Warning: preg_replace(): The /e modifier is deprecated, use preg_replace_callback instead in ..../includes/class_bbcode.php on line 2958

Warning: preg_replace(): The /e modifier is deprecated, use preg_replace_callback instead in ..../includes/class_bbcode.php on line 2958
Trà giang – dòng sông trơ đáy
kết quả từ 1 tới 2 trên 2

Ðề tài: Trà giang – dòng sông trơ đáy

  1. #1

    Trà giang – dòng sông trơ đáy

    Gần 15 năm nay, sông Trà Khúc đã bị sa mạc hoá. “Trà giang thu nguyệt” nổi tiếng trong thơ Cao Bá Quát nay là dòng sông chết. Phong vị của một vùng đất qua con don, con cá bống và hình ảnh đầy mỹ cảm của bờ xe nước sông Trà cũng chết đi, để lại một khoảng trống không gì bù đắp nổi.




    Ký ức bờ xe nước

    Thôn Trường Xuân, xã Tịnh Hà nằm mé trên cầu Trà Khúc. Trong quá khứ, hình ảnh thơ mộng nhất của bờ xe nước sông Trà được ghi nhận ở đây. Bây giờ, phố mới ở bờ bắc đã tới Trường Xuân. Nơi những bánh xe quay đều ngày xưa chỉ là một vệt lau lách hiu quạnh. Khi một thứ bình thường trong đời sống một ngày không còn nữa, người ta mới chợt nhận ra sự mất mát. Nếu ai hỏi có gì bù đắp sự mất đi của bờ xe nước, người Quảng Ngãi sẽ nói không!



    Bờ xe nước trên sông Trà này chỉ còn trong ký ức. Ảnh: TL



    Ông trùm xe nước cuối cùng Khi chúng tôi tìm ra nhà ông trùm Ân thì gặp đám ma ông trọn Thiết trước ngõ. Buổi chiều buồn trong tiếng thanh la, xập xoã não nề. Ông trùm xe nước cuối cùng ở Trường Xuân bây giờ không còn đủ sức bước chục bước chân ra ngõ tiễn biệt đồng nghiệp của mình về với đất. Ngồi trong hiên nhà, trùm Ân dỏng tai lên nghe tiếng khóc than thương tiếc. “Tôi từ cấp rẽ, lên tới cấp trọn, rồi đến cấp trùm phải mất 60 năm. Những người như trọn Thiết phải có kinh nghiệm làm rẽ trên 20 năm” – trùm Ân hồi tưởng. Trọn Thiết là một trong những người làm bờ xe để đưa nước về cánh đồng Hoà Khê của Sơn Tịnh. Năm 1980 dân Quảng Ngãi được đưa đi làm kinh tế mới trên Tây Nguyên, chính quyền cho vời ông trọn Thiết theo. Trên cánh đồng buôn Triết, lần đầu tiên những người dân Ê-đê nhìn thấy bờ xe nước bên dòng Krông Ana hùng vĩ. Lúc bờ xe nước hết thời, ông trọn Thiết trở về quê, vào chùa đi tu và qua đời ở tuổi 82.
    Dưới triều Nguyễn, khi Phạm Phú Thứ đi sứ Ai Cập, ông đã vẽ lại thiết kế kỹ thuật của guồng quay nước sông Nile mang về thí điểm ở Quảng Nam tại Gò Nổi. Đó chỉ là một bánh xe đơn giống cọn nước phía bắc có nguồn gốc từ Trung Hoa. Không biết ai, khi nào đã sáng chế nên bờ xe nước nhưng chắc chắn đó là những người nông dân bên sông Trà Khúc. Một bờ xe được làm từ 7, 8, 9 và 10 guồng quay đơn ghép lại bằng kỹ thuật phức tạp hơn nhiều guồng quay sông Nile, dưới vai trò “tổng công trình sư” của ông trùm. Dù đã gần 90 tuổi, nhưng ông trùm Ân vẫn còn nhớ như in những ngày đẹp đẽ. Hàng năm, 20.2 âm lịch cho xe xuống nước, mùng 10.8 dọn lên…


    Bờ xe nước sông Trà” (năm 1972) của Nguyễn Ngọc Trinh.

    Năm 1960, trên dòng sông Trà có 110 bờ xe quay nước. Mỗi xe trung bình tưới cho 20 hecta. Những buổi chiều xuân đi dọc sông Trà, nghe tiếng nước reo như tiếng đàn trong gió. Chỉ là một công trình dẫn thuỷ nhập điền, bờ xe quay nước đã đi vào lòng người với rất nhiều mỹ cảm, trở thành biểu tượng quê hương. Rồi một ngày, bờ xe quay nước biến mất. Nhiều người quả quyết, năm 1997, khi thuỷ lợi Thạch Nham hoàn thành, dẫn nguồn nước tưới cho hơn 30.000 hecta lúa và hoa màu trong khu vực, bờ xe chấm dứt nhiệm vụ lịch sử. Những hình ảnh thơ mộng cuối cùng của dòng sông Trà chỉ còn lại trong kho tư liệu của nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Trinh. Những ông trùm, ông trọn cuối cùng tôi may mắn gặp được, ngấp nghé ở cõi người hiền. Bờ xe quay nước sông Trà và khúc nhạc đồng quê đã thành quá khứ…


    Bà Cửu hơn hai phần ba đời người làm nghề bán don. Ảnh: Ảnh: Nguyễn Minh Sơn


    don? Khách lần đầu tới Quảng Ngãi hay thắc mắc: don là gì? Đó là món ăn mang đậm phong vị từ loài nhuyễn thể đặc trưng dưới đáy sông Trà.
    Chúng tôi xuôi sông Trà về làng Vĩnh Thọ, thủ phủ của nghề cào don. Vĩnh Thọ thuộc xã Nghĩa Phú, cách phố cổ Thu Xà 7km, nằm dưới dãy núi Phú Thọ có danh thắng Cổ Luỹ Cô Thôn. Khoảng 8 giờ, những người cào don trong làng lục tục vác dầm ra bến. Những chiếc ghe nhỏ lần lượt xuôi dòng. Cả đoàn nón lá hối hả nối nhau sang mé sông ở Sơn Tịnh. “Mỏ don ở đây có quanh năm, nước lụt về thì ít hơn một chút.” – anh Phạm Văn Xin nói. Ghe vừa tới nơi, anh Xin lấy một điếu thuốc ra hút, xong neo ghe, nhảy ùm xuống sông bỏ cào ra. Cái nghề nặng nhọc này chỉ có đàn ông mới kham nổi. Quàng cái đai cào lên cổ, anh bắt đầu đi thụt lùi một đường chừng bốn sào ghe thì dừng lại trút cào. Nắng bắt đầu lên cao, những người khác trong làng cũng đã đến tập trung thành một bãi san sát nón lá trên sông. Thời cao điểm, mỏ don có hơn hai trăm người làm nghề hàng ngày. Chỉ riêng làng Vĩnh Thọ đã có tới gần một trăm gia đình chuyên nghề cào don. Don từ Vĩnh Thọ đi lên thành phố Quảng Ngãi, vào Nha Trang, Sài Gòn… nuôi sống gia đình, nuôi con ăn học. Một ngày “thụt lùi”, trung bình kiếm được từ 100.000 đến 150.000 đồng. Buổi trưa, những người cào don dầm mình dưới nước, cắn cơm nguội trên thuyền.
    Khi chúng tôi theo thuyền trở lại bến don làng Vĩnh Thọ, đã thấy một nhóm người đi xe hơi xuống chờ ở đây. Quán don bà Cửu nằm cách bến vài chục bước chân chỉ là một quán nghèo heo hút. Những bộ bàn ghế gỗ cũ kỹ, chiếc đực chiếc cái ám đầy khói. Nhóm khách sang trọng ngồi bệt cả trên thềm, mở rượu tây cụng ly rồi xì xụp húp. Đó là những người Quảng Ngãi rời quê vào làm ăn sinh sống ở Sài Gòn. Đôi khi, trong đời người, ta chỉ nhớ tới những món ăn quê mùa, những kỷ niệm đơn giản mà phải cất công đi tìm.
    Bà Cửu nay đã 78 tuổi, có thâm niên 56 năm làm nghề bán don ở Vĩnh Thọ. Hơn nửa thế kỷ, ngày nào bà Cửu cũng dậy từ sớm đãi don để nấu. Đầu giờ chiều, don đổ vào một đầu ui, đầu kia ủ nước don lồng vào quang gánh đi bán khắp vùng Tư Nghĩa. Bây giờ đã già, đôi vai và bàn chân không kham nổi gánh nặng đường xa, bà mới mở quán tại nhà. Chín người con của bà Cửu lớn lên nhờ cặp ui tần tảo bây giờ nên gia nên thất đàng hoàng.
    Ông Cao Hồng Cẩm, con trai đầu của bà là đại lý thu mua don lớn nhất Quảng Ngãi, tự hào: “Don ở Vĩnh Thọ màu vàng ươm, nước don vàng trong như hổ phách là thứ don ngon nhất sông Trà.”. Hai năm trước đây, nhà máy cồn Quảng Ngãi xả nước thải ra sông gây nên thảm hoạ kinh hoàng cho làng nghề don. Phải mất hai năm sau mỏ don mới phục hồi nhưng ít hẳn đi. Trong cái quán nghèo liêu xiêu nắng quái, bà Cửu cười buồn: “Tôi không biết mai này có còn don không? Ngày tết mà thiếu món này người làng ở đây buồn lắm!”. Đôi bàn tay già nua nhăn nheo của người hơn nửa thế kỷ bán don bẻ bánh tráng bỏ vào tô như một nghệ sĩ. “Tô don rất ngon!”, bà nói. Mấy đứa thanh niên tối uống rượu say bước không nổi chạy vô quán húp một tô don là đứng lên đi về tỉnh bơ…

    Khóc một dòng sông
    Trừ ba tháng mùa mưa, sông Trà đoạn chảy qua thành phố Quảng Ngãi biến thành sa mạc suốt thời gian còn lại trong năm. Buổi chiều đứng trên cầu Trà Khúc nhìn xuống sẽ thấy từng đoàn xe xúc, xe tải chở cát chạy giữa sông như một công trường. Những đứa trẻ thành phố vô tư thả diều, đá bóng và chơi trò trẻ con giữa dòng sông giãy chết.


    Làm rẫy giữa sông


    Mỏ don của làng nghề cào don Vĩnh Thọ nằm ở phía Sơn Tịnh.

    Chúng tôi đi bộ sang sông Trà Khúc ở đoạn gần khu dầu khí. Bãi cát mênh mông mọc đầy bói và mai dương. Xe khai thác cát chạy thành đường và những người dân làm rẫy phía Tịnh Hà tạo nên những lối mòn hoang vu chằng chịt. Những chú mỏ nhác lâu lâu nghe động rật bay lên. Lũ chuột cắm đầu cắm cổ chạy trối chết qua bãi cát mênh mông tìm nơi ẩn nấp. Dòng sông hẹp chỉ bằng con lạch cạn, nước không buồn chảy. Một cồn bói rộng mênh mông kéo từ cầu Trà Khúc đến cầu Trường Xuân trở thành nương rẫy của người dân huyện Sơn Tịnh.Năm 1999, sau trận lũ lịch sử cồn bói này hình thành. Ba hộ dân ở đường Hai Bà Trưng (TP Quảng Ngãi) ra đây vỡ đất làm rẫy đậu xanh, đậu phụng và dưa hấu. Bây giờ có thêm gần 30 hộ dân phía Sơn Tịnh thiếu đất canh tác cũng qua khai hoang. Ông Nguyễn Tân, một trong những chủ hộ đầu tiên mở đất nói ban đầu họ trồng bói xuống mép bãi cát để tích tụ phù sa. Chỉ sau vài năm, cồn đất bồi thêm rất nhiều. Chim mỏ nhác, sơn ca, cu đất và chuột đồng sinh sôi vô kể. Chuột đồng to bằng con cheo phá hoại hoa màu kinh khủng. Những người làm rẫy diệt chuột bằng cách đem mèo ra thả rông nhưng chuột không thuyên giảm. Những chiếc lều canh rẫy dựng tạm đến tháng 8 (âm lịch) đem chôn dưới cát đến tháng 11 đào lên. “Không có lều không cách chi ở được. Nhất là tháng chạp, trên cồn cát bay mù mịt không chịu thấu!”, ông Tân nói. Ông Tân, quê ở Tịnh Khê, lên thành phố làm nghề thồ mía. Nhờ phát hiện ra mảnh rẫy ở giữa sông Trà, cuộc sống của gia đình ông giờ đây ổn định hơn. Mỗi năm một vụ đậu phụng, một vụ đậu xanh đủ nuôi sống con cái.
    Buổi chiều ở giữa sông, gió đông vời vợi, những chòi rẫy bắt đầu len lỏi khói bếp. Không thấy mặt người sau những rặng bói bờ rào nhưng tiếng cười nói lao xao. Người xưa nói, thương hải tang điền chính là đây, ngay ở dòng sông Trà Khúc này. Ông Tân hẹn chúng tôi một đêm nào đó, có dịp ghé ra chòi rẫy ông ở lại săn chuột đồng về uống rượu. Như thể tự hào về “vùng đất mới”, ông tranh thủ quảng cáo thêm: “Chuột đồng ở đây ngon số một. Con chuột to bằng bắp chân, lông vàng ươm, thịt nướng lên cũng vàng ươm thơm phức!”

    Còn đâu cá bống


    Ông Chín Bãi, ngư dân chuyên bắt cá bống sông Trà.
    Chưa có cơ hội ăn thịt chuột đồng ở giữa sông Trà, chúng tôi đi tìm một thứ đặc sản lâu đời khác làm nên phong vị dòng sông. Xóm Ghe nằm ngay mé dưới cầu Trà Khúc, ẩn mình giữa những rặng tre. Hơn 50 hộ dân sống ở xóm nhỏ này đã có thâm niên ít nhất ba đời làm nghề bắt cá bống sông Trà. Buổi sáng mùa hè, cá bống bơi theo những lạch nước cạn đẻ từ 9 giờ sáng đến 11 giờ trưa. Nắm được quy luật của những cặp vợ chồng bống, người dân xóm Ghe bên sông Trà sáng chế ra một loại bẫy để bắt cá hết sức độc đáo. Ống trúm được làm bằng một đốt cây tre, hai đầu trống trơn gắn ngang trên một cọc nhọn cắm dưới lòng sông cách đáy chừng 30cm. Những cặp vợ chồng bống trước khi sinh nở tìm nơi tình tự gặp những ống trúm liền chui vào ẩn náu. Nửa buổi sáng, ngư dân chèo ghe ra sông, nhẹ nhàng lặn xuống dùng hai tay bịt hai đầu ống để bắt nguyên một cặp cá nhỏ xíu.
    Ông Chín Bãi, người có thâm niên ba đời bắt cá bống sông Trà than thở: “Ngày xưa, mỗi buổi sáng bịt 300 – 400 ống, bắt được cả năm, sáu ký cá. Bây giờ thì hết rồi! Nhất là cái hồi nhà máy cồn xả nước thải, nhà máy đường để tràn dầu… Trên mặt nước vịt chết, dưới đáy sông, hến, don, cá, tôm cũng tiêu đời! Cá bống sông Trà nhỏ, dai, ngọt và thơm, đầu rất nhỏ. Nhất là con cá bống dồ và cá thài bai nay đã trở thành loại hiếm”. Hiện nay, một ký cá bống sông Trà người dân xóm câu bán từ 200.000 – 300.000 đồng. Cả xóm Ghe, một buổi sáng làm được một, hai ký là cùng. Thương lái từ bên thành phố đặt sẵn chạy sang tận nơi thu hàng. Cá bống sông Trà kho rim làm quà tặng nhan nhản khắp nơi, ông Chín Bãi cười nói đó là bống hồ tôm ở Quảng Nam chuyển vào, cái đầu to tổ bố.
    Y lời hẹn, buổi sáng tinh mơ chúng tôi qua xóm Ghe lên thuyền ông Chín Bãi đi bịt trúm. Lãnh địa cá bống của ông nằm mé nam sông từ cầu Trà Khúc mới tới cầu cũ được đánh dấu bằng những dải nilông trắng phất phơ. Từ trên cầu ngó xuống trông như cờ lau trận ngày xưa. Lão ngư dày dạn kiên trì lặn xuống trồi lên bịt trên 450 ống trúm cho tới khi mặt trời đứng bóng chói chang. Thành quả một ngày nằm ở dưới đáy giỏ tổng cộng 14 cặp cá bống nhỉnh hơn đầu que tăm. Chiếc giỏ tre nhẹ tênh đeo bên hông theo lão ngư đi thất thểu vào xóm băng qua bãi cát nóng. Cứ cách một quãng ông dừng lại quăng tấm bìa cáctông lên cát để đứng cho đỡ nóng chân rồi đi tiếp…
    bài và ảnh: Nguyễn Minh Sơn



    Đập dâng Trà Khúc có cứu vãn được dòng sông?
    Ngày 25.9.2010, Quảng Ngãi đã khởi công xây dựng đập dâng hạ lưu sông Trà Khúc với mức vốn đầu tư trên 225 tỉ đồng. Đập dài 1.184m, được xây dựng phía hạ lưu, có nhiệm vụ ngăn mặn, hạn chế ô nhiễm môi trường, phục vụ giao thông đường thuỷ và tạo cảnh quan phục vụ du lịch… Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn làm chủ đầu tư. Mục đích tiền khả thi của dự án này tạo cảnh quan môi trường nhằm “giải cứu” sông Trà đoạn chảy ngang qua thành phố Quảng Ngãi bị sa mạc hoá. Tuy nhiên, các nhà khoa học và dư luận phản đối vì một dự án như vậy khó đem lại hiệu quả kinh tế, gây lãng phí. Dự án được chia làm hai giai đoạn, dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2012, tuy nhiên, tiến độ của dự án rất chậm.














    Tim là nhạc, Tuổi là thơ, Đời là bạn, Tình là ca

  2. #2

    Bờ xe nước Sông Trà (27/05/2010)

    Trước năm 1990, du khách xuyên Việt trên đường số 1, ngang qua cầu Trà Khúc tỉnh Quảng Ngãi, nhìn về hướng tây sẽ thấy từng khối đen tròn nằm dọc theo bờ bắc sông Trà. “Khối đen tròn” đó chính là bờ xe nước. Đã hai thập kỷ vắng bóng trên sông Trà nhưng bờ xe nước mãi mãi không bao giờ phai mờ trong ký ức của những người Quảng Ngãi đã từng có thời sống với nó.

    Một lão nông quê ở xóm Vạn, thôn Thọ Lộc, xã Tịnh Hà, huyện Sơn Tịnh đã từng gắn bó hơn nửa thế kỷ với nghề “thợ xe”, giờ bất động như ngồi thiền trên chiếc chõng tre cũ kỹ. Giọng ông cụ chợt sôi nổi hẳn khi nghe gợi chuyện bờ xe nước sông Trà. Ông bảo đời ông nhiều phen chìm nổi với nghề thợ xe nhưng chưa bao giờ ông rời bỏ nó. Ông chỉ “chịu thua” khi công trình đại thủy nông Thạch

    Nham ngăn dòng sông Trà hoàn thành vào năm 1990.


    Bờ xe nước sông Trà (ảnh chụp năm 1972) của Nguyễn Ngọc Trinh


    Trước khi có công trình thủy lợi tưới cho trên ba vạn hecta này, dân Quảng Ngãi hầu hết sống nhờ vào nguồn nước của sông Trà thông qua các bờ xe nước. Sông Trà có chiều dài 130 km nhưng chỉ có 30 km cuối cùng trước khi đổ ra biển, mới có thể làm được bờ xe. Ở miền núi, do đặc điểm có nhiều ghềnh đá, bất lợi cho việc làm bờ xe, vả lại đất canh tác cây lúa nước không nhiều nên không thể triển khai bờ xe được vì thua lỗ.

    Khi những trận lũ dữ dằn ở miền Trung đã vãn, những thợ xe nước theo thuyền ngược sông Trà lên thượng nguồn để mua tre và các loại dây rừng- hai loại vật liệu chính để làm bờ xe. Nếu làm lần đầu thì mỗi bờ xe nước phải tốn ít nhất là 4.000 cây tre và cũng từng ấy dây lạt để cột, buộc. Một số ít gỗ dương để làm trục quay và các dầm, thanh. Nếu tính theo thời giá hiện nay, mỗi bờ xe nước phải tốn khoảng vài trăm triệu đồng.

    Cùng với việc ngược sông Trà của các thợ xe, người đứng đầu trong ban “trưng cử” (một dạng của cổ đông ngày nay) lo chạy thủ tục giấy tờ xin hương lý trong làng cho phép dựng bờ xe. Một thành viên khác trong ban “trưng cử” lo liên hệ với các chủ điền để ký “hợp đồng” về việc tưới nước cho vụ lúa tới.

    Mỗi bờ xe nước có hai ban: Ban thợ xe gồm 7 người, người đứng đầu được gọi là “trùm”. Anh này vừa giỏi kỹ thuật, vừa quán xuyến mọi việc từ trong xe đến ngoài đồng. Hai anh “trọn” (tức nhân viên trong ban) có nhiệm vụ trông coi xe và sửa chữa những chỗ hỏng hóc. Hai anh dẫn thủy lo việc điều tiết nước ngoài đồng. Hai anh còn lại được gọi là “rẽ”, chuyên lo việc vặt cho hai “trọn”.

    Ban thứ hai được mang tên “trưng cử”. Ban này không quy định số người. Những người giàu có như ông Tú Thao ở Tịnh Sơn, một mình bỏ vốn ra làm riêng một bờ xe nước.

    Vì vốn lớn nên thường thì mỗi bờ xe có từ 8 đến 16 “cổ đông”. Nhiệm vụ của ban này là bỏ tiền ra mua nguyên liệu, cấp lương thực cho số thợ xe để thi công. Tỷ lệ ăn chia sau vụ mùa là 6/4. Thợ xe (không có trong ban “trưng cử”) được 6 phần còn “cổ đông” được 4 phần.

    Làm bờ xe nước không khó, cái khó là ở chỗ chọn vị trí và làm bờ cừ. Mỗi bờ xe từ 9 đến 12 bánh nước, mỗi bánh nước trông như chiếc vành xe đạp. Chung quanh vành, người ta buộc các ống tre, được bịt một đầu, đặt nghiêng 45 độ so với trục. Làm sao đó để khi bánh xe tiếp cận với mặt nước thì nước được đong đầy các ống. Lực nước sẽ đẩy các ống này lên đỉnh, ống nghiêng và trút nước ra máng, dẫn về đồng.

    Cái độc đáo của bờ xe nước là không tốn nhiên liệu mà vẫn đưa được nước từ sông ra ruộng. Người thợ xe buộc các ống nước vào bánh sao cho đảm bảo kỹ thuật mới có thể “múc” được nước lên.

    vùng núi các tỉnh phía Bắc cũng có bờ xe nước, song chỉ có một bánh, riêng ở sông Trà, nhiều gấp 10-12 lần. Mỗi bánh xe có đường kính từ 8 đến 10 mét và mang trên mình nó vài trăm ống nước. Thế nhưng, không một bánh nào trục trặc mà cùng quay đều suốt trong những tháng nắng hạn.


    Bánh xe quay nhanh hay chậm, ngoài việc chọn vị trí chỗ nước sâu, còn phụ thuộc vào việc làm bờ cừ. Các thợ xe đóng cọc theo hình chữ V. Phên tre và các loại rác được kè theo cừ. Dòng nước được dẫn theo hình chữ V này xuống đúng vị trí đặt bánh xe. Chữ V càng hẹp thì lưu tốc càng lớn. Nhiều bánh xe “mạnh” đến mức có thể “mang” 5-7 đứa trẻ con lên tận đỉnh như đu quay ngày nay!

    Có lẽ trước khi con người phát minh ra điện để làm đu quay, cầu trượt trong các công viên thì bờ xe nước là loại đu quay không mất tiền, xuất hiện sớm nhất đối với trẻ con dọc sông Trà! Ai đã từng sống bên dòng sông này hẳn không thể nào quên mỗi buổi chiều về, khi ánh ngày sắp tắt, mỗi bờ xe nước trên sông Trà là một vòm cung của bảy sắc cầu vồng rực rỡ. Cứ đều đặn mỗi chiều, thiên nhiên lại ban tặng cho cư dân sông Trà những sắc màu không quên ấy.

    Sắc màu ấy sẽ lưu giữ mãi trong ký ức của những người Quảng Ngãi tha hương. Song có mấy ai còn nhớ 54 bờ xe nước dọc sông Trà ngày ấy đã từng tưới tắm cho hàng vạn hecta đất, cưu mang hàng chục vạn người.

    Bây giờ công trình thủy lợi Thạch Nham đã khai tử bờ xe nước trên sông Trà. Tỉnh Quảng Ngãi đang có dự án đắp đập ngăn sông và phục dựng lại bờ xe nước. Chúng ta hy vọng không bao lâu nữa, thế hệ trẻ hôm nay lại tái gặp biểu tượng xe nước của cha ông một thời, cứ ngỡ là sẽ vĩnh viễn bị chôn vùi trong quên lãng.

    Nhớ bờ xe nước


    Đêm bên bờ sông quê
    Ký ức xưa vọng về
    Lòng nao nao nỗi nhớ
    Tiếng bờ xe rì rào.

    Nhớ những đêm trăng thanh
    Dưới hàng tre soi bóng
    Làn sương rơi rất mỏng
    Dòng nước lặng lờ trôi.

    Dòng sông Trà quê tôi
    Mái chèo khuya thấp thoáng
    Bờ xe quay lấp loáng
    Bóng trăng ngà lung linh.

    Bờ xe nước trên sông
    Là lời ru tha thiết
    Là hương lúa thơm nồng
    Là tình quê mênh mông.



    LÊ VĂN THUẬN (Quảng Ngãi)





    Tim là nhạc, Tuổi là thơ, Đời là bạn, Tình là ca

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
About us
Xin đón chào bạn đến với trang Web của xứ Quảng, trang web của toàn thể những người con của xứ Quảng lưu lạc trên khắp những nẻo đường năm châu...

Mọi liên lạc xin gởi về => đây