NGÀY XUÂN VUI HỘI BÀI CHÒI.

Lê Hồng Khánh




Bài chòi là một thú chơi mộc mạc nhưng tao nhã của người bình dân Nam Trung bộ mỗi dịp tết đến xuân về. Trò chơi và cũng là trò diễn nầy thể hiện rất rõ tính cộng đồng ở lối chơi, tính nhân văn trong nội dung câu ca lời hát, đồng thời mang đậm dấu vết riêng biệt về sản xuất và đời sống của cư dân vùng đất trải dài theo ven biển, từ phía Nam đèo Hải Vân cho đến khu vực núi Đá Bia, vào thời kỳ tổ tiên mở cõi.
Gọi là “Bài chòi” vì muốn chơi loại bài nầy người ta phải cất chòi, dựng trại. Tuỳ thuộc vào diện tích sân rộng hay hẹp và tập quán chơi bài của mỗi địa phương mà người ta dựng từ 8 đến 10 chòi, nhưng phổ biến là lối chơi 9 chòi. Sân chơi bài chòi thường là sân đình, sân chùa hoặc nơi họp chợ. Dĩ nhiên, đó chỉ là nơi họp chợ ở làng quê Việt ngày xưa: thường ngày lều quán đơn sơ, tạm bợ; ngày tết, ngày hội dọn dẹp đâu vào đó, trả lại mặt bằng thoáng đãng cho làng.
Trên mặt sân đất trống, người ta bố trí các chòi, trại theo hình chữ nhật, mặt quay vào trong sân. Nếu là 9 chòi thì trên hai cạnh dài dựng mỗi bên bốn chòi, đối diện và tương ứng nhau từng cặp một. Giữa một trong hai cạnh ngắn cất chòi trung ương. Đối diện chòi trung ương là rạp hội đồng, dành cho Ban trị sự. Rạp hội đồng có trống chầu giành cho người điều khiển cuộc chơi, một chiếc bàn lớn đặt khay tiền và những lá cờ hiệu, cạnh đó là chỗ ngồi của dàn nhạc gồm 1 sanh, 1 nhị, 1 kèn, 1 trống tum, có khi thêm 1phèng la.
Khoảng đất trống ở giữa là sân khấu trệt bốn mặt. Đây là không gian giành cho một nhân vật đặc biệt, làm nhiệm vụ quản trò, gọi là Hiệu.Tùy theo tuổi tác và giới tính, người ta gọi là anh Hiệu, chú Hiệu, hay cô Hiệu. Người này phải rành các điệu hát, điệu hò quen thuộc, nhớ nhiều thơ và ca dao, biết pha trò, giỏi ứng tác. Hiệu là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự hấp dẫn của bài chòi. Hiệu có thể là một người, nhưng thường thì có 2 người, một nam một nữ, cũng có khi thêm người thứ ba, làm nhiệm vụ thay bài. Hiệu mặc áo dài, đội khăn đóng, thắt dây lưng đỏ, mặt đánh phấn thoa son như đào kép hát bội.
Chòi được cất theo kiểu nhà sàn, mái lợp tranh hay lá dừa để che mưa nắng, có trang trí thêm lá ngâu, lá đủng đỉnh cho thêm đẹp, nền sàn cao quá đầu người, có thang lên xuống. Mặt trước các chòi hướng ra sân chơi, mặt sau và hai bên che kín. Mỗi chòi có thể làm chỗ ngồi tương đối thoải mái cho 4 người. Trong chòi người ta để sẵn một cái mõ và một đoạn thân cây chuối bằng bắp chân, hay bó rơm bện chặt để người chơi găm con bài và cờ đuôi nheo. Chòi trung ương, lớn hơn các chòi thường một ít, dùng trống thay mõ và dành riêng cho quan khách, các vị có chức tước, địa vị trong làng muốn tham gia cuộc chơi. Chòi nầy còn có thêm chum rượu nhỏ, bộ ấm chén trà để khách quý mời nhau.
Đánh bài thì phải có con bài, đó là những thẻ tre, một đầu bè ra như dầu đủa cả để dán lá bài. Đầu kia nhỏ hơn, vót tròn vê nhọn. Các chân bài nhuộm màu đỏ, giống hệt nhau để khi cho đầu dán bài vào ống thì không phân biệt được từng con bài.
Bộ thẻ bài chòi gồm 27 cặp, chia làm 3 pho (Văn, Vạn, Sách) với các con bài có tên cụ thể như sau:
Pho Văn: Nhất Gối (Chín gối), Nhì Bánh (Hai Bánh, Bánh Hai), Ba Bụng (Bánh Ba), Tứ Tượng(Dái Voi), Ngũ Rốn (Ngũ Rún, Ngũ Ruột, Năm Rún), Sáu Xưởng (Sáu Tiền), Bảy Liễu, Tám Miểng (Tám Miểu), Chín Cu.
Pho Vạn : Nhất Trò (Học Trò), Nhì Bí (Nhì Móc), Tam Quăng, Tứ Ghế (Tứ Móc, Tứ Cẳng), Ngũ Trượt (Ngũ Trật, Ngũ Trợt, Ngủ trưa), Lục Trạng (Lục Chạng), Thất Vung, Bát Bồng (Bát Tuồng), Cửu Chùa.
Pho Sách: Nhất Nọc (Nọc Thược), Nhì Nghèo, Ba Gà, Tứ Xách (Tứ Gióng), Ngũ Dụm (Ngũ Dít, Năm Dày), Sáu Hường (Sáu Nút), Bảy Thưa (Bảy Hột, Bảy Sưa), Tám Dây và Cửu Ðiều (Đỏ Mỏ).
Ngoài ra còn có 3 cặp Yêu, gọi tên là Lão (Ông Ầm), Thang (Thái Tử), Chi (Bạch Huê). Như vậy số lượng bài sẽ là 30 cặp, 60 con. Nếu chơi 9 chòi, người ta phải rút ra 3 cặp bất kỳ trong 3 pho Văn, Vạn, Sách (mỗi pho 1 cặp) để còn lại 27 cặp).
Có tên như vậy, nhưng trên mỗi con bài người ta chỉ dùng mực vẽ những hình gợi tả theo kiểu vừa siêu thực, vừa phồn thực, làm ký hiệu.
Từ 27 cặp bài, (mỗi cặp 2 con bài giống nhau) người ta đem 27 con bài bỏ vào ống. 27 con bài còn lại đem dán vào 9 thẻ lớn, mỗi thẻ 3 con bài để phát cho 9 chòi (mỗi chòi một thẻ), nên thẻ lớn còn gọi là thẻ chòi.
Muốn đánh bài chòi, người chơi phải đến Ban Trị sự (Ban Tổ chức) để ghi danh và sắp xếp vào Hội bài. Người xem đứng dọc theo các chòi và rạp, làm thành một vòng bao quanh sân khấu. Mỗi ngày cuộc chơi kéo dài từ sáng tới khuya, lúc nào cũng rộn ràng âm thanh kèn trống, lôi cuốn thúc giục. Tiếng anh Hiệu hô bài lanh lảnh, tiếng người chơi, người xem đàm luận, vui cười.
Cuộc chơi bắt đầu, trống chầu một hồi ba tiếng gióng lên. Giàn nhạc tiếp theo phụ họa. Những người chơi lên ngồi trên chòi theo sắp xếp của Ban trị sự. Họ có thể rủ bạn bè, thân nhân lên ngồi trong chòi của mình. Hiệu bưng khay đến từng chòi phát bài và thu tiền. Người chơi nhận bài, rồi găm vào khúc chuối hay bó rơm để sẵn. Phát bài xong, Hiệu đến trước rạp vái chào Ban trị sự, rồi hô lớn: “Bài phát ra đã đủ, xin cho Hiệu tính tiền!”. Người điều khiển cuộc chơi đáp lại bằng ba tiếng trống chầu. Một tiếng “Dạ!” vang lên, Hiệu gom tiền, đếm cẩn thận rồi giao cho Ban Trị sự.
Lại thêm một hồi trống. Hiệu dùng hai tay bụm ống tre đựng thẻ lắc đều nhiều lần cho các con bài trộn lẫn vào nhau. Nhón tay rút một con bài, Hiệu ra bộ tản lơ, đủng đỉnh. Tiếng trống chầu thúc liên hồi, âm nhạc tưng bừng, rộn rã, kích thích mọi người. Hiệu múa chân tay, vái chào quan khách và khán giả rồi mới cất giọng hô điệu bài chòi bằng hai câu thơ hay cả bài lục bát. Lời hô có thể ngắn hoặc dài, câu hát có thể thâm trầm ý nhị hoặc hài hước, tếu táo, nhưng câu cuối bao giờ cũng có những từ chỉ định hoặc gợi ý tên con bài vừa mới rút được:

- Hồi nào đói rách có qua
Bây giờ nên xưởng, nên nhà thì lơ.
...Là con Sáu Xưởng!

- Biết đâu mà đợi mà chờ
Tấm thân liễu yếu đào tơ gió lồng.
... Là con Bảy Liễu!


- Ngồi buồn nghỉ giận quan Tây
Bắt dân đi lính xe dây buộc mình
Phuơng trời mù mịt linh đinh
Ở nơi quê kiểng biết thấu tình cho chăng?
… Là con Tám Dây!

Về thể cách, hầu hết các câu hô thai đều thuộc thể lục bát, hoặc lục bát biến thể, nhưng cũng có khi 4 chữ, 5 chữ hoặc các biến cách đa dạng:

- Một anh để em ra
Hai anh để em ra
Về em buôn, em bán
Trả nợ bánh tráng, trả nợ bánh xèo
Còn dư trả nợ thịt heo
Anh đừng lầm em nữa, kẻo mang nghèo vì em.
…Là con Nhì nghèo!

- Dày như múi mít,
Đỏ tựa hột hồng,
Giống cái lá vông
Lại thêm rễ ấu
Xấu thì thật xấu,
Xem vẫn muốn xem
Nói đến thì thèm,
Biểu ăn lại... giận.
…Là con Bạch Huê!

Chòi nào có bài trùng với con bài ấy, đáp lại bằng ba tiếng mõ. Nếu là chòi trung ương trúng thì đánh ba tiếng trống tum. Hiệu trao thẻ bài cho người chạy bài đem đến chòi trúng. Con bài ấy được găm vào khúc chuối cây hay bó rơm. Hiệu lại tiếp tục lắc ống rồi rút con bài khác. Và cũng theo thủ tục hô bài như đã nói trên. Ban đầu trong ống có 27 thẻ bài, nhưng bớt dần theo mỗi lần rút thẻ, cho đến khi có một chòi nào trúng được ba lần, tức là bài đã tới thì mới chấm dứt ván bài. Khi Hiệu hô xong con bài, nếu có chòi trúng lần thứ ba (gọi là tới) thì báo hiệu bằng một hồi mõ dài, chòi trung ương thì báo một hồi trống tum. Từ rạp, Ban trị sự cho nổi lên hồi trống chầu báo hiệu có người thắng cuộc và xong một ván bài. Lúc nầy Hiệu chạy đi các chòi thu hồi thẻ bài, sau đó bưng đến chòi trúng thưởng chiếc khay đựng tiền và lá cờ đuôi nheo xanh đỏ. Người chơi ở chòi trúng thưởng nhận tiền, lấy ra một ít thưởng cho Hiệu. Hiệu lại múa hát tạ ơn, dùng những lời ca tri ân, chúc phúc, cầu năm mới an lành. Cờ thưởng cắm lên chòi trúng thưởng, tỏ điều may mắn, hứa hẹn tân niên thành đạt.
Để chơi ván khác, Hiệu tiếp tục phát thẻ cho các chòi. Trò chơi lại lặp lại quy trình Hô – Trúng –Thưởng. Có điều, với Hiệu thì những câu hô thai sẽ không bao giờ lặp lại suốt cả hội bài chòi, cho dù vẫn là 27 con bài không thay đổi. Tài nghệ làm mê mẫn người nghe, người xem là ở chỗ ấy. Khi có chòi tới ván thứ 8 thì xong một hội. 9 chòi đóng tiền, nhưng chỉ chơi 8 ván vì phải dành tiền ván thứ 9 để Ban trị sự chi tiền thưởng và các chi phí khác cho cuộc chơi. Xong một hội, trống chầu vang lên trọn hồi dài. Ban nhạc tạm nghỉ để chuyện vãn, trà thuốc. Ban trị sự lo chuẩn bị cho hội sau. Người xem giành thời gian bình phẩm giọng ca, tài ứng đối của Hiệu. Người đánh bài, ai muốn chơi tiếp thì ngồi lại trên chòi, bằng không thì xuống, để người chơi khác lên thay.
Theo nhiều nhà nghiên cứu, trò chơi bài chòi có nguồn gốc từ việc dựng chòi giữ nương rẫy của người Việt ở vùng Nam Trung bộ ngày xưa. Bấy giờ, người di cư, chủ yếu từ vùng Sơn Nam hạ, Thanh Nghệ Tĩnh mới vào khai khẩn, làng mạc, nhà cửa còn thưa thớt, đồng bằng nhỏ hẹp ven sông, chân đồi bị vây bọc bởi ao chằm cỏ dại, rừng rậm âm u, thú hoang rình rập phá hoại hoa màu, đôi khi làm hại cả con người. Để xua đuổi muôn thú, bảo vệ thành quả lao lực, người ta phải dựng chòi canh giữ. Chòi dựng bằng tre, lợp lá để che mưa nắng; sàn cao quá tầm tấn công của mãnh thú và bố trí theo hình vuông, chữ nhật, hay hình thuẫn tùy theo địa hình để tiện thanh viện cho nhau. Trên mỗi chòi đều có thanh la, mõ, trống, có khi cả vũ khí. Khi thú rừng kéo đến, những người giữ chòi đồng loạt kêu réo, nổi mõ, trống, thanh la, tạo nên những tràng âm thanh náo động khiến cho chúng hoảng sợ, bỏ chạy. Cho đến khoảng đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, ở một số vùng bán sơn địa phía tây Quảng Ngãi người dân vẫn còn dựng loại chòi nầy để canh chừng chim két kết bầy cắn phá bãi bắp, heo rừng cày ủi đồng mía, rẫy mì. Mấy câu ca còn lưu truyền sau đây, nhại “lời” của bầy thú hoang liều lĩnh mỗi khi mò vào nương rẫy:
“Cốc… cốc… là gốc tre già
Thùng… thùng… là da trâu thúi
Huội… huội… là bay đuổi tao
Đùng… đùng… là tao mới sợ!”
Nầy nhé: gõ mõ (gốc tre già), đánh trống (da trâu thúi), đuổi bằng miệng (huội huội) bọn tao đếch sợ. Chỉ ngán cái súng (đùng đùng…)!
Những người giữ chòi phải thức thâu đêm, vò võ một mình. Để giải khuây, người ta gọi với sang chòi bên để chuyện trò, tâm sự. Rồi những đêm trăng thanh gió mát, bầy thú hoang còn ở nơi xa, đối cảnh sinh tình, giữa các chòi người ta dùng loa hò hát đối đáp nhau để xua cơn buồn ngủ, mà cũng để thổ lộ tâm tình. Một loại hình sinh hoạt văn nghệ dân gian ra đời từ đây, mang dấu ấn rất riêng của vùng đất mới. Từ những chòi giữ hoa màu và những câu hò hát ấy hình thành một trò chơi bình dân độc đáo, diễn ra vào dịp tết Nguyên đán, lôi cuốn biết bao người:
Rủ nhau đi đánh bài chòi
Để con nó khóc nó lòi rún ra!
Lối chơi bài chòi dần dà phát triển thành lối hô bài chòi hay hát bài chòi, một thể loại dân ca rất phổ biến ở miền Nam Trung bộ. Bài chòi chơi 9 chòi, chuyển thành bài chòi 9 ghế, gọi là Bài chòi ghế, rồi trở thành Bài chòi chiếu. Bài chòi chiếu đánh dấu bước tiến dài trên đường tách rời cuộc chơi bài vào ngày tết để chuyển mình thành một hình thức diễn tấu dân gian. Từ những năm 30 của thế kỷ XX, ở Bình Định, rồi sau đó là Quảng Ngãi, bài chòi bước lên sân khấu với Bài chòi lớp, rồi Bài chòi truyện . Bài chòi lớp diễn một hoặc vài lớp hát, như kiểu diễn trích đoạn ngày nay. Bài chòi truyện, công phu hơn, có ông bầu, có đào kép sắm vai, có lớp hát, có tích tuồng mượn từ tuồng cổ hoặc truyện Nôm. Các gánh bài chòi truyện, ngoài những buổi diễn ở bổn quán, còn được mời đi diễn ở nhiều phủ, huyện khác, thậm chí ra ngoài tỉnh, như các gánh bài chòi ở Bồng Sơn, Tam Quan (Bình Định) ra diễn ở Sa Huỳnh (Quảng Ngãi)
Sau hiệp định Genève - 1954, trên đất Bắc, từ Đoàn Văn công Liên khu V, các nghệ sỹ quê ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định (Lệ Thi, Ngô Quang Thắng, Nguyễn Tường Nhẫn, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Kiểm, Đinh Thái Sơn...) chung tay xây dựng kịch chủng mới: Kịch hát bài chòi. Vở diễn đầu tiên là Thoại Khanh Châu Tuấn (Kịch bản Nguyễn Tường Nhẫn) đã thành công ngoài mong đợi, đánh dấu sự ra đời đầy triển vọng của một thể loại kịch hát mới, khai thác chất liệu từ hát bài chòi và dân ca Nam Trung bộ.
Bài chòi chỉ chơi trong dịp tết Nguyên đán, từ 29 hoặc 30 tháng chạp, tuỳ theo tháng thiếu hoặc đủ (ngày dựng nêu) cho đến mùng 7 tháng giêng (ngày hạ nêu). Đây là trò giải trí tao nhã, hào hứng, lấy vui làm chính, không vị chuyện sát phạt, đỏ đen. Người thắng cuộc nhiều khi mang hết số tiền được giải góp quỹ cho làng và thưởng cho Hiệu. Sân chơi bài trở thành điểm vui xuân thu hút đủ mọi hạng người, mọi lứa tuổi. Người đóng vai Hiệu chính là nghệ sỹ bình dân, kho tàng sống lưu giữ nhiều câu ca, điệu hát của đồng dâu ruộng lúa. Nội dung câu thai bài chòi giàu tính nhân văn: vừa vun vén cho điều hay, lẻ phải, đạo lý làm người, ca ngợi quê hương, đất nước, tình nghĩa đồng bào, vừa phê phán những thói hư tật xấu, nhắc nhở ai nấy sửa mình.

Bến Hà Nhai, Trọng đông năm Canh Dần - 2010
LHK