấy một bổn phận linh thiêng đối với những người đã tử nạn trên đường đi. Ðó là những bạn đồng hành không may mắn như chúng ta. Họ là những đồng đạo đã cầu nguyện cùng một đức Phật, cùng một đức Chúa như chúng ta. Hơn nữa, đó là những bạn đồng ngũ, trong cuộc chiến đấu đi tìm tự do để xây dựng lại một cuộc sống có nhân phẩm. Không thể nhắm mắt bỏ quên họ, không thể để cho họ chết một lần nữa trong lãng quên, chỉ còn là những con số vô danh vô hồn ghi trên trang sách lịch sử dân tộc. Nói như một thi sĩ của chúng ta: “Những người đã chết đều có thật.” Khi nghĩ tới những người thân thiết đã mất tích trên mặt biển, tôi vẫn thầm nhủ, “Những người đã chết đều có thật.”

    Cho nên người Việt tị nạn ở khắp nơi trên thế giới cần vận động để dựng lại các bia mộ tưởng niệm thuyền nhân tử nạn tại các hòn đảo ở các nước Indonesia và Mã Lai Á. Cuộc vận động này mang tính chất tín ngưỡng, cần được các vị lãnh đạo tinh thần dẫn đầu; cũng có tính cách lịch sử, cần các nhà văn hóa và các cơ sở truyền thông góp tay. Chúng ta cần nhắm vào tình nhân loại và lòng hào hiệp của các dân tộc ở Indonesia và Mã Lai Á. Cần vận động giới truyền thông, báo chí, chính quyền và dư luận dân chúng địa phương, những người đã từng chứng kiến cảnh khổ não của những người vượt biển tìm tự do. Họ cũng đã từng tiếp xúc và hiểu biết, thông cảm tình cảnh người tị nạn hơn các viên chức chính quyền trung ương. Chúng ta phải trở lại Pulo Bidong, Galang, vân vân. Phải dựng lại những tấm bia mộ của đồng bào tử nạn. Ðó là bổn phận của những người sống sót đối với những bạn đồng hành không may mắn. Phải chứng minh cho đời nay và đời sau biết: “Những người đã chết đều có thật.”

  15. #75

    Tể tướng Phan : Việt kiều là một bộ phận không thể tách rời của VN

    Tể tướng Phan họp báo:

    http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/In...26&ChannelID=2
    Thứ Ba, 21/06/2005, 00:30 (GMT+7)
    Họp báo trên đất Mỹ, Thủ tướng Phan Văn Khải:

    Việt kiều là một bộ phận không thể tách rời của VN


    .................................................. ...........



    ********************************************


    Đề nghị của NND:
    "
    .... Ðiều tốt nhất mà ông Phan Văn Khải có thể làm được là trước khi đặt chân lên đất Mỹ, ông hãy ra lệnh nhân viên ngoại giao của ông yêu cầu các nước Mã Lai Á và Indonesia bỏ lệnh phá các tượng đài đi. Không lẽ khi đến Mỹ ông lại thanh minh rằng cái nghị quyết số 36 của các ông chỉ nhắm vào người còn sống thôi, còn những người đã chết bỏ qua! Vì chỉ người còn sống mới có tiền!"

  16. #76

    Tị Nạn Việt Ở Phi Bắt Đầu Nhận Thư Mỹ Gọi Phỏng Vấn

    vietbao.com
    ố: 3777
    Ra Ngày: 5/8/2005

    Tị Nạn Việt Ở Phi Bắt Đầu Nhận Thư Mỹ Gọi Phỏng Vấn

    BÁO CÁO CỦA CộNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TẠI PHI LUẬT TÂN
    Ngày 30 tháng 7 năm 2005
    Báo cáo 6 tháng đầu năm.
    1- Qua kết quả bầu cử Ban Chấp Hành (BCH) nhiệm kỳ 2 vào ngày 8 tháng 2 năm 2005, các ứng viên đã ứng cử vào các chức vụ: chủ tịch Lâm Kim Tài (Palawan), phó chủ tịch Nguyễn Thái Học (Legaspi), thủ quỹ Hà Thị Hải (Ilo-ilo) và thư ký Nguyễn Trần Hào (Naga). BCH nhiệm kỳ 2 của Cộng Đồng Người Việt tại Phi Luật Tân đã chính thức bắt tay vào làm việc từ lúc bàn giao vào tháng 2 năm 2005. BCH đã mời ông Nguyễn Nam Lộc (Hoa Kỳ), anh Đoàn Việt Trung (Úc) và LS Trịnh Hội làm cố vấn cho cộng đồng.
    2- BCH, các đại diện vùng đã phối hợp với văn phòng trong việc đưa người đến các vùng hướng dẫn hồ sơ và lời khai cho đồng bào, chuẩn bị cho việc phỏng vấn với phái đoàn Mỹ sắp đến.
    3- Vào cuối tháng 4 đầu tháng 5, Ban Chấp Hành Cộng Đồng và văn phòng đã phối hợp để đón phái đoàn LS Huy Tuấn từ Texas sang hướng dẫn và cố vấn pháp lý về lời khai cho các đồng bào, đặc biệt là cho các đồng bào hồ sơ có vấn đề như: có nhiều hôn thú, có nhiều tên, có vợ hay chồng Phi, hồ sơ BV, v.v... Đồng thời BCH cũng có gặp ông bà Dương Phục và Vũ Thanh Thúy của đài phát thanh Sài Gòn-Houston.
    4- Bác sĩ Cần và Thầy Thích Nguyên Thảo ở Canada đã đến thăm đồng bào, BS và Thầy đã gặp gỡ và cầu nguyện cho đồng bào Phật Tử tại Phi, BS và Thầy đã thuê một địa điểm ở gần văn phòng để thành lập Niệm Phật Đường. Nơi này cũng có thể làm nơi tá túc tạm thời cho những đồng bào về Manila phỏng vấn mà không có chỗ ở. Sau khi về lại Canada Thầy Thích Nguyên Thảo đã gây quỹ giúp cho đồng bào.
    5- Vào ngày 15 tháng 5 đại diện của IOM và tòa đại sứ Mỹ đã tổ chức một cuộc họp mặt với đồng bào trong làng Việt Nam tại Palawan. Mục đích của cuộc họp mặt là để giải thích về tiến trình của chương trình tái định cư VRPP. Có hơn 100 đồng bào đã tham dự cuộc họp này.
    6- BCH có gặp mặt với một số chủ nợ để tìm một giải pháp dung hòa cho vấn đề nợ nần của đồng bào. BCH đã gởi thông báo về vấn đề nợ nần đến từng vùng để mọi người biết, kêu gọi những người có nợ nên thanh toán vấn đề nợ nần hay đi đến một thỏa thuận đôi bên, để không ảnh hưởng đến vấn đề định cư của đồng bào.
    7- BCH phối hợp làm việc với Thomas Nguyen để phân phối các bảng dịch bảng câu hỏi phỏng vấn của từng người đến từng vùng cho các đồng bào kịp trước khi vào sơ vấn.
    8- Văn phòng và BCH cộng đồng đã thành lập một ủy ban để giúp đỡ cho những đồng bào đang gặp khó khăn, đặc biệt là những người không có phương tiện để về Manila gặp phái đoàn Mỹ, những người đau bệnh. Ủy ban gồm có 3 người, 1 đại diện của văn phòng Nguyễn Quân, 1 đại diện của chùa bên Canada chị Nhung Davis và 1 đại diện của cộng đồng Nguyễn Thanh Hiếu (Cagayan de Oro). LS Hội và cộng đồng người Việt ở hải ngoại đã vận động gây quỹ được khoảng 40 ngàn $US. Số tiền này sẽ được ủy ban quản lý, duyệt xét và giúp đỡ các đồng bào đang gặp khó khăn một cách công bằng và hiệu quả. Thời gian vừa qua ủy ban đã giúp đỡ được hầu hết các đồng bào không có phương tiện để về Manila gặp phái đoàn LS để được cố vấn hồ sơ, gặp phái đoàn sơ vấn của Hoa Kỳ và một số đồng bào đau bệnh không có tiền thuốc men và đang gặp khó khăn túng quẫn. Bước kế tiếp ủy ban sẽ tiếp tục giúp đỡ tiền xe tàu cho các đồng bào về Manila gặp phái đoàn phỏng vấn của Hoa Kỳ.
    9- BCH đã họp mặt các đại diện vùng vào ngày 17 tháng 6, qua cuộc họp các đại diện đã đi đến một quyết định chung là nên gặp CADP để xin giúp đỡ cho các đồng bào đang gặp khó khăn từ ngân quỹ tị nạn mà CADP đang giữ. BCH đã gặp Đức Ông Tài để nhờ Đức Ông nói chuyện với CADP giúp đỡ cho các đồng bào đang gặp khó khăn. BCH cũng đã gởi thư và danh sách những đồng bào cần giúp đỡ theo đề nghị của Đức Ông.
    10- Ngoại trừ quỹ xã hội dành riêng cho vấn đề giúp đỡ, ngân quỹ hoạt động của công đồng cũng rất eo hẹp trong nhiệm kỳ 2 này, từ đầu nhiệm kỳ BCH hoạt động bằng số tiền ít ỏi còn lại từ nhiệm kỳ trước, hiện tại ngân quỹ đã hết, việc kêu gọi đồng bào đóng góp cũng rất khó khăn trong thời điểm tế nhị này.
    11- Trung Tâm Vân Sơn đã tổ chức một đại nhạc hội miễn phí phục vụ đồng bào vào ngày 18 tháng 6 tại Manila.
    12- Trong tháng 7 vừa rồi có phái đoàn của Hòa Thượng Thích Giác Nhiên đã đến Phi Luật Tân để cầu siêu cho hương linh của những đồng bào đã bỏ mình trên biển trên đường ra đi tìm tự do, hay các đồng bào đã mất tại trại tị nạn. Phái đoàn được tiếp đón và hướng dẫn đến những nơi cần thiết bởi chủ tịch cộng đồng và một số đồng bào.
    13- Thông tin về Hoa Kỳ: IOM-VRPP chính thức sơ vấn đồng bào bắt đầu từ ngày 11 tháng 5 năm 2005 và sẽ hoàn tất vào khoảng tuần đầu của tháng 8. Phái đoàn CIS của Mỹ sẽ bắt đầu tiến hành phỏng vấn đồng bào vào ngày 16 tháng 8 năm 2005. Có nhiều đồng bào đã nhận được thư gọi đi phỏng vấn.
    14- Thông tin về Canada: Bộ Di Trú Canada đã chấp thuận cho những đồng bào có thân nhân ruột thịt tại Canada được đi định cư ở Canada, khoảng 200 đồng bào có thân nhân đang được xúc tiến làm giấy tờ và các thủ tục cần thiết.
    15- Thông tin về Na Uy: Chính phủ Na Uy đã chấp thuận cho 98 đồng bào có thân nhân ở Na Uy được đi định cư ở Na Uy, chính sách về việc định cư đã được chính phủ Na Uy công bố, văn phòng đang xúc tiến làm giấy tờ và các thủ tục cần thiết cho các đồng bào này.
    Xin cám ơn.
    Hao Nguyen
    Thư Ký của VCP

  17. #77

    Phỏng vấn: Nguyễn Huỳnh Nha Trang (Saigon Times)

    Phỏng vấn: Nguyễn Huỳnh Nha Trang - Nữ Luật Sư Tình Nguyện Sang Phi Giúp Đồng Bào

    Là những người Việt tỵ nạn CS, thấu hiểu được những đau khổ của người Việt tỵ nạn CS còn kẹt tại Phi Luật Tân, nên trong thời gian mấy năm trở lại đây, đã có nhiều luật sư trẻ Việt Nam tại Úc, Mỹ, Canada... đã lần lượt tình nguyện đến Phi để giúp đỡ người Việt có cơ hội được định cư tại các quốc gia đệ tam. Trong số đó, có LS Trịnh Hội, một luật sư gốc Việt đã bỏ nhiều năm làm công tác thiện nguyện để giúp đồng bào Việt tỵ nạn tại các đảo, và nay có cô luật sư trẻ Nguyễn Huỳnh Nha Trang từ Melbourne cũng đã tình nguyện sang Phi làm việc tại Văn phòng Trợ giúp Luật pháp cho người Việt tại Manila. Theo bản báo cáo tháng 5 của cô Linda Phillips, sinh viên luật tại NSW đã liên tục tình nguyện giúp đỡ đồng bào tại Phi 4 năm qua, thì hiện tại văn phòng ở Phi có tất cả 15 tình nguyện viên, trong đó có Nhung, Mai, Quân, Sarah, Thomas, Linda và Shannon từ các nước Úc, Mỹ và Canada... Riêng Nhung và Mai sắp trở lại Canada; Linda đã về lại Úc, và Văn phòng Cộng đồng Người Việt tại Manila (Vietnamese Community in Australia) đang lầm vào cảnh thiếu người trầm trọng. Luật sư Nha Trang sang Phi kỳ này để đáp ứng nhu cầu cấp thiết của toàn thể đồng bào tại Phi trong chiều hướng giúp đỡ đồng bào được phái đoàn Mỹ chấp thuận cho định cư. Được biết nữ LS Nha Trang sẽ lên đường vào ngày 01/08/05 để kịp cho chuyến phỏng vấn đợt đầu của Phái đoàn Mỹ với khoảng 1,800 đồng hương tại Phi. Khâm phục trước thiện chí phục vụ cộng đồng của nữ LS Nha Trang, đại diện SGT đã nhanh chóng thực hiện một cuộc phỏng vấn LS, và sau đây là chi tiết bài phỏng vấn.
    *

    SGT: Chào Luật sư Nha Trang. Chúng tôi là đại diện báo Saigon Times muốn có một số câu hỏi để độc giả biết rõ hơn về công việc của Trang.
    LS Nha Trang: Trang xin chào Chú và quý độc giả báo SaigonTimes.
    SGT: Trang có thể cho độc giả biết sơ về Trang?
    LS Nha Trang: Dạ! Trang sinh tháng 5/1982, tại Palawan, Phi Luật Tân,và năm nay được 23 tuổi. Trang tốt nghiệp Cử nhân Luật khoa và Cử nhân Văn khoa tại Đại học Monash, Victoria vào cuối năm 2004. Hiện nay Trang đang sống với Ba Mẹ và em trai.
    SGT: Trang vừa nói là sinh ra ở Phi Luật Tân, vậy sao Trang lại có cái tên thiệt đẹp là Nha Trang?
    LS Nha Trang: Dạ! Ba Mẹ Trang vượt biên từ Nha Trang đến đảo Palawan tháng 3/1981. Trang được sinh ra từ trại tỵ nạn Palawan, nhưng để nhớ về thành phố đầy kỷ niệm và cũng là nơi Ba Má đã sống, Ba Má đặt tên cháu là Nha Trang. Trang rời Palawan đến Melbourne ngày 23/06/1982, nghĩa là lúc đó Trang vừa hơn 1 tháng tuổi (one month and few days).
    SGT: Trang nói tiếng Việt khá như vậy, liệu có đọc được tiếng Việt không?
    LS Nha Trang: Dạ có, nhưng tiếng Việt của Trang không trau chuốt bằng Anh ngữ và ngay cả nói tiếng Việt cũng còn phải học nhiều. Thỉnh thoảng Trang có đọc một số truyện ngắn trong các nguyệt san chứ truyện dài cũng chưa đọc nổi. Trong gia đình cuả Trang, tiếng việt là ngôn ngữ chính được sử dụng hàng ngày nên nhờ vậy, Trang cũng có cơ hội học hỏi thêm tiếng Việt. Lúc ở Trung Học, Trang có học tiếng Việt ở trường Việt ngữ vào mỗi thứ bảy. Bây giờ chuẩn bị sang Phi giúp đỡ người Việt bên đó, Trang nghĩ là Trang sẽ có thêm cơ hội học hỏi tiếng Việt từ đồng bào ở Phi...
    SGT: Như vậy tương lai khi gặp Trang ở Phi về, lúc đó chắc chú phải học lại tiếng Việt của Trang. À, Trang có tham gia sinh hoạt do Cộng đồng Người Việt Tự do tại Victoria tổ chức không?
    LS Nha Trang: Dạ có, Trang là môn sinh của Vovinam và đã tham gia làm trật tự viên trong những dịp Tết tại Hội chợ cộng đồng Victoria. Trang cũng thích hội họa, và đã có một số tranh có chủ đề về văn hóa Việtnam được trưng bầy trong những dịp này.
    SGT: Thiệt vậy sao? Trang thật là một cô gái Việt Nam đa tài. Mà làm sao Trang biết đến chương trình Trợ giúp Luật pháp của cộng đồng VN (Vietnamese Community of Australia) tại Manila?
    LS Nha Trang: Dạ, gia đình Trang đến Úc từ Phi. Do đó những chuyện liên quan đến đồng bào tỵ nạn tại Phi, Ba Má Trang đều quan tâm theo dõi.
    SGT: Theo chú biết thì Trang vừa mới học xong, hiện đang có việc làm ổn định. Vậy thì động lực nào thúc đẩy Trang đi làm thiện nguyện cho đồng bào?
    LS Nha Trang: Dạ, hiện nay Trang đang làm việc trong một công ty Luật. Tuy nhiên Trang nhận thấy rằng trong thời điểm này, sự giúp đỡ cho người tỵ nạn trong việc định cư tại nước thứ ba là cần thiết và cấp bách hơn công việc Trang đang làm. Ba Mẹ Trang thường nói với Trang và em của Trang rằng ước muốn của hai người là dạy dỗ các con nên người và giúp đỡ đồng bào khi cần thiết. Gần đây Ba Trang có gửi đi những thỉnh nguyện thư SOSVietphi.com để xin chính phủ Canada cấp thêm visa cho đồng bào còn kẹt tại Phi. Vì vậy, Trang nghĩ nếu Trang đi Phi giúp đồng bào thì Ba Mẹ Trang chắc chắn sẽ vui lòng. Và Trang hứa với mình hôm làm lễ tốt nghiệp là sẽ vinh danh Ba Mẹ đã cực khổ nuôi chị em Trang nên người. Ngoài ra Trang cũng là thành viên trong Cộng đồng NVTD tại Victoria, nên Trang luôn luôn tự nhủ với lòng là sẽ cố gắng đóng góp những gì Trang có thể làm được. Mặt khác, Trang được sinh ra ở Phi, được qua Úc học thành tài sau hơn 20 năm, nay những người Việt kém may mắn vẫn còn bị kẹt lại, có người 15 năm hoặc hơn nữa. Họ không có tương lai thật là tội nghiệp, nên Trang thấy mình có bổn phận giúp đỡ họ, giống như những người Việt đi trước đã giúp đỡ gia đình Trang vậy đó.
    SGT: Được biết Trang chưa trở thành Luật sư thực thụ. Tại sao Trang không chờ việc học của mình hoàn tất rồi sẽ đi?
    LS Nha Trang: Hiện nay Trang đang học khóa luật sư tập sự. Cậu Thuần, bạn của Ba Mẹ Trang cũng là luật sư ở Sydney, là người trực tiếp khuyến khích Trang đi Phi và nói rằng nếu chờ đến cuối năm khi Trang trở thành luật sư thực thụ rồi mới đi giúp thì e rằng không còn người Việt tỵ nạn nào cần đến sự giúp đỡ của Trang nữa. Vả lại lúc này LS Trịnh Hội và tất cả đồng bào đang cần những người như Trang cho cuộc phỏng vấn đầu tiên của Phái đoàn Mỹ vào tháng 8 tới và sự chấp thuận của chính quyền Gia-Nã-Đại cho định cư 200 gia đình nên Trang quyết định xin Ba Mẹ đi ngay cho kịp.
    Hơn nữa, trao đổi qua email với cô Linda Phillips, người Úc tại NSW, cô còn hai môn nữa mới hoàn tất chương trình học. Vậy mà chú có thể tượng được không, cô đã làm việc ròng rã 4 năm ở bên Phi cho văn phòng VCA rồi đó. Điều này Trang nghĩ cô thấy có những việc quan trọng và cấp thiết hơn việc lấy bằng Cử nhân Luật. Vì vậy, Trang cũng noi gương cô Linda...
    SGT: Với quyết định đi Phi của Trang, Ba Mẹ và mọi người chung quanh chắc chắn ủng hộ Trang và tự hào về Trang lắm?
    LS Nha Trang: Dạ có. Ba Mẹ Trang rất mừng vì Trang làm được công việc mà Ba Mẹ Trang không làm được. Ngoài ra bạn bè của Ba Mẹ và tất cả bà con đều ủng hộ Trang. Nhân đây, Trang cũng xin được gửi lời cám ơn các Bác, các Cô, Cậu trong “little group” Võ Tánh và Nữ Trung Học Nha Trang ở Úc đã đài thọ tiền vé máy bay và bảo hiểm cho Trang. Đặc biệt, Trang cũng xin cảm ơn cô Trần Thị Thu – Editor in chief báo Tin Viet News ở San Jose California Hoa kỳ đã tặng Trang $500 US. Đó là niềm khích lệ rất lớn đối với Trang.
    SGT: Trang dự định đi chuyến này bao lâu?
    LS Nha Trang: LS Trịnh Hội muốn Trang đi 6 tháng, và tùy theo tình hình Trang có thể ở lại lâu hơn 6 tháng để hoàn tất công việc.
    SGT: Trước khi lên đường, Trang có điều gì nhắn nhủ không?
    LS Nha Trang: Trước hết Trang xin cám ơn Ba Mẹ Trang đã thông cảm và ủng hộ quyết định của Trang. Sau đó toàn thể gia đình nội, ngoại, bạn bè của Ba Mẹ cũng như bạn bè của Trang đã ủng hộ từ vật chất lẫn tinh thần trong chuyến đi này. Trang xin hứa sẽ dùng sự hiểu biết của mình để giúp đỡ đồng bào trong việc sớm định cư tại Mỹ và Gia-Nã-Đại. Ngoài ra Trang cũng cám ơn luật sư Trịnh Hội đã cho Trang cơ hội thực hiện được giấc mơ phục vụ đồng bào mình ở Phi. Đồng thời các bác, các chú như ông Đoàn Việt Trung, Phan Đông Bích và Viễn Trinh có liên lạc để phỏng vấn Trang cũng như đã nhiệt tình cổ võ Trang. Trang cũng đặc biệt cám ơn Ls Thuần đã trực tiếp dàn xếp chuyến đi của Trang và “little group” Võ Tánh và Nữ Trung Học Nha Trang tại Úc đã ủng hộ tiền vé máy bay. Trang không biết có đáp lại được lòng mong mỏi của các chú, các bác không nhưng Trang sẽ cố gắng hết mình trong việc phục vụ bà con cô bác tại Phi.
    SGT: Còn với đồng bào bên Phi, Trang có nhắn nhủ gì không?
    LS Nha Trang: Trang muốn đến với đồng bào tại Phi với tư cách là một người Việt sinh tại Phi và nay trở về nơi chốn mình sinh ra để giúp đỡ đồng bào. Đối với họ, Trang chỉ may mắn thôi chứ không có gì đặc biệt. Ngoài ra Trang cũng hy vọng bạn bè thuộc thế hệ của Trang hoặc thế hệ sau Trang cũng sẽ đến với nhau bằng cảm xúc của trái tim tuổi trẻ để giúp đỡ đồng bào vươn lên trong hoàn cảnh khốn khó nơi đất khách quê người. Nhìn thấy họ được sung sướng, hạnh phúc thì Trang cũng sẽ sung sướng hạnh phúc theo.
    SGT: Thay mặt độc giả Sàigòn Times, xin chân thành cảm ơn thì giờ qúy báu của Trang, và chúc Trang thượng lộ bình an, luôn luôn toại nguyện trong việc phục vụ đồng bào Việt tỵ nạn CS tại Phi.

  18. #78

    Thuyền trưởng Anh Quốc, Norman Dixon

    Thuyền trưởng Anh Quốc, Norman Dixon, vớt người biển Đông được vinh danh tại Little Sàigòn
    Sunday, August 14, 2005


    Nghị Viên Frank Fry đang trao bằng tưởng lục của City of Westminster cho thuyền trưởng Norman Dixon, tàu Geomitra về việc đã vớt 57 thuyền nhân Việt Nam trên biển Ðông, ngày 11 tháng Bảy năm 1986. (Hình:Nguyễn Ngọc Chấn)

    Nguyễngọchấn, cnn



    Westminster, CA - “Tôi chỉ là một thành viên của chiếc tầu Geomitra, của công ty Shell, khi nhìn thấy chiếc thuyền rách nát đầy người, ngập nước, gần đắm, không thể làm ngơ được chúng tôi đã thả lưới kéo họ lên tàu.” Lời phát biểu của thuyền trưởng Norman Dixon làm cho mọi người xúc động trong buổi đón chào và vinh danh ông tại phòng sinh hoạt nhật báo Viễn Ðông, ngày 7 tháng Tám, 2005.

    Trước đông đủ viên chức Mỹ, Việt tại thủ đô tỵ nạn và Washington về, ông Norman Dixon từ Luân đôn sang thăm Hoa Kỳ, hình dung lại cảnh tượng đã xẩy ra cách đây 19 năm: “Chiếc thuyền của họ như một chiếc lá tre chen chúc nhau có 57 sinh mạng. Sau 9 ngày bị giông bão, không biết vì phép mầu nào thuyền vẫn chưa chìm. Khi quan sát, chúng tôi thấy nước đã mấp mé mạn thuyền, người ta bì bõm nằm dưới nước. Ðã 9 ngày, họ không còn lương thực, chẳng còn nước uống, máy và bánh lái thuyền đã hư hại hoàn toàn. Chiếc thuyền trôi lềnh bềnh trong tình ấy suốt mấy ngày trước khi gặp tàu chúng tôi. Chắc hẳn giờ định mệnh của họ đã gần kề.”

    Ngày 11 tháng Bảy năm 1986, ông Norman Dixon là sĩ quan “Chief Officer,” dưới quyền điều khiển của thuyền trưởng Phillips. Ông cho lệnh vớt người lên tàu. Tất cả 57 người đều rũ liệt chờ chết. Có 20 người đàn ông (trên 18 tuổi), 7 phụ nữ, 18 bé trai và 12 bé gái. Khởi hành từ Vạn Ninh tỉnh Khánh Hòa. Vì có nhiều người quá yếu, tàu Geomitra đã phải ghé vào Nhật Bản để chữa trị và lập thủ tục với Phủ Cao Ủy.

    Hầu hết những thuyền nhân từ con thuyền này đang định cư tại Nhật Bản và Úc. Ở Hoa Kỳ có 7 người, cả 7 người đều có mặt trong buổi chào mừng ông Norman Dixon tại quận Cam.

    Viên chức địa phương có ông bà Frank Fry, đại diện bà thị trưởng Westminster, trao tặng ông Dixon tấm bằng lưu niệm của thành phố. Tiến sĩ Nguyễn Ðình Thắng, giám đốc cơ quan SOS Boat People, trao tặng thuyền trưởng Norman Dixon tấm plaque và, ngợi ca lòng nhân đạo của ông.

    Ông Nam Lộc, đại diện cơ quan Di trú, Nhập Tỵ Nạn Ðông Dương USCC đã kính cẩn cúi chào với lời chân tình: “Ở vào thời điểm 1986, nhiều quốc gia, nhiều con tàu đã bắt đầu ngoảnh mặt làm ngơ trước những chiếc thuyền nhỏ bé của người tị nạn. Ông Norman Dixon là một trong số ít những người đã can đảm nhận lấy trách nhiệm, cứu vớt thuyền nhân Việt Nam đang lênh đênh trên biển, chờ chết. Việc làm này đã nói lên tính nhân đạo của ông và thủy thủ đoàn tầu Geomitra. Tôi xin kính cẩn cúi đầu bái phục và biết ơn quí vị.”

    Tiếp theo là đại diện của dân biểu Trần Thái Văn, Dân biểu Loretta Sanchez, Bà Mộng Lan đảng Cộng Hòa Việt Mỹ, bác sĩ Tiffany đại diện nhà Văn Hóa Việt Nam Pomona, mỗi người đều trao ông bà Dixon những bằng tưởng lục và những lời biết ơn chân thành của cơ quan mình.

    Chuyện vớt người trên Biển đông diễn ra cách đây 19 năm, và lần đầu thuyền trưởng Norman Dixin được gặp mặt những người ông đã cứu sống. 7 người có mặt tại Hoa Kỳ gồm ông Lê Văn, bà Lê Kiều Lam, Lê Kiều Thi, Lê Kiều Giang. Gia đình ông Nguyễn Văn Sen có cháu Nguyễn Tố Như, Nguyễn Quỳnh Như. 7 người được giới thiệu với ông Thuyền trưởng Norman Dixon. 19 năm trước được bốc lên sàn tàu Geomitra họ đều như những cái xác không hồn, giờ đây, trước mặt quí khách và đồng hương, họ là các thanh nữ xinh đẹp, tốt nghiệp đại học, dược sĩ, nha sĩ. Thân phụ các em đang là những thương gia, giáo chức khả kính. Ông Lê Văn, đã góp công đào tạo hàng ngàn người Việt Nam trở thành những người thợ tóc, móng tay và chuyên viên trang điểm, nhiều người đang làm chủ nhân khá phồn vinh.

    Với tấm lòng biết ơn cứu tử, sau khi cuộc sống tạm ổn, gia đình ông Lê Văn đã tìm kiếm và tiếp xúc được với thuyền trưởng Norman Dixon. Mối dây liên hệ giữa hai gia đình thân thiết hơn khi ông Dixon về hưu sống tại Luân Ðôn. Hàng năm họ vẫn trao đổi thư tín, điện thoại.

    Năm nay, nhân dịp gả con, ông Lê Văn đã khẩn khoản mời ông Norman Dixon và bà Wendy sang dự đám cưới, đồng thời gặp lại những người ông đã cứu vớt. Ðược biết câu chuyện ân nghĩa và đầy tình người, ban tổ chức làm buổi lễ đơn sơ nhưng rất ý nghĩa.

    Thuyền trưởng Norman Dixon phát biểu: “Tôi rất đỗi ngạc nhiên với những nghi thức quí vị dành cho tôi. Khi nhận trách nhiệm vớt những thuyền nhân mắc nạn trên biển, tôi chỉ thi hành đúng luật hàng hải và lẽ con tim, cứu người khi hoạn nạn không là trách nhiệm của riêng ai. Tôi chỉ là một thành viên tham dự vào tiến trình cứu người ấy.”

    Ông phát biểu: “Tôi rất vui mừng được biết họ đã mạnh lành, gia đình phát đạt, con cái thành công. Chúng tôi vẫn trao đổi tin tức và theo dõi thường xuyên. Nhân dịp cháu gái lập gia đình tôi sang mừng cháu và chia vui với ông bà Lê Văn, không ngờ tôi bị bắt cóc lên sân khấu như thế này.”

    Dù sao tôi cũng rất cám ơn sự ưu ái của quí vị, tôi xin nhận phần thưởng tinh thần này với tư cách một thành viên của chiếc tầu Geomitra, đã làm được một điều phải cách đây 19 năm.”

  19. #79

    Một câu chuyện đáng nhớ và đáng quên: 2 con người, 2 tư cách (Phạm Đ. Khuê)

    Tôi vượt biên tới đảo Galang khoảng tháng 8 năm 1984 thì vài tháng sau trong một lần đi từ Galang 2 ra Galang 1 chơi một người bạn tình cờ chỉ tôi một ông già tóc bạc và nói: Trầm Tử Thiêng đó. Thật tình mà nói tôi không để ý nhiều đến nhạc nên cũng không mấy chú ý tới ca/nhạc sĩ mấy nên cũng phớt tỉnh Anglais cho xong (trừ mấy người qúa nổi tiếng thì tôi có biết).

    Vài tháng sau, trong dịp tết 1985 tại Galang, một lần nữa tôi được dịp thấy ông Trầm Tử Thiêng trên sân khấu. Trong dịp đó ông có phát biểu một câu mà có lẽ đã làm rơi lệ khá nhiều người. Xin mạn phép ông, một người đã mất, để xin trích đoạn và hy vọng trí nhớ tôi không phai lãng lời nói cách đây 20 năm nhiều: "Chúng ta là những người có cha mẹ mà không được cận kề để phụng thờ, có quê hương mà không được sống. Dắt víu nhau đến phương trời này ...". Xin nói thật, đây là 1 trong vài câu nói mà tôi khó quên trong suốt cuộc đời. Nó thật ấm áp lòng người và tình đồng bào trên một hòn đảo nhỏ xa quê hương. Trong thời gian ở đảo hình như ông có sáng tác hai bài nhạc: Chiều KuKu và Mưa Galang. Nếu bạn có dịp như tôi đã từng sống qua KuKu và Galang ở Indonesia thì có lẽ, trên thực tế, một buổi chiều tà ở Kuku và Mưa ở Galang sẽ làm bạn khó quên (Cũng như người Huế nói về Mưa ở Huế, hay dân Quảng Ngãi nói về mưa bão ở miền đất nàỵ Tôi sanh ra ở Quảng Ngãi nhưng lớn lên ở Sài Gòn nhưng câu chuyện về bão lụt thì nghe nhắc lại mãi từ những thế hệ trên tôi).

    Bẵng đi một thời gian, tôi ít nghe nói về ông nhưng từ khi có trung tâm Asia thì tên ông lại được nhắc lại. Tôi thích nhạc ông vì trong mỗi bài nhạc nó có một chút gì rất VN, rất tình người và làm cho ta hãnh diện mình là người VN (Bên Em Đang Có Ta, Bước Chân VN, Cám Ơn Anh, Chuyện Chiếc Cầu Đã Gẫy, Có Tin Vui Giữa Giờ Tuyệt Vọng, Hẹn Nhau Năm 2000, Một Ngày VN, Những Con Đường Trắng, Tình Đầu Một Thời Áo Trắng, Việt Nam Niềm Nhớ, v.v...) Tôi yêu thích nhạc ông và cầu mong sau ông sống mãi để sáng tác những bản nhạc hay cho hôm nay và mai sau.

    Sinh-Lão-Bệnh-Tử, chuyện gì đến sẽ đến. Ông ra đi trong im lặng và hình như Trung Tâm Asia có một chương trình vinh danh ông. Có thế thôi, thân cát bụi ông đã trở về với cát bụi. Không ồn ào, náo nhiệt. Tác phẩm ông, những gì ông đóng góp cho đất nước thật nhiều và thật qúi giá và hữu ích (Khi có dịp qua Orange County, tôi có nghe hình như ông có lập ra một thư viện cộng đồng). Ông đóng góp nhiều nhưng tên tuổi ông vẫn im lặng một cách mù mờ. Tôi không sống ở Little Saigon cũng như không có dịp để biết rõ về ông nhưng trong những gì tôi biết được về ông đều tốt và có lẽ đó là điều mà mỗi một con người sinh ra trên thế giới hiện hữu này đều chỉ mong có thế. Trong DVD mới của Asia kỷ Niệm 30 Năm Hành Trình Tỵ Nạn có nhắc về ông. Hy vọng rằng trong một dịp nào đó Trung Tâm Asia sẽ có một chương trình về riêng ông, về cuộc đời ông, giới thiệu những đóng góp của ông trong cũng như ngoài nước. Hy vọng anh Trúc Hồ có thể làm được việc nàỵ

    Một người khác, nổi tiếng hơn Trầm Tử Thiêng nhiều, số lượng sáng tác cũng trội hơn nhiều và có lẽ sinh ra là người VN thì hầu hết điều biết đến ông nếu có dịp hát đến bản nhạc Việt Nam, Việt Nam - "Việt Nam, Việt Nam nghe tự vào đời ...", v.v. Báo chí trong và ngoài nước, trước và sau 75 đã nhắc nhở đến tên tuổi ông nhiều . Trước 75 tôi chỉ là một cậu bé nhỏ nhưng ít nhất tôi cũng biết được tên ông và ít nhất một lần hát bản nhạc ông viết: Việt Nam, Việt Nam. Ngày qua đây, học ESL, bà thầy người Canada bản xứ yêu cầu chúng tôi một nhóm dăm ba đứa VN hát bài nhạc nàỵ Tôi hầu như hát bản nhạc này trong hãnh diện và nước mắt.

    Trong cuộc sống "hữu xạ tự nhiên hương", chúng ta không cần phải ồn ào quảng cáo (trừ phi cho mục đích thương mại) về chính mình. "Giàu có thì ở trên núi cũng có kẻ tìm, bần hàn thì ở giữa chợ cũng không ai thèm để ý".
    Một người đã có danh, có tiền tài và đã qua xa cái tuổi gọi là "Tứ Thập Bất Hoăc, Ngũ Thập Tri Thiên, Lục Thập Nhĩ Truật" thì cõi đời này chỉ là phù du. Ngày mai có trở về cõi vĩnh hằng thì cũng đã mãn nguyện với chính mình rằng "Ta đã làm được những gì ta muốn làm cho chính đời ta". Ý tôi muốn nói rằng với từng lưá tuổi ấy hãy nhìn cuộc sống với một cái nhìn bất cần. Hãy mãn nguyện với những gì mình có. Ồn ào lắm chỉ là việc thừa. Tôi đã có lần từng nói với vợ tôi "Anh mong sao nhạc sĩ Phạm Duy sống ít nhất cho tới khi ông làm xong "Minh Hoạ Truyện Kiều". Truyện Kiều - Nguyễn Du có một vị trí quan trọng đối với dân tộc VN "Truyện Kiều còn, Tiếng Việt còn, Tiếng Việt còn Dân Việt còn". Tôi yêu Truyện Kiều và mong rằng nó sẽ phổ biến rộng rãi trong dân chúng (Tiếc rằng chính sách giáo dục của chính phủ hiện thời là "Văn Học Trích Giảng" nên chúng ta chỉ biết một phần nào đó của Truyện Kiều mà thôi.) Thành thật mà nói tôi không biết ông đã làm xong hay chưa nhưng tới giờ vẫn chưa thấy gì cả. Mong rằng ông sẽ làm việc nàỵ

    Trong cuộc sống, hôm nay và mai sau, mỗi chúng ta có thể làm việc đúng và sai tùy lúc tùy cảnh. Hy vọng việc đúng sẽ nhiều hơn chuyện saị Tất cả mọi người đều có lý do chính đáng để bảo vệ việc mình làm và đó là căn bản của "Tự Do Ngôn Luận". Người xưa nói "Chỉ Luận về một người sau khi chúng ta đã đóng nắp quan tài của người đó mà thôi". Cuộc đời là phù du, đóng góp của mỗi bản thân đối với gia đình, bà con, người xung quanh và xã hội tự nó sẽ được ghi nhận. Ồn ào chỉ làm hại cho mình mà thôi . Hy vọng mỗi chúng ta sẽ học được một điều gì đó từ hai con người kể trên.

    khuedinhpham@yahoo.com

  20. #80
    Bí Lù tìm đâu ra bài nầy vậy
    Tác giả Phạm Đình Khuê nầy quê Mộ Đức thì phải
    Không biết anh Tam Thương có biết hông?

Trang 4/14 đầuđầu ... 23456 ... cuốicuối

Similar Threads

  1. Thơ cổ
    By Cổ Lũy in forum Thơ Sưu Tầm
    Trả lời: 6
    Bài mới gởi: 11/17/2004, 09:07 AM
  2. Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 11/10/2004, 09:04 PM
  3. Ngoà hiên...giọt mưa thu...Đọc thư nhà
    By anmota in forum Lịch Sử và Con Người
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 10/23/2004, 12:18 AM
  4. Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 02/21/2004, 03:14 PM

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
About us
Xin đón chào bạn đến với trang Web của xứ Quảng, trang web của toàn thể những người con của xứ Quảng lưu lạc trên khắp những nẻo đường năm châu...

Mọi liên lạc xin gởi về => đây